Chú giải Pháp Cú · Kệ 16 · Dhp 16

Tích Thiện Nam Sùng Đạo Dhammika

Dhammikaupāsakavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 16 Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 16)

“Idha modati pecca modati,

“Sống vui thác cũng vui,

Katapuñño ubhayattha modati; Người thiện hai đời vui, So modati so pamodati, disvā Đã vui càng hoan hỷ,

Kammavisuddhimattano”

Thấy nghiệp mình sạch
rồi”

Kệ Pháp Cú (16), Đức Phật thuyết ra khi Ngài ngự tại Jetavana (Kỳ Viên), đề cập đến ông thiện sự nam sùng đạo Dhammika.

Tương truyền rằng: Thuở ấy, tại thành Sāvatthī (Xá Vệ), có đến năm trăm ông thiện nam, toàn là những nhà hâm mộ tôn sùng Phật Pháp, mỗi ông sùng đạo nầy quy tụ được năm trăm cư sĩ trong mỗi nhóm của mình.

Vị thủ lãnh của tất cả các nhóm cư sĩ có được mười bốn người con, bảy trai và bảy gái. Mỗi người con ông đều rất trong sạch trong sự hộ độ Tăng, thường xuyên để bát bằng cách rút thăm, để dâng cháo, cơm vật thực đến Tăng (Salākabhatta), để bát một ngày nào trong mỗi kỳ nửa tháng (pakkhikabhattaṃ), làm lễ Trai Tăng đang nhập hạ tại chùa (vassavāsikaṃ).

Ông Dhammika với vợ và mười bốn người con mà ông mệnh danh là đoàn hậu sanh của ông, hiệp nhau thành mười sáu người thiện tín đắc lực, thay phiên nhau chăm lo cúng dường thực phẩm đến Tăng.

Ông đứng ra làm gương mẫu giới đức cho cả gia đình ông và tất cả thiện tín và ông hoan hỷ thỏa thích trong sự cúng dường Tăng Bảo luôn luôn như vậy.

Một thời gian sau, ông Dhammika nhuốm bịnh và sức lực suy giảm rất nhiều.

Biết mình kiệt quệ, ông muốn được nghe kinh, nên bảo người nhà đến đảnh lễ Đức Thế Tôn và xin cho tám hoặc mười sáu vị Tỳ khưu rành rẽ về kinh tụng.

Đức Bổn Sư ra lịnh cho các Tỳ khưu đến nhà ông.

Chư Tăng đến nơi, ngồi lên những chỗ đã dọn sẵn hai bên giường bịnh của ông.

- Bạch Đại đức Tăng! – Ông cố gắng nói, – vì con yếu quá không thể đảnh lễ chư Tăng được, xin các Ngài từ bi hoan hỷ tụng bố thí cho con một bài kinh.

Chư Tăng hỏi: “Ông thiện nam muốn nghe kinh gì?”.

- Bạch! Xin các Ngài tụng Niệm Xứ Kinh (Satipaṭṭhāna sutta).

Nghe vậy chư Tăng bắt đầu tụng:

“Ekayāno ayaṃ, bhikkhave, maggo sattānaṃ visuddhiyāti…”.

“Chỉ có con đường nầy, các Tỳ khưu! Là lối đi duy nhất, dắt dẫn chúng sanh đến nơi hoàn toàn thanh tịnh…”.

Ngay khi ấy, từ sáu cung trời Dục giới (Tứ Đại Thiên, Đao Lợi, Dạ Ma, Đâu Suất, Hóa Lạc và Tha Hóa Tự Tại Thiên), có sáu chiếc thiên xa chạy xuống, mỗi chiếc dài năm mươi do tuần, trang bị đầy đủ bằng mọi thứ mỹ phẩm xuê xang lộng lẫy, do một ngàn con tuấn mã kéo đi. Mỗi vị chư Thiên đứng trên thiên xa đồng thanh nói với Dhammika: “Tôi xin mạn phép rước ông về thiên cung của chúng tôi…”.

Ông Dhammika chưa kịp trả lời, chư Thiên đã nói rằng:

- Ông ơi! Ví như cái bát đất đã bể mà đổi được cái bát bằng vàng, ai sanh về thiên cung của chúng tôi sẽ được hưởng muôn ngàn lạc thú, xin ông hãy về với chúng tôi.

Ông thiện nam Dhammika đang nằm nghe kinh, không muốn dứt đoạn nửa chừng, nên bảo chư Thiên: “Thôi đi, khoan đã…”.

Các thầy Tỳ khưu nghe vậy, ngỡ là ông nói với mình, bèn thôi không tụng kinh nữa.

Khi ấy các con trai của ông, phát khóc lên ầm ĩ, kể lể rằng:

- Trước kia phụ thân ta nghe kinh không bao giờ chấn động, sao hôm nay bảo thỉnh chư Tăng đến tụng, rồi lại bảo “Thôi đi” như vậy. Ôi! Đến phút lâm chung đối diện với Tử thần chắc không chúng sanh nào không hãi hùng kinh sợ.

Chư Tăng thấy tình cảnh ấy cũng nhắc bảo nhau không tụng kinh nữa thì ra về, nói rồi đồng đứng dậy cáo từ ra đi.

Một lúc sau ông Dhammika hồi tỉnh, nghe tiếng con khóc mới hỏi rằng:

- Sao các con lại khóc?

- Thưa cha! Cha đã bảo thỉnh chư Tăng đến tụng kinh cho cha nghe, thế mà khi chư Tăng đang tụng thì cha lại ngăn cản bảo thôi đi, các con khóc vì nghĩ rằng: “Không có chúng sanh nào mà không sợ mặt Tử thần”.

- Thế chư Tăng bây giờ đâu rồi?

- Các Ngài nói: “Không tụng kinh nữa thì ta về” và đã đi về hết rồi cha ạ.

- Nầy các con! Không phải cha nói lời ấy với chư Tăng đâu!

- Thế thì cha nói với ai vậy? Thưa cha.

- Có sáu vị chư Thiên từ sáu cõi trời đưa đến sáu chiếc thiên xa, trang trí lộng lẫy, đậu ngay giữa hư không, họ đứng trên xe cất tiếng hỏi cha: “Mời Ngài hoan hỷ về cõi chư Thiên với chúng tôi”. Cha bảo “Thôi đi” là nói với chư Thiên ấy.

- Thưa cha! Nhưng thiên xa nào đâu, chúng con không thấy.

- Hiện ở nơi đây, ta có vòng hoa nào không?

- Thưa cha có.

- Trong các cõi trời, cõi nào là an lạc nhất hở các con?

- Thưa cha! Cõi trời an lạc nhất là cõi Đâu Suất thiên (Tusitabhavanaṃ) là nơi tịnh cư của tất cả chư Bồ Tát và của phụ mẫu chư vị Đại Giác trong kiếp thành đạo ở thế gian.

- Vậy thì các con hãy lấy vòng hoa liệng lên hư không và nguyện: “Xin vòng hoa nầy dính trên chiếc thiên xa của cõi trời Đâu Suất”.

Các con ông Dhammika y lời, ném một vòng hoa dính vào gọng xe là lơ lửng giữa hư không.

Tất cả mọi người túc trực nơi đó đều thấy vòng hoa lơ lửng giữa hư không mà không ai thấy chiếc thiên xa cả.

Ông thiện nam hỏi:
- Các con có thấy vòng hoa không?

- Dạ! Thưa thấy.

- Vòng hoa dính trên chiếc thiên xa từ cõi Đâu Suất đưa xuống, cha nay sắp về thiên cảnh ấy vậy các con chớ nên bi thảm, nếu muốn tái sanh về đó để phụ tử được trùng phùng thì các con nên noi gương cha mà tạo nhiều phước báu ở cõi trần gian nầy đi vậy.

Dứt lời, ông Dhammika từ giã cõi đời, bước lên thiên xa về cung Đâu Suất. Liền đó, ông hóa thành vị chư Thiên bề cao ba phần tư do tuần, khắp mình đeo giắt những món trang sức, có thể chất đầy sáu mươi cỗ xe bò, có hàng ngọc nữ theo hầu và được một tòa Kim ốc phát sanh lên rõ rệt.

Nói về chư Tăng, khi vào đến Tịnh xá vào đảnh lễ, phục lịnh Đức Bổn Sư, Ngài phán hỏi:

- Nầy các Tỳ khưu! Ông cận sự nam có nghe các ông tụng kinh không?

- Bạch Ngài! Có, nhưng đến nửa bài kinh thì ông ấy lên tiếng bảo thôi, rồi đàn con ông phát khóc ầm lên. Chúng con thấy ở nán lại cũng không làm gì nên đứng dậy ra về.

- Nầy các Tỳ khưu! Không phải ông Dhammika đã nói các lời ấy với các ông đâu. Có những chư Thiên từ trên sáu cõi trời đưa sáu chiếc thiên xa trang trí lộng lẫy và thỉnh ông lên xe về thiên cảnh, ông ấy không muốn nghe dở bài kinh đang tụng, nên đã thốt lời ấy với chư Thiên.

- Bạch Ngài, có vậy mà chúng con không biết.

- Quả thực vậy đó, các Tỳ khưu.

- Bạch Ngài! Bây giờ ông ấy đang thọ sanh về đâu?

- Nầy các Tỳ khưu! Hiện giờ ông ấy ở cõi Đâu Suất thiên.

- Bạch Ngài! Lúc ông ấy còn sanh tiền, đã vui sống giữa thân bằng quyến thuộc, bây giờ chết rồi lại được thọ sanh vào nhàn cảnh để hưởng thêm hạnh phúc nữa sao?

- Đúng vậy, nầy các Tỳ khưu! Những người không dễ duôi (appamattā) dầu còn tại gia hay đã xuất gia, cũng đều hưởng được sự yên vui trong hai cảnh giới. Lúc sống và sau khi chết rồi cũng đều như thế cả.

Đến đây, Đức Bổn Sư nói lên kệ ngôn rằng:
“Idha modati pecca modati,
Katapuñño ubhayattha modati;
So modati so pamodati,
Disvā kammavisuddhimattano”
“Những người đã sẵn thiện căn,
Kiếp nầy, kiếp nữa, lòng hằng an vui.
Thấy mình phúc nghiệp gieo rồi,
Cả trong hai kiếp đều vui sướng hoài”

CHÚ GIẢI:

Trong câu kệ Phạn ngữ, chữ Katapuñña chỉ cho người tạo thiện nghiệp bằng nhiều đường lối, khi lâm chung xét thấy rằng: Quả thật, ta chưa từng làm việc quấy ác, ta chỉ làm những việc thuần thiện mà thôi… Nhờ đó mà y được an vui với nghiệp lành trong đời hiện tại.

Sau khi chết, y cũng còn nhờ ảnh hưởng của quả lành, tiếp tục theo mà được an vui kiếp sau nữa, nên mới gọi là hai đời vui (ubhayattha modati).

Kammavisuddhiṃ: Nghiệp sạch, như cận sự nam Dhammika. Sau khi xét thấy tự mình đã tạo nhiều nghiệp trong sạch (thuần thiện), tự mình đầy đủ phước nghiệp (kammapuñña) rồi, đến khi lâm chung cũng được hưởng sự an vui trong kiếp hiện tại và sau khi mệnh chung lại được thọ sanh vào cảnh giới khác lại càng hưởng nhiều thiên phúc lạc hơn nữa.

Sau bài kệ nầy, chư Tỳ khưu đắc Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả. Đại chúng thính pháp cũng được hưởng ít nhiều lợi ích.

Suốt cả đời tu, chưởng phước điền,
Chánh tâm sùng đạo, cảm chư Thiên,
Sáu xe túc trực, chờ tôn khách,
Ngàn ngựa bôn phi đón đại hiền?
Tăng tụng kinh dài, ai khiến nghỉ?
Con lo bố khổ, dạ sao yên?
Trấn an, may có vòng hoa lạ,
Lơ lửng trên không việc nhãn tiền.

DỨT CHUYỆN CẬN SỰ NAM DHAMMIKA

Dhammikaupāsakavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Idha modatīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto dhammikaupāsakaṃ ārabbha kathesi.

Sāvatthiyaṃ kira pañcasatā dhammikaupāsakā nāma ahesuṃ. Tesu ekekassa pañca pañca upāsakasatāni parivārā. Yo tesaṃ jeṭṭhako, tassa satta puttā satta dhītaro. Tesu ekekassa ekekā salākayāgu salākabhattaṃ pakkhikabhattaṃ nimantanabhattaṃ uposathikabhattaṃ āgantukabhattaṃ saṅghabhattaṃ vassāvāsikaṃ ahosi. Tepi sabbeva anujātaputtā nāma ahesuṃ. Iti cuddasannaṃ puttānaṃ bhariyāya upāsakassāti soḷasa salākayāguādīni pavattanti. Iti so saputtadāro sīlavā kalyāṇadhammo dānasaṃvibhāgarato ahosi. Athassa aparabhāge rogo uppajji, āyusaṅkhāro parihāyi. So dhammaṃ sotukāmo “aṭṭha vā me soḷasa vā bhikkhū pesethā”ti satthu santikaṃ pahiṇi. Satthā pesesi. Te gantvā tassa mañcaṃ parivāretvā paññattesu āsanesu nisinnā. “Bhante, ayyānaṃ me dassanaṃ dullabhaṃ bhavissati, dubbalomhi, ekaṃ me suttaṃ sajjhāyathā”ti vutte “kataraṃ suttaṃ sotukāmo upāsakā”ti? “Sabbabuddhānaṃ avijahitaṃ satipaṭṭhānasutta”nti vutte – “ekāyano ayaṃ, bhikkhave, maggo sattānaṃ visuddhiyā”ti (dī. ni. 2.373; ma. ni. 1.106) suttantaṃ paṭṭhapesuṃ. Tasmiṃ khaṇe chahi devalokehi sabbālaṅkārapaṭimaṇḍitā sahassasindhavayuttā diyaḍḍhayojanasatikā cha rathā āgamiṃsu. Tesu ṭhitā devatā “amhākaṃ devalokaṃ nessāma, amhākaṃ devalokaṃ nessāma, ambho mattikabhājanaṃ bhinditvā suvaṇṇabhājanaṃ gaṇhanto viya amhākaṃ devaloke abhiramituṃ idha nibbattāhi, amhākaṃ devaloke abhiramituṃ idha nibbattāhī”ti vadiṃsu. Upāsako dhammassavanantarāyaṃ anicchanto – “āgametha āgamethā”ti āha. Bhikkhū “amhe vāretī”ti saññāya tuṇhī ahesuṃ.

Athassa puttadhītaro “amhākaṃ pitā pubbe dhammassavanena atitto ahosi, idāni pana bhikkhū pakkosāpetvā sajjhāyaṃ kāretvā sayameva vāreti, maraṇassa abhāyanakasatto nāma natthī”ti viraviṃsu. Bhikkhū “idāni anokāso”ti uṭṭhāyāsanā pakkamiṃsu. Upāsako thokaṃ vītināmetvā satiṃ paṭilabhitvā putte pucchi – “kasmā kandathā”ti? “Tāta, tumhe bhikkhū pakkosāpetvā dhammaṃ suṇantā sayameva vārayittha, atha mayaṃ ‘maraṇassa abhāyanakasatto nāma natthī’ti kandimhā”ti. “Ayyā pana kuhi”nti? “‘Anokāso’ti uṭṭhāyāsanā pakkantā, tātā”ti. “Nāhaṃ, ayyehi saddhiṃ kathemī”ti vutte “atha kena saddhiṃ kathethā”ti. “Chahi devalokehi devatā cha rathe alaṅkaritvā ādāya ākāse ṭhatvā ‘amhāhi devaloke abhirama, amhākaṃ devaloke abhiramā’ti saddaṃ karonti, tāhi saddhiṃ kathemī”ti. “Kuhiṃ, tāta, rathā, na mayaṃ passāmā”ti? “Atthi pana mayhaṃ ganthitāni pupphānī”ti? “Atthi, tātā”ti. “Kataro devaloko ramaṇīyo”ti? “Sabbabodhisattānaṃ buddhamātāpitūnañca vasitaṭṭhānaṃ tusitabhavanaṃ ramaṇīyaṃ, tātā”ti. “Tena hi ‘tusitabhavanato āgatarathe laggatū’ti pupphadāmaṃ khipathā”ti. Te khipiṃsu. Taṃ rathadhure laggitvā ākāse olambi. Mahājano tadeva passati, rathaṃ na passati. Upāsako “passathetaṃ pupphadāma”nti vatvā, “āma, passāmā”ti vutte – “etaṃ tusitabhavanato āgatarathe olambati, ahaṃ tusitabhavanaṃ gacchāmi, tumhe mā cintayittha, mama santike nibbattitukāmā hutvā mayā kataniyāmeneva puññāni karothā”ti vatvā kālaṃ katvā rathe patiṭṭhāsi.

Tāvadevassa tigāvutappamāṇo saṭṭhisakaṭabhārālaṅkārapaṭimaṇḍito attabhāvo nibbatti, accharāsahassaṃ parivāresi, pañcavīsatiyojanikaṃ kanakavimānaṃ pāturahosi. Tepi bhikkhū vihāraṃ anuppatte satthā pucchi – “sutā, bhikkhave, upāsakena dhammadesanā”ti? “Āma, bhante, antarāyeva pana ‘āgamethā’ti vāresi. Athassa puttadhītaro kandiṃsu. Mayaṃ ‘idāni anokāso’ti uṭṭhāyāsanā nikkhantā”ti. “Na so, bhikkhave, tumhehi saddhiṃ kathesi, chahi devalokehi devatā cha rathe alaṅkaritvā āharitvā taṃ upāsakaṃ pakkosiṃsu. So dhammadesanāya antarāyaṃ anicchanto tāhi saddhiṃ kathesī”ti. “Evaṃ, bhante”ti. “Evaṃ, bhikkhave”ti. “Idāni kuhiṃ nibbatto”ti? “Tusitabhavane, bhikkhave”ti. “Bhante, idāni idha ñātimajjhe modamāno vicaritvā idāneva gantvā puna modanaṭṭhāneyeva nibbatto”ti. “Āma, bhikkhave, appamattā hi gahaṭṭhā vā pabbajitā vā sabbattha modantiyevā”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Idha modati pecca modati,
Katapuñño ubhayattha modati;
So modati so pamodati,
Disvā kammavisuddhimattano”ti.

Tattha katapuññoti nānappakārassa kusalassa kārako puggalo “akataṃ vata me pāpaṃ, kataṃ me kalyāṇa”nti idha kammamodanena, pecca vipākamodanena modati. Evaṃ ubhayattha modati nāma. Kammavisuddhinti dhammikaupāsakopi attano kammavisuddhiṃ puññakammasampattiṃ disvā kālakiriyato pubbe idhalokepi modati, kālaṃ katvā idāni paralokepi atimodatiyevāti.

Gāthāpariyosāne bahū sotāpannādayo ahesuṃ mahājanassa sātthikā dhammadesanā jātāti.

Dhammikaupāsakavatthu ekādasamaṃ.

I. 11. The Righteous Lay Brother

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

16. Here he rejoices; after death he rejoices: he that has done good works rejoices in both places.
He rejoices, he rejoices exceedingly, seeing the purity of his own past deeds.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to a righteous lay brother.

At Sāvatthi, we are told, lived five hundred righteous lay brethren, each with a retinue of five hundred lay brethren. The senior layman had seven sons and seven daughters. Each of these sons gave regularly ticket-porridge, ticket-food, food of the waning moon, food of the new moon, invitation-food, fast-day food, visitors’ food, and food of the season of the rains. All of them were “later born,” so that the layman and his wife and fourteen children maintained sixteen forms of alms. And the layman, virtuous, upright, together with son and wife, took delight in the distribution of alms.

After a time the layman was attacked by a disease, and his vital forces began to decay. Desiring to hear the Law, he sent word to the Teacher, “Send me eight or sixteen monks.” The Teacher sent them, and they straightway went and gathered around his bed and sat down on seats prepared for them. “Reverend Sirs,” said the layman, “it will be difficult for me to see you, for I am weak; rehearse me but a single Sutta.” “Which Sutta would you like to hear, lay brother?” “The Satipaṭṭhāna Sutta, common to all the Buddhas.” Accordingly they began to rehearse the Sutta, beginning with the words, “There is this one Way, monks, this one Path which leads to the Salvation of living beings.”

At that moment, from the Six Worlds of the Gods, approached six chariots a hundred and fifty leagues long, drawn by a thousand Sindh horses, adorned with all the adornments. In each chariot stood a deity, and each deity spoke and said, “Permit us to convey you to our celestial world.” And they spoke again and said, “Even as one shatters a clay vessel and replaces it with a vessel of gold, even so are living beings reborn to take their pleasure in our celestial world.” The lay disciple, unwilling to be interrupted in listening to the Law, said, “Wait! wait!” The monks, thinking that he was speaking to them, ceased their recitation of the Law. His sons and daughters cried out, “Formerly our father could never hear enough of the Law. But now, after summoning the monks and directing them to rehearse the Law, he stops them himself. After all, there is no man who does not fear death.” The monks said to each other, “This is no time for us to remain.” And forthwith they arose and departed.

After a time the layman recovered his attention and asked his sons, “Why do you weep?” “Dear father,” said they, “you sent for the monks, and even as you listened to the Law, you yourself stopped them from rehearsing the Law. We weep to think, ‘After all, there is no man who does not fear death.’ ” “But where are the noble monks?” “They said to each other, ‘This is no time for us to remain.’ And forthwith they arose from their seats and departed.” “Dear sons, I was not speaking to the noble monks.” “With whom, then, were you talking, dear father?” “From the Six Worlds of the Gods six deities approached in six magnificently adorned chariots, and standing in their chariots poised in the air, they said to me, ‘Take your pleasure in our celestial world; take your pleasure in our celestial world.’ I was talking with them.” “Dear father, where are the chariots? We do not see them.” “Have I any wreaths of flowers?” “Yes, dear father.” “Which celestial world is the most delightful?” “Dear father, the most delightful is the World of the Tusita gods, the abode of the mothers and fathers of the Buddhas and of all the Future Buddhas.” “Well then, throw a wreath of flowers and say, ‘Let this wreath of flowers cling to the chariot which came from the World of the Tusita gods.’ ”

Accordingly the children of the layman threw the wreath of flowers, and it clung to the pole of the chariot and hung suspended in the air. The populace saw the wreath of flowers suspended in the air, but did not see the chariot. Said the lay disciple, “Do you see this wreath of flowers?” “Yes, we see it.” “This wreath hangs suspended from the chariot which came from the World of the Tusita gods. I am going to the World of the Tusita gods; be not disturbed. If you desire to be reborn with me, do works of merit even as I have done.” And when he had thus spoken, he died and set foot in the chariot. Immediately he was reborn as a deity three-quarters of a league in stature, adorned with sixty cartloads of ornaments. A retinue of a thousand celestial nymphs attended him, and a golden mansion twenty-five leagues in extent became visible.

When those monks reached the monastery, the Teacher asked them, “Monks, did the lay disciple hearken to the recitation of the Law?” “Yes, Reverend Sir. But in the midst of the recitation he cried out, ‘Wait! wait!’ and stopped us. Then his sons and daughters began to weep, whereupon we said to each other, ‘This is no time for us to remain,’ and arose from our seats and departed.” “Monks, he was not talking to you. From the Six Worlds of the Gods six deities approached in six magnificently adorned chariots, and they summoned that lay disciple to go with them; but the lay disciple, unwilling that the recitation of the Law should be interrupted, spoke to them.” “Is that true, Reverend Sir?” “That is true, monks.” “Reverend Sir, where was he reborn just now?” “In the World of the Tusita gods, monks.”

“Reverend Sir, but recently he lived here among his kinsfolk rejoicing, and just now he went again to a place of rejoicing and was there reborn.” “Yes, monks. They that are heedful, be they laymen or monks, rejoice in both places equally.” So saying, he pronounced the following Stanza,

16. Here he rejoices; after death he rejoices: he that has done good works rejoices in both places.
He rejoices, he rejoices exceedingly, seeing the purity of his own past deeds.

  1. Text: N i. 129-132. Ed. note: this is a misinterpretation by the translator, Dhammika (meaning ‘righteous’), was the layman’s name, it is not an adjective.
  2. Dīgha, 22; Majjhima, 10.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 1, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp cùng chủ đề