Tích Đồ Tể Cunda
Cundasūkarikavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 15 Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 15)
“Idha socati pecca socati,
Pāpakāri ubhayattha socati;
So socati so vihaññati, disvā
Kammakiliṭṭhamattano”
“Sống khổ, chết cũng khổ,
Kẻ ác hai đường khổ,
Đã khổ càng thêm sầu,
Thấy nghiệp mình lem ố”
Kệ Pháp Cú 15 nầy, Đức Tôn Sư thuyết ra khi Ngài ngự tại Tịnh xá Veḷuvana, đề cập đến ông đồ tể giết heo tên là Cunda.
Theo như khẩu truyền, ông đồ tể này đã từng sát hạt dòng heo suốt cả năm mươi lăm năm trường, để lấy thịt, lớp ăn, lớp bán mà nuôi mạng sống.
Gặp năm mất mùa đói kém, ông ta lấy xe bò chở lúa về miền đồng quê, dạo qua các làng để mua heo con, mỗi con trả giá một hoặc hai lon lúa là nhiều, ông ta trở về nhà với một xe heo đầy, thả heo vào chuồng lộ thiên phía sau nhà, nguyên là một miếng đất trống mà ông đã rào kín bốn mặt, ông cho heo ăn đủ thứ rau cỏ và cả đồ dơ, nuôi cho tới lớn.
Muốn làm thịt con heo nào, ông bắt trói thúc ké nó vào gốc cột, lấy cây đòn tay vuông đập khắp mình nó cho thịt mềm ra và nở phù ra cho nặng cân.
Xong rồi ông cạy răng, banh mỏ heo ra, nhét một khúc cây vào cáng miệng, không cho nó ngậm kín lại, đoạn ông lấy nước ấm đang sôi chế vào cổ họng heo.
Nước nóng chảy tuột vào bụng heo làm loãng phẩn trong ruột nó và lôi cuốn ra ngoài hậu môn, hễ ruột heo còn chút ít phẩn dơ thì nước chảy ra còn đục, bao giờ ruột tẩy thật sạch, nước chảy ra thật trong thì mới thôi.
Còn nước sôi trong ấm, ông chế luôn lên lưng heo, cạo cho vuột lớp da bên ngoài, ông lấy đuốc đốt râu heo, rồi dùng gươm bén chặt đầu nó ra, huyết heo chảy xuống, ông hứng vào chậu để dành rưới lên thịt khi quay heo.
Thịt chín rồi, ông ta ngồi vào bàn cùng ăn với vợ con, còn dư bao nhiêu ông để bán cho khách hàng.
Ông Cunda đã sanh sống bằng nghề đồ tể, tạo nghiệp sát sanh như vậy trong hơn năm mươi lăm năm qua.
Mặc dầu Đức Như Lai ngự trong ngôi chùa gần nhà, ông chớ hề nhìn ra ngày nào mà bước chân đến đó dâng cúng một nắm hoa, để bát chừng một vá cơm, hoặc làm chút ít công quả chi để bòn phước về sau.
Một hôm, thình lình ông phát bịnh nặng, tuy chưa bỏ xác, ông cũng bị ngọn lửa A tỳ thiêu đốt ngày đêm. Hỏa lực của địa ngục Vô gián nầy cũng có thể làm nổ mắt người nhìn, mặc dù đứng cách xa đến hằng trăm do tuần… Do đó có câu kệ:
“Samantā yojanasataṃ;
Pharitvā tiṭṭhati sabhadāti”
“Nóng xa hàng trăm do tuần
Lửa A tỳ cháy tưng bừng ngày đêm”
(Để mô tả sức nóng dữ dội của lửa đại địa ngục hơn thứ lửa thường đến mức độ nào. Đại đức Nāgāsena đã từng đưa ra sự so sánh sau đây, để đáp lại câu hỏi của vua Milanda: Tâu đại vương! Nếu có một tảng đá to bằng cái nhà, rớt vào trung tâm hỏa ngục, thì chỉ trong giây lát là nó sẽ cháy tan ra tro bụi ngay. Vậy mà, do bởi nghiệp quả nặng nề, những kẻ làm ác đọa sanh chẳng khác nào bào thai ở trong bụng mẹ vậy).
Trong lúc bị thiêu đốt nóng nảy như thế, ông Cunda có những hành động kỳ dị khác thường, như tiếng heo la rồi ông xuống gối, bò hai chân ra phía trước nhà, rồi bò vô phía sau nhà, gia nhân quyến thuộc xúm nhau kềm và bụm miệng ông lại cũng không ngăn được ác nghiệp tới thời trả quả. Thế rồi họ cũng buông thả ông ta ra để mặc ông bò lê bò la lung tung trong nhà, la hét luôn mồm như heo bị cắt cổ vậy.
Ở xung quanh đó, cách xa độ bảy căn nhà, không ai có thể ngủ yên giấc với ông ta, cho đến người trong nhà ông cũng kinh hãi. Vì thấy ông là hiện thân của Tử thần nên không dám ở chung để săn sóc gìn giữ, họ tấn cánh cửa lại, nhốt một mình ông ta trong nhà, còn tất cả đều ra ngoài, luân phiên canh gác chung quanh nhà, để phòng ngừa ông có thể thoát ra.
Ông Cunda vẫn bò lê lết trong nhà, bị lửa địa ngục thiêu đốt nóng nảy, nên la hét như heo suốt trong bảy ngày đêm như thế… đến ngày thứ tám ông mới tắt hơi bỏ xác, đọa sanh vào địa ngục Vô gián.
Địa ngục Vô gián nầy, ta nên mô tả theo như trong quyển Thiên Sứ Kinh (Devadūtasuttanta).
Vài Tỳ khưu đi ngang qua nhà ông Cunda, nghe tiếng kêu la tưởng lầm là tiếng của heo kêu, nên về đến chùa vào ngồi bên Đức Phật mà bạch rằng:
- Bạch Ngài Lão Cunda đóng bít cửa nhà lại để giết heo, kể hôm nay là bảy ngày rồi, chắc họ sắp làm tiệc lớn ăn mừng việc chi đấy, bạch Ngài! Thử nghĩ coi, ông ta đã sát hại biết bao nhiêu heo rồi, mà chẳng chịu nghỉ tay, thật quả vậy, ông ta không còn một chút tâm từ, tâm bi nào cả, thiết tưởng trên đời nầy không có một chúng sanh nào mà ác độc, hung bạo đến thế bao giờ.
Đức Bổn Sư giải rằng:
- Nầy các Tỳ khưu! Lão Cunda không có giết heo
trong bảy ngày nay đâu. Vì nghiệp quả (Kammavipāka) đã chín mùi, nên ông bị lửa địa ngục A tỳ nổi lên thiêu đốt ngay còn sống, bị thọ khổ hình, ông ta nóng nảy la hét như heo và bò lê lết trong nhà suốt bảy ngày qua. Hôm nay mới bỏ xác, đọa sanh vào địa ngục A tỳ.
Chư Tăng bèn bạch rằng: “Bạch Ngài! Lão Cunda lúc sống đã chịu quả khổ như thế mà chết rồi còn phải đọa sanh vào khổ cảnh ác đạo nữa sao?”.
Đức Bổn Sư đáp:
- Đúng vậy, nầy các Tỳ khưu! Kẻ nào dễ duôi
(Pamatto), mặc dầu còn tại gia hay đã xuất gia cũng đều chịu đau khổ trong hai cảnh giới như thế cả.
Rồi Ngài đọc tiếp bài kệ sau đây:
“Idha socati pecca socati,
Pāpakāri ubhayattha socati;
So socati so vihaññati,
Disvā kammakiliṭṭhamattano”
“Những tay bạo ác hung đồ,
Dù cho thác xuống dưới mồ chưa yên.
Kiếp nầy đau khổ triền miên,
Kiếp sau vương vấn hận phiền không thôi.
Thấy mình ác nghiệp gieo rồi,
Cả trong hai kiếp ngậm ngùi ăn năn”.
CHÚ GIẢI:
Chữ Pāpakārī trong bài kệ trên đây chỉ kẻ tạo nghiệp ác bằng nhiều đường lối, đến khi lâm chung, hồi tưởng lại lúc mình sanh tiền, thấy rằng: “Quả thật ta chưa từng làm việc lành nào cả, ta chỉ có làm việc ác không mà thôi”. Thế rồi, kẻ ấy ăn năn hối hận, âu sầu khổ não.
Đó là nghiệp khổ trong đời nầy (idha).
Còn quả khổ kế tiếp sau là: Sau khi chết rồi, kẻ ác tái sanh vào khổ cảnh vào cảnh giới khác cũng còn phải chịu ảnh hưởng của sự buồn rầu, sầu khổ trong hiện kiếp ấy nữa.
Vì là kẻ ác phải chịu đau khổ trong hai cảnh giới như thế, nên lão Cunda đồ tể, đã khổ trong khi còn sống mà còn khổ thêm sau khi thác rồi nữa.
Disvā kammakiliṭṭhamattano (thấy nghiệp mình lem ố): Sau khi nhìn thấy tự mình đã tạo nghiệp xấu xa, nhơ nhớp thì kẻ ác sanh tâm buồn rầu, càng than van rên rĩ, lại càng ăn năn hối tiếc.
Sau bài kệ, có nhiều Tỳ khưu đắc Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả. Đại chúng thính pháp cũng đều được hưởng ít nhiều lợi ích.
Giết lợn nuôi mình với vợ con,
Năm lăm năm chẵn, nghiệp vuông tròn!
Một cơn nóng sảng mơ thành thú,
Bảy bữa rên la tưởng bị đòn!
Ngọn lửa A Tỳ cao ngất núi,
Tội ông đồ tể lớn tày non!
Ác lai ác báo mau cùng chậm,
Sống chết hai nơi khổ vẫn còn.
DỨT TÍCH ĐỒ TỂ CUNDA
Cundasūkarikavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Idha socetīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā veḷuvane viharanto cundasūkarikaṃ nāma purisaṃ ārabbha kathesi.
So kira pañcapaṇṇāsa vassāni sūkare vadhitvā khādanto ca vikkiṇanto ca jīvikaṃ kappesi. Chātakāle sakaṭena vīhiṃ ādāya janapadaṃ gantvā ekanāḷidvenāḷimattena gāmasūkarapotake kiṇitvā sakaṭaṃ pūretvā āgantvā pacchānivesane vajaṃ viya ekaṃ ṭhānaṃ parikkhipitvā tattheva tesaṃ nivāpaṃ ropetvā, tesu nānāgacche ca sarīramalañca khāditvā vaḍḍhitesu yaṃ yaṃ māretukāmo hoti, taṃ taṃ āḷāne niccalaṃ bandhitvā sarīramaṃsassa uddhumāyitvā bahalabhāvatthaṃ caturassamuggarena pothetvā, “bahalamaṃso jāto”ti ñatvā mukhaṃ vivaritvā antare daṇḍakaṃ datvā lohathāliyā pakkuthitaṃ uṇhodakaṃ mukhe āsiñcati. Taṃ kucchiṃ pavisitvā pakkuthitaṃ karīsaṃ ādāya adhobhāgena nikkhamati, yāva thokampi karīsaṃ atthi, tāva āvilaṃ hutvā nikkhamati, suddhe udare acchaṃ anāvilaṃ hutvā nikkhamati. Athassa avasesaṃ udakaṃ piṭṭhiyaṃ āsiñcati. Taṃ kāḷacammaṃ uppāṭetvā gacchati. Tato tiṇukkāya lomāni jhāpetvā tikhiṇena asinā sīsaṃ chindati. Paggharaṇataṃ lohitaṃ bhājanena paṭiggahetvā maṃsaṃ lohitena madditvā pacitvā puttadāramajjhe nisinno khāditvā sesaṃ vikkiṇāti. Tassa imināva niyāmena jīvikaṃ kappentassa pañcapaṇṇāsa vassāni atikkantāni. Tathāgate dhuravihāre vasante ekadivasampi pupphamuṭṭhimattena pūjā vā kaṭacchumattaṃ bhikkhadānaṃ vā aññaṃ vā kiñci puññaṃ nāma nāhosi. Athassa sarīre rogo uppajji, jīvantasseva avīcimahānirayasantāpo upaṭṭhahi. Avīcisantāpo nāma yojanasate ṭhatvā olokentassa akkhīnaṃ bhijjanasamattho pariḷāho hoti. Vuttampi cetaṃ –
“Tassa ayomayā bhūmi, jalitā tejasāyutā;
Samantā yojanasataṃ, pharitvā tiṭṭhati sabbadā”ti. (ma. ni. 3.267; a. ni. 3.36);
Nāgasenattherena panassa pākatikaggisantāpato adhimattatāya ayaṃ upamā vuttā – “yathā, mahārāja, kūṭāgāramatto pāsāṇopi nerayikaggimhi pakkhitto khaṇena vilayaṃ gacchati, nibbattasattā panettha kammabalena mātukucchigatā viya na vilīyantī”ti (mi. pa. 2.4.6). Tassa tasmiṃ santāpe upaṭṭhite kammasarikkhako ākāro uppajji. Gehamajjheyeva sūkararavaṃ ravitvā jaṇṇukehi vicaranto puratthimavatthumpi pacchimavatthumpi gacchati. Athassa gehamānusakā taṃ daḷhaṃ gahetvā mukhaṃ pidahanti. Kammavipāko nāma na sakkā kenaci paṭibāhituṃ. So viravantova ito cito ca vicarati. Samantā sattasu gharesu manussā niddaṃ na labhanti. Maraṇabhayena tajjitassa pana bahinikkhamanaṃ nivāretuṃ asakkonto sabbo gehajano yathā antoṭhito bahi vicarituṃ na sakkoti, tathā gehadvārāni thaketvā bahigehaṃ parivāretvā rakkhanto acchati. Itaro antogeheyeva nirayasantāpena viravanto ito cito ca vicarati. Evaṃ sattadivasāni vicaritvā aṭṭhame divase kālaṃ katvā avīcimahāniraye nibbatti. Avīcimahānirayo devadūtasuttena (ma. ni. 3.261 ādayo; a. ni. 3.36) vaṇṇetabboti.
Bhikkhū tassa gharadvārena gacchantā taṃ saddaṃ sutvā, “sūkarasaddo”ti saññino hutvā vihāraṃ gantvā satthu santike nisinnā evamāhaṃsu – “bhante, cundasūkaritassa gehadvāraṃ pidahitvā sūkarānaṃ māriyamānānaṃ ajja sattamo divaso, gehe kāci maṅgalakiriyā bhavissati maññe. Ettake nāma, bhante, sūkare mārentassa ekampi mettacittaṃ vā kāruññaṃ vā natthi, na vata no evarūpo kakkhaḷo pharuso satto diṭṭhapubbo”ti. Satthā – “na, bhikkhave, so ime sattadivase sūkare māreti, kammasarikkhakaṃ panassa vipākaṃ udapādi, jīvantasseva avīcimahānirayasantāpo upaṭṭhāsi. So tena santāpena satta divasāni sūkararavaṃ ravanto antonivesane vicaritvā ajja kālaṃ katvā avīcimhi nibbatto”ti vatvā, “bhante, idha loke evaṃ socitvā puna gantvā socanaṭṭhāneyeva nibbatto”ti vutte, “āma, bhikkhave, pamattā nāma gahaṭṭhā vā hontu pabbajitā vā, ubhayattha socantiyevā”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Idha socati pecca socati,
Pāpakārī ubhayattha socati;
So socati so vihaññati;
Disvā kammakiliṭṭhamattano”ti.
Tattha pāpakārīti nānappakārassa pāpakammassa kārako puggalo “akataṃ vata me kalyāṇaṃ, kataṃ pāpa”nti ekaṃseneva maraṇasamaye idha socati, idamassa kammasocanaṃ. Vipākaṃ anubhavanto pana pecca socati. Idamassa paraloke vipākasocanaṃ. Evaṃ so ubhayattha socatiyeva. Teneva kāraṇena jīvamānoyeva so cundasūkarikopi socati. Disvā kammakiliṭṭhanti attano kiliṭṭhakammaṃ passitvā nānappakārakaṃ vilapanto vihaññatīti.
Gāthāpariyosāne bahū sotāpannādayo ahesuṃ. Mahājanassa sātthikā dhammadesanā jātāti.
Cundasūkarikavatthu dasamaṃ.
I. 10. Cunda the Pork-Butcher
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
15. Here he suffers; after death he suffers: the evildoer suffers in both places.
He suffers, he is afflicted, seeing the impurity of his own past deeds.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Veḷuvana with reference to Cunda the pork-butcher.
The story goes that for fifty-five years Cunda made his living by killing pigs which he then either used for food or marketed. In time of famine he would go to the country with his cart filled with rice, and return with it filled with shotes bought in villages for a mere pint-pot or two of rice apiece. Back of his house he had a plot of ground fenced off as a sort of pigsty, and there he kept his pigs, feeding them all kinds of shrubs and excrement.
Whenever he wanted to kill a pig, he would fasten the pig securely to a post and pound him with a square club to make his flesh swell plump and tender. Then, forcing open the pig’s jaws and inserting a little wedge in his mouth, he would pour down his throat boiling hot water from a copper boiler. The hot water would penetrate the pig’s belly, loosening the excrement, and would pass out through the anus, carrying boiling hot excrement with it. So long as there was even a little excrement left in the pig’s belly, the water would come out stained and turbid; but as soon as the pig’s belly was clean, the water would come out pure and clear.
The rest of the water he would pour over the pig’s back, and the water would peel off the black skin as it ran off. Then he would singe off the bristles with a torch. Finally, he would cut off the pig’s head with a sharp sword. As the blood gushed forth, he would catch it in a dish; then he would roast the pig, basting it with the blood he had caught. Then he would sit down with his son and his wife and eat the pig. Whatever meat was left over, he would sell. In this way he made a living for fifty-five years. Although the Teacher was in residence at a neighboring monastery, not on a single day did Cunda do him honor by offering him so much as a handful of flowers or a spoonful of rice, nor did he do a single work of merit besides.
One day he was attacked by a malady, and while he yet remained alive, the fire of the Great Hell of Avīci uprose before him. (The fire of Avīci is a consuming torment able to destroy the eyes of one who stands a hundred leagues away and looks at it. Indeed, it has been described in this wise, “For ever and ever it shoots forth its flames continually a hundred leagues in all directions.” Moreover, the Elder Nāgasena employed the following simile to show how much more intense is its heat than that of ordinary fire, “Great king, reflect that a rock even as big as a pagoda goes to destruction in the fire of Hell in but an instant. However, living beings who are reborn there, through the effect of their past deeds, suffer not destruction, but are as though they reposed in their mothers’ wombs.”)
When the torment of the Great Hell of Avīci uprose before the pork-butcher Cunda, his mode of behavior was altered in correspondence with his past deeds. Even as he remained within his house, he began to grunt like a pig and to crawl about on his hands and knees, first to the front of the house and then to the rear. The men of his household overpowered him and gagged him. But in spite of all they did (since it is impossible for anyone to prevent a man’s past deeds from bearing fruit), he kept crawling back and forth, grunting like a pig continually.
Not a person was able to sleep in the seven houses round about. The members of his own household, terrified by the fear of death, unable otherwise to prevent him from going out, barricaded the doors of the house that he might not be able to go out, but might be confined within. Having so done, they surrounded the house and stood on guard. Back and forth for seven days crawled Cunda within his house, suffering the torment of Hell, grunting and squealing like a pig. Having thus crawled about for a period of seven days, he died on the seventh day and was reborn in the Great Hell of Avīci. (The Great Hell of Avīci is to be described in the terms of the Devaduta Suttanta. )
Some monks who passed the door of his house heard the noise, and thinking it was merely the noise of the grunting and squealing of pigs, went on to the monastery, seated themselves in the presence of the Teacher, and said to him, “Reverend Sir, for seven days the door of Cunda the pork-butcher’s house has been closed, and for seven days the killing of pigs has gone on; doubtless he intends to give some entertainment. Think, Reverend Sir, how many pigs he has killed! Evidently he has not a single thought of loving-kindness and lacks utterly the sentiment of compassion. So cruel and savage a being has never been known before.”
Said the Teacher, “Monks, he has not been killing pigs these seven days. Retribution in harmony with his past deeds has overtaken him. Even while he yet remained alive, the torment of the Great Hell of Avīci uprose before him. By reason of this torment he crawled hither and thither in his house for seven days, grunting and squealing like a pig. To-day he died, and was reborn in the Avīci hell.” When the Teacher had thus spoken, the monks said, “Reverend Sir, having suffered thus here in this world, he went again to a place of suffering and was there reborn.” “Yes, monks,” replied the Teacher. “He that is heedless, be he layman or monk, suffers in both places equally.” So saying, he pronounced the following Stanza,
15. Here he suffers; after death he suffers: the evildoer suffers in both places.
He suffers, he is afflicted, seeing the impurity of his own past deeds.
- Text: N i. 125-129.
- Ed. note: old English, meaning piglets recently weaned.
- Aṅguttara, iii. 35: i. 142.
- Milindapañha, 677-8, 21-23.
- Majjhima, 130: iii. 178-187; cf. Aṅguttara, i. 138-142 (translated by Warren, Buddhism in Translations, pp. 255-259).
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 1, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.