Tích Jambūkājīvaka
Jambukattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 70 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 70)
“Māse māse kusaggena,
“Tháng tháng chỉ dùng cơm,
Bālo bhuñjeyya bhojanaṃ; Vít bằng đầu cỏ thơm, Na so saṅkhātadhammānaṃ, Người ngu không bì kịp, Kalaṃ agghati soḷasiṃ.” Một phần mười sáu pháp,
Người chứng đắc lý chơn.”
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài ngự an tại Veḷuvana, đề cập đến tu sĩ ngoại đạo Jambūka (Hào Cẩu).
Tương truyền rằng: Thuở xưa vào thời Đức Chánh Đẳng Giác Kassapa, trong một làng nọ có ông Trưởng giả (Kuṭumbiko) phát tâm cất chùa, thỉnh một vị Tỳ khưu ở đó làm trụ trì và thường xuyên hộ độ bốn món vật dụng. Vị trụ trì nầy mỗi ngày đến thọ thực nơi nhà của người đại tín gia hộ độ.
Một hôm, có vị Thánh Tăng Lậu Tận đi trì bình khất thực, đến đứng trước nhà của Trưởng giả. Phú ông nhìn thấy vẻ thanh bần thoát tục, kham nhẫn của bậc thanh tịnh thì phát tâm trong sạch, cung thỉnh vị Thánh Tăng vào nhà, trân trọng dâng cúng các món thực phẩm thượng vị.
Kế đó, gia chủ cúng dường một khăn choàng lớn và bạch:
- Bạch Ngài, xin Ngài nhuộm khăn choàng nầy rồi làm y nội mà mặc.
Và gia chủ còn thỉnh cầu thêm rằng: “Bạch Ngài! Tóc Ngài khá dài, để con gọi thợ cạo đến phủi sạch cho Ngài. Thỉnh Ngài về chùa trước rồi con sẽ cho người đem giường nằm đến dưng Ngài liền bây giờ.”.
Vị trụ trì vẫn đến thọ thực nơi nhà tín chủ hằng ngày, trông thấy ông ta quí trọng vị Sư mới đến như vậy thì không phát tâm trong sạch tùy hỷ chút nào. “Ông chủ nầy mới vừa gặp mặt vị Sư kia mà đã dâng cúng trọng thể dường ấy, còn mình đến nơi nhà ông ta mỗi ngày mà ông ta chớ hề dâng cúng lễ vật cho mình.”, vị sư trụ trì nghĩ thầm như vậy, nhưng chẳng nói ra, trở về chùa. Vị khách Tăng cũng theo chân vị trụ trì về chùa, nhuộm khăn choàng của thí chủ dâng cúng, rồi đắp làm y nội.
Phú Trưởng giả rước thợ cạo đến phủi tóc cho vị sư trì bình, cho người khiêng giường nằm đến lót kê đàng hoàng rồi thỉnh rằng:
- Bạch Ngài, xin Ngài tự tiện nằm nghỉ trên giường nầy.
Trước khi ra về, chủ nhân còn thỉnh cả hai vị Đại đức ngày mai đến nhà mình thọ bát.
Thấy gia chủ tỏ vẻ hâm mộ vị khách Tăng và săn sóc vị ấy, vị trụ trì không dằn được lòng ganh tị. Chiều hôm ấy, ông ta đích thân vào tận phòng của vị A La Hán và nhục mạ Ngài bằng bốn điều như vầy: “Nầy đạo hữu tân đáo! Đạo hữu không nên đến thọ thực nơi nhà của phú Trưởng giả, thà đạo hữu ăn phẩn dơ còn hơn. Đạo hữu không nên để cho thợ cạo đến cạo tóc, thà đạo hữu lấy lá thốt nốt mà cạo còn hơn. Đạo hữu không nên mặc y, cứ ở trần truồng là hơn. Không nên nằm trên giường của thí chủ kê lót, thà đạo hữu nằm dưới đất còn hơn.”.
Bị người đồng đạo xỉ mạ, vị Đại đức im lặng, tự nghĩ: “Không nên để cho kẻ ngu nầy vì ta mà phải sa đọa.”. Sáng hôm sau, Ngài thức dậy thật sớm, bỏ chùa ra đi vân du ta bà, chớ không theo lời thỉnh cầu mà đến nhà thí chủ thọ thực.
Sáng hôm ấy, vị trụ trì cũng dậy sớm, lo việc công phu lễ bái sớm trong chùa. Đến giờ đi bát, không thấy vị khách Tăng đâu cả, ông ta nói:
- Ông Sư khách nầy, đến giờ vẫn còn ngủ. Ta phải gõ kẻng đánh thức ông ta dậy.
Sau khi lấy đầu móng tay gõ vào kẻng cho có chừng, vị trụ trì ôm bát đi vào làng một mình.
Khi ấy, phú Trưởng giả đã chuẩn bị lễ vật cúng dường, còn đang ngóng trông hai vị Đại đức, thấy vị trụ trì đến, phú ông hỏi: “Bạch Ngài, còn vị khách Tăng đi đâu mà chưa đến?”.
- Nầy đạo hữu, thôi đừng nhắc đến vị Đại đức của ông nữa. Hôm qua, ở đây trở về chùa, ông ta vào nằm luôn trong lều, cho tới sáng hôm nay, tôi dậy quét chùa, xách nước uống, nước xài đầy cả, châm đầy vào các lu khạp. Tiếng khua động, cả đến tiếng kẻng báo giờ đi lấy bát, ông ta cũng chẳng nghe biết chi.
Vốn là bậc trí thức, phú ông ngẫm nghĩ: “Vị Đại đức nầy có oai nghi tế hạnh dường ấy, mà bảo rằng còn ngủ đến giờ nầy thì không có lý. Chắc chắn là vì thấy ta cúng dường trọng thể đến Ngài mà vị trụ trì có buông lời chi xúc phạm đến Ngài chăng?”.
Nhưng phú Trưởng giả vẫn một mực cung kính để bát hộ độ vị trụ trì và khi vị nầy xong bữa, ông xin bát đem rửa thật sạch, rồi sớt đầy bát bằng đồ cao lương mỹ vị và bạch rằng:
- Bạch Ngài, nếu Ngài về gặp vị Đại đức, xin Ngài hoan hỷ sớt bát cơm nầy cúng dường Ngài Đại đức dùm con.
Vị trụ trì nhận lãnh bát cơm, nghĩ thầm: “Nếu ông ta thọ dụng bát cơm nầy, thế nào ông ta cũng sẽ lưu luyến ở mãi nơi đây chẳng sai.”.
Về đến nửa đường, vị trụ trì dốc bát đổ sạch bát cơm canh, rồi đi thẳng về lều của vị khách Tăng, nhưng nhìn tìm không thấy vị ấy.
Mặc dù đã tu hạnh Sa môn trong thời gian là hai muôn năm (vīsativassasahassāni), sau khi đã tạo ác nghiệp nặng nề như vậy, thiện pháp của vị Tỳ khưu nầy cũng không đủ sức cứu nổi ông ta. Khi mãn tuổi thọ, ông bị sa vào địa ngục Vô Gián (Avīci) thọ khổ khốc liệt suốt cả một thời gian không có vị Phật. Mãi đến thời Đức Phật hiện tại giáng lâm, ông được tái sanh làm người trong một gia tộc dư ăn dư để (bahu annapāne), cư ngụ trong thành Rājagaha.
Tuy là con nhà khá giả, nhưng từ lúc biết đi cậu bé không bao giờ chịu nằm giường, cũng không chịu ăn cơm, chỉ ăn ròng đồ xú uế do thân mình phóng ra.
Đến tuổi trưởng thành, ông cũng không chịu mặc y phục, cứ ở trần truồng mà đi lang thang, ngủ thì vẫn nằm dưới đất và ăn thì nhai lại những đồ mà mình đại tiện ra.
Khi ấy, cha mẹ ông buồn phiền chán nản, vì ông không thể giáo hóa được, nên bàn tính cùng nhau:
- Thằng nầy chắc cốt tử của nó không phải là con nhà mình, cho nên không biết xấu hổ chi hết. Có lẽ nó hạp với phái tu sĩ Ājīvaka (phái lõa thể).
Thế rồi, hai ông bà đem ông ta cho đứt nhóm ngoại đạo lõa thể, yêu cầu họ cho ông xuất gia nhập đạo.
Phái nầy cho Jambūka xuất gia theo nghi lễ của họ, để cậu đứng dưới một cái mương sâu tới cần cổ, bắt hai tấm ván đè trên vai cậu ta, rồi ngồi trên tấm ván ấy, dùng sóng lá thốt nốt mà cạo đầu của cậu.
Sau đó, cha mẹ cậu thỉnh các tu sĩ Ājīvaka ngày mai đến nhà mình thọ thực, rồi đồng cáo thối.
Ngày hôm sau, nhóm du sĩ lõa thể bảo Jambūka:
- Lại đây, chúng ta cùng nhau đi vào làng.
Tu sĩ mới nầy không chịu đi, nói: “Xin các Ngài cứ đi đi, còn tôi xin được ở lại giữ chùa.”.
Nhóm tu sĩ ấy năn nỉ nhiều lần không được bèn ra đi. Khi ấy, Jambūka bèn mở cửa cầu tiêu, tuột xuống hầm cầu, hai tay bốc phẩn vắt thành từng vắt mà ăn. Các tu sĩ Ājīvaka ở trong làng gửi cơm canh về cho Jambūka, nhưng ông ta không thọ lãnh. Khi họ nài ép, ông ta mới trả lời rằng:
- Tôi khỏi cần vật thực nầy, vì tôi có được phần ăn rồi.
- Phần ăn ở đâu mà có?
- Chỉ ở gần đây chứ không xa đâu.
Qua ngày thứ hai, thứ ba, thứ tư, mỗi khi đi vào làng, nhóm Ājīvaka đều rủ ông ta nhiều lượt, nhưng ông vẫn một mực từ chối không chịu đi, bảo rằng: “Xin cho tôi ở lại chùa.”.
Thái độ kỳ hoặc của Jambūka làm cho nhóm tu sĩ ngoại đạo sanh nghi: “Ông đạo nầy hằng ngày không chịu đi vào làng, mà vật thực ta gửi về cho ông, ông cũng chẳng ăn, cứ nói: “Tôi ở đây có phần ăn rồi.”. Chúng ta phải rình coi cho biết ông ở lại chùa làm cái gì mới được.”.
Thế là, hôm sau khi đi vào làng, họ giao cho hai người ở lại núp xem Jambūka làm cái chi. Cũng như mấy ngày trước, khi thấy nhóm đồng đạo đi vắng hết, Jambūka tuột xuống hầm cầu ăn phẩn, không ngờ bị lộ tẩy, hai tu sĩ nọ bắt được hành động xấu xa của Jambūka, bèn thuật lại cho cả nhóm nghe. Tất cả đều đồng tình rằng: “Chao ôi! Việc nầy thật là tồi tệ quá lắm. Giá như các Thinh Văn của Sa môn Gotama hay biết rằng: “Các tu sĩ Ājīvaka thường ngày ăn phẩn, và truyền bá tin nầy ra thì thật là nhục nhã cho chúng ta. Tên Jambūka nầy không xứng đáng danh là một tu sĩ Ājīvaka chút nào.”.
Thế rồi, nhóm tu sĩ ngoại đạo tuyên bố trục xuất Jambūka ra khỏi nhóm mình.
Trong một cánh đồng, chỗ đại chúng phóng uế tự do, có một tảng đá bằng phẳng, trên mặt đá có lỗ trũng xuống rất lớn, đại chúng ưa đại tiện xuống nơi đó. Sau khi bị đuổi ra khỏi chùa, Jambūkājīvaka đi đến gần tảng đá ấy, chờ đêm xuống ra bóc phẩn mà ăn. Ban ngày khi thấy dạng đại chúng đi phóng uế thì ông lấy tay vịn tảng đá và đứng một chân, còn chân kia giơ lên tỳ vào đầu gối chân đứng, miệng thì hả ra, hướng về phía có gió.
Đại chúng thấy vậy, đến gần đảnh lễ ông ta, họ nói:
- Bạch Đại đức, sao Ngài đứng hả miệng như thế?
- Ta lấy gió làm cơm, chớ không có độ vật thực chi khác hết.
- Bạch Ngài, còn tại sao Ngài chỉ đứng có một chân, còn chân kia rút lên tỳ vào đầu gối chân đứng như vậy?
- Bần đạo tu khổ hạnh dị thường lắm, nếu đứng cả hai chân xuống đất thì quả đất sẽ rúng động. Cho nên bần đạo chỉ đứng có một chân còn chân kia co lên như thế. Quả thật ta phải đứng mãi mãi chứ không nằm ngồi bao giờ cả.
Thế thường con người hễ nghe ai già hàm lợi khẩu, nhiều lời biện thuyết thì tin nghe theo. Cho nên đại chúng bảo nhau: “Ôi thật là phi thường, những nhà tu khổ hạnh đến mức ấy, từ trước đến giờ ta chưa từng gặp gỡ vị nào như thế.”.
Nhân dân trong hai xứ Aṅga (Ương Già) và Magadha xôn xao, náo động, nườm nượp kéo nhau đến đảnh lễ tu sĩ Jambūka, và hàng tháng mang nhiều lễ vật trọng hậu đến cúng dường ông, nhưng ông ta không thọ lãnh lễ vật của ai hết, bảo rằng:
- Ta chỉ lấy gió làm cơm, chớ không độ vật thực nào khác. Nếu ta ăn món chi khác, sợ hư hỏng, lui sụt hạnh khổ hạnh của ta đi chăng?
Nhiều người cứ theo nài nỉ: “Bạch Đại đức, xin Ngài thương xót tế độ chúng con. Được bậc tu khổ hạnh như Ngài thọ lễ cúng dường thì chúng con mới mong thành tựu sự lợi ích, sự bình an lâu dài đó, bạch Ngài.”.
Thấy đại chúng cầu khẩn thái quá, tu sĩ Jambūka cũng phải xiêu lòng, thọ lãnh chút ít bơ, đường, sữa, mật… và nói: “Mấy thứ nầy không gọi là vật thực chi khác, thôi ta thọ lãnh cho cư gia bá tánh được sự lợi ích, sự bình an mà trở về nhà.”.
Nói rồi, ông ta lấy đầu ngọn cỏ thơm (kusagga) vít mỗi thứ một chút để lên chót lưỡi nếm cho có vị rồi ra dấu cho thí chủ đi về.
Tu sĩ Jambūka đã trải qua năm mươi lăm năm với nếp sống khổ hạnh dị thường như thế, là luôn luôn trần truồng, ăn phẩn, nhổ tóc và nằm trên đất.
Theo thông lệ, chư Phật hằng quán xét khắp thế gian vào lúc sáng tinh sương. Vì thế, một hôm trong khi Đức Thế Tôn quan sát khắp cõi Diêm Phù Đề vào buổi trời hừng sáng, thì hình ảnh của tu sĩ Jambūka lọt vào giác võng của Ngài. Quán thêm nữa, Đức Thế Tôn thấy rằng tu sĩ ấy có duyên lành chứng A La Hán với Tuệ phân tích. Câu chuyện Ngài tế độ ông ta sẽ được diễn tiến như sau:
Trước tiên, Jambūka sẽ làm như vậy, như vậy, Đức Thầy sẽ thuyết lên một bài kệ, khi bài kệ chấm dứt, tám muôn bốn ngàn chúng sanh sẽ giác ngộ Chánh Pháp. Nhờ nương theo Ngài gia giáo nầy mà đại chúng đạt đến hạnh phúc cao thượng vậy.
Sau khi biết rõ như thế rồi, ngày ấy Đức Bổn Sư vào thành Rājagaha khất thực. Trên đường về chùa, Ngài bảo Đại đức Ānanda:
- Nầy Ānanda! Như Lai sẽ đi đến chỗ ngụ của Jambūkājīvaka.
- Bạch Ngài, Ngài sẽ ngự hành đến chỗ như vậy hay sao?
- Phải đó, Như Lai sẽ đi đến chỗ như vậy.
Nói rồi, Đức Bổn Sư ngự đi ngay đến chỗ ngụ của Jambūka nhằm lúc buổi xế chiều.
Chư Thiên suy nghĩ rằng: “Chiều nay Đức Bổn Sư ngự đến chỗ của Jambūkājīvaka, mà chỗ ở của ông ta là một tảng đá, ngập tràn rác rến dơ dáy, là chỗ thiên hạ đại tiện hết sức uế trược. Vậy ta cần làm mưa gột rửa chỗ ấy.”.
Nghĩ rồi, chư Thiên dùng thần lực làm cho mưa xuống tức khắc, dội rửa tảng đá bằng cho sạch sẽ tinh khiết. Kế đó, lại có đám mưa hoa ngũ sắc rơi xuống trên mặt thạch bàn. Đến chiều, Đức Thiên Nhơn Sư đến chỗ ngụ của Jambūkājīvaka, Ngài cất tiếng gọi: “Jambūka.”.
Jambūka nghĩ thầm: “Không biết ông nầy là ai mà gọi xách mé tên ta như vậy.”. Ông hỏi “Ai đó?”.
- Như Lai đây, Jambūka ạ.
- Ông Đại Sa môn muốn nói chi?
- Ông hoan hỷ cho Như Lai tạm ngụ đêm nay ở đây nhé.
- Ở đây không có chỗ nghỉ, ông Đại Sa môn à.
- Nầy Jambūka, ông đừng nên chia rẽ như vậy. Hãy hoan hỷ cho Như Lai nghỉ nhờ một đêm. Phàm là bậc xuất gia thì tập hợp với bậc xuất gia, người thế tập hợp với người thế và thú vật thì tập hợp với thú.
- Vậy ông có phải là bậc xuất gia chăng?
- Cố nhiên ta là bậc xuất gia.
- Nếu ông là bậc xuất gia, thì bát cơm, bầu nước, những vật tùy thân của bậc xuất gia sao ông không có ?
- Ta có đủ hết, nhưng mang theo làm chi nhiều thứ kềnh càng, đi đứng bất tiện. Ta để nơi kín đáo, khi nào đi bát mới mang theo.
Jambūka nổi giận rằng:
- Nếu thế, ông chỉ mang theo khi đi bát mà thôi à ?
Đức Thế Tôn ôn tồn bảo:
- Nầy Jambūka, đừng nóng nảy. Hãy chỉ chỗ cho
Như Lai nghỉ đi.
- Nầy ông Đại Sa môn, ta đã nói: Ở đây không có chỗ nghỉ rồi mà.
Đức Bổn Sư đưa tay chỉ một sườn núi cách đó, nơi trú của Jambūka chẳng bao xa và hỏi: “Ai ở nơi sườn núi đó?”.
- Không ai cả, ông Đại Sa môn à.
- Thế thì, ông hoan hỷ cho Như Lai nghỉ ở đó nghe.
- Nơi đó thì tùy ý ông liệu định, ông Đại Sa môn.
Đức Bổn Sư mang tọa cụ trải nơi sườn núi xong, ngự tọa nơi đó. Đêm hôm ấy, trong canh đầu Tứ Đại Thiên Vương từ bốn hướng phóng ra bốn đạo hào quang, rồi nhập chung lại, bay đến hầu Đức Thế Tôn. Jambūka trông thấy ánh sáng tự hỏi: “Ánh sáng gì đây?”. Trong canh giữa có Đức Đế Thích ngự đến, Jambūka trông thấy Ngài thì nghĩ thầm: “Ông nào vậy?”. Trong canh cuối là Đức Đại Phạm Thiên ngự đến, mỗi ngón tay của Ngài phát ra một đạo hào quang có thể soi sáng cả cõi Ta bà. Cả mười ngón tay phát ra mười đạo hào quang có thể soi cả mười phương thế giới, cho nên khi ấy toàn thể khu rừng chỗ Đức Bổn Sư ngự tọa sáng rực như một đám cháy lớn. Thấy Đại Phạm Thiên, Jambūka tự hỏi: “Ông nầy là ai vậy?”.
Sáng sớm hôm sau, Jambūka đi đến chỗ ngự của Đức Thế Tôn, chào hỏi thân thiện rồi đứng nép một bên, hỏi Ngài rằng:
- Nầy ông Đại Sa môn, hồi đầu hôm có ông nào mà hào quang chói sáng cả bốn góc trời đến chỗ của ông vậy?
- Đó là Tứ Đại Thiên Vương.
- Mấy ổng đến chi vậy?
- Đến để hầu hạ Như Lai.
- Nói vậy thì ông cao thượng hơn cả Tứ Đại Thiên Vương hay sao?
- Phải đó Jambūka, Như Lai quả thật là vị Tối Thượng Vương (atirāja) trên hết các vì vua.
- Còn lúc canh giữa, ông nào đến vậy?
- Thiên Vương Đế Thích.
- Ông đến chi vậy?
- Đến để hầu hạ Như Lai.
- Nói vậy, ông cũng cao thượng hơn Thiên Vương Đế Thích nữa sao?
- Phải đó, Jambūka. Như Lai cao thượng hơn cả Đế Thích. Ông ta là người nuôi bịnh và hầu hạ cơm nước, thuốc men của Như Lai cũng như vị Sa di vậy.
- Còn trong canh chót, ông nào đến mà hào quang chói sáng khắp cả khu rừng vậy?
- Ông đó là Đại Phạm Thiên mà các thầy tế lễ như các thầy Bà la môn trên cõi thế đều nương nhờ kính ngưỡng, và mỗi khi trợt té, mấy ổng thường niệm: “Nam mô Đại Phạm Thiên.” Dó.
- Nói vậy, ông còn cao thượng hơn Đại Phạm Thiên nữa sao?
- Phải đó Jambūka! Như Lai quả là vị tối thượng Phạm Thiên, trên tất cả Đại Phạm Thiên.
- Chà! Ông Đại Sa môn thật là bậc phi thường. Ta ở nơi đây ròng rã năm mươi năm rồi, mà trong mấy ông đó không một ông nào đến để hầu hạ ta cả. Mặc dầu suốt cả thời gian dài đăng đẳng ta tu khổ hạnh, lấy gió làm vật thực, mà cũng chưa được mấy ông ấy đến hầu hạ như đối với ông bao giờ.
Khi ấy Đức Bổn Sư bảo:
- Nầy Jambūka! Nhà ngươi quen thói dối gạt đại
chúng mù quáng si mê, bây giờ định dối gạt cả Như Lai nữa sao? Trong thời gian năm mươi năm qua, ngươi há đã chẳng lấy phẩn làm cơm, lấy đất làm giường, lấy da mẹ đẻ làm y phục, lấy sống lá thốt nốt làm đồ nhổ tóc hay sao? Thế mà ngươi dám lừa dối thiên hạ nói rằng: “Ta chỉ lấy gió làm cơm, đứng mãi một chân chớ không ngồi, nằm chi cả.”. Trong quá khứ, ngươi đã có kiến thức đê hèn, nên hiện tại phải chịu ăn phẩn, nằm đất, lõa thể và nhổ tóc bằng sóng thốt nốt trong bấy nhiêu lâu. Vậy mà giờ đây ngươi còn cố chấp các thứ tà kiến tội lỗi đê hèn ấy mãi ư?
- Trước kia ta đã tạo nghiệp gì đâu, ông Đại Sa môn?
Khi ấy Đức Bổn Sư mới chỉ rõ tiền nghiệp của Jambūka cho ông ta biết.
Nghe Đức Thầy giải đến đâu, Jambūka phát sanh kinh cảm đến đó, hết sức ghê sợ và hổ thẹn tội lỗi của mình. Ông băn khoăn hối hận. Ngay khi ấy, Đức Thế Tôn ném cái choàng tắm (Udakasātaka) xuống, bố thí cho ông ta. Ông vận y rồi, đứng lên đảnh lễ Đức Thầy và ngồi xuống một bên.
Bấy giờ, Đức Bổn Sư mới đem tuần tự pháp thoại mà thuyết cho Jambūka nghe. Nghe dứt thời pháp, ông chứng đắc A La Hán quả với Tuệ phân tích, bèn cúi xuống đảnh lễ Đức Tôn Sư, đoạn đứng lên ngỏ lời xin Ngài cho ông xuất gia và cho thọ luôn Cụ túc giới.
Như thế là từ đây, bao nhiêu nghiệp báo tiền khiên của Tỳ khưu nầy đã hết sạch. Tội mạt sát vị Đại đức Lậu Tận bằng bốn thô ác ngữ của ông trong thời quá khứ đã làm cho địa đại rộng khoảng hai do tuần phải rúng động. Sau khi mạng chung, ông đã bị thiêu đốt trong địa ngục A Tỳ, quả dư sót khiến ông thọ khổ trong năm mươi lăm năm qua, đến nay mới chấm dứt. Còn phần phước ông đã tạo bằng sự thực hành Sa môn Pháp trong hai muôn năm trước không vì tội kia mà hư hoại, cho nên Đức Bổn Sư đưa thẳng cánh tay mặt của Ngài ra, phán bảo:
- Thiện lai Tỳ khưu! Lại đây Tỳ khưu, ông hãy thực hành phạm hạnh đi.
Ngay lúc ấy, ông Jambūka mất hẳn hình dáng người cư sĩ. Trông ông có vẻ nghiêm trang đạo mạo như Đại đức có sáu mươi tuổi hạ, có đầy đủ tám món vật dụng Sa môn (y, bát, dây lưng, dao cạo, ống đựng kim, bình lọc nước).
Dân chúng trong hai xứ Aṅga và Magadha đều nghe danh của Jambūka, nên ngày nào cũng mang lễ vật đến cúng dường ông. Sáng hôm ấy, khi họ đến trông thấy Đức Như Lai thì phân vân tự hỏi: “Không biết Đại đức Jambūka của mình với Sa môn Gotama, ai lớn hơn ai?”. Rồi họ tự giải đáp rằng: “Nếu như Sa môn Gotama lớn hơn thì Đại đức của mình phải đi đến chỗ của ông ta. Đằng nầy, Sa môn Gotama đi đến tìm Đại đức của mình thì chắc hẳn là Đại đức của mình lớn hơn rồi vậy.”.
Đức Bổn Sư hiểu rõ tư tưởng của đại chúng, bèn phán:
- Nầy Jambūka! Ông hãy đoạn nghi cho tín đồ của ông đi.
- Bạch Ngài, con cũng định làm như vậy.
Rồi Ngài Jambūka nhập vào Tứ thiền, đoạn đứng dậy bay bổng lên cao cỡ khoảng cây thốt nốt, tuyên bố rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn, Ngài là Đức Tôn Sư còn con là Thinh Văn đệ tử của Ngài.
Nói rồi, từ trên hư không ông đáp xuống đảnh lễ Ngài, đoạn bay lên cao độ hai cây thốt nốt, cao khoảng ba cây thốt nốt…cho đến lần cuối cao khoảng bảy cây thốt nốt, tuyên bố lên như trước, đoạn hạ xuống đảnh lễ Đức Thế Tôn, cho đại chúng biết mình là Thinh Văn của Đức Thế Tôn.
Thấy vậy, đại chúng nghĩ thầm: “Ôi! Ân đức của Đức Phật thật là vô thượng, phi thường.”.
Nhân lúc quần chúng phát tâm tín ngưỡng, Đức Bổn Sư thuyết pháp để phá chấp tà kiến của họ, Ngài bảo:
- Tỳ khưu nầy, bấy lâu nay cho rằng mình ở đây hành đạo cao thượng(papacaraṇa), cho nên lễ vật của các người đem dâng cúng, ông chỉ lấy ngọn cỏ thơm, vít một chút để lên chót lưỡi mà thôi. Nhưng cho dầu lúc trước, ông có tu hành khổ hạnh như thế cả trăm năm đi nữa, việc làm ấy của ông chẳng có giá trị bằng một phần mười sáu của người hiểu thông chân lý nhịn ăn một bữa cơm vì có tâm nghi ngại sợ ô nhiễm phạm hạnh của mình.
Tiếp theo, Đức Bổn Sư thuyết pháp, giải rộng thêm, rồi đọc lên kệ ngôn rằng:
“Māse māse kusaggena,
Bālo bhuñjeyya bhojanaṃ;
Na so saṅkhātadhammānaṃ,
Kalaṃ agghati soḷasinti.”
“Người ngu tháng tháng như nhau,
Ăn chút vật thực bằng đầu cỏ thơm.
So người chứng đắc pháp chơn,
Một phần mười sáu không hơn được mà.”
CHÚ GIẢI:
Theo nghĩa lý bài kệ trên, người ngu (bālo) không thông hiểu chánh pháp, đã xuất gia tu theo tà giáo ngoại đạo, không tôn trọng giới luật chẳng hạn. Cho nên mới nghĩ rằng: “Ta quyết tu khổ hạnh cho đến mức rốt ráo.”. Thế rồi tháng nầy tháng khác, người ấy chỉ thọ thực chút ít bằng đầu ngọn cỏ thơm, nhưng dầu ép xác như thế cả một trăm năm, công phu của người ấy cũng không có giá trị bằng một phần mười sáu của người chứng đắc chơn lý.
Saṅkhātadhamme: Pháp Giác ngộ tức là pháp tri kiến (ñātadhammo), pháp Quán xét (tūlitadhammo), ở tầng dưới có pháp Giác ngộ của bậc Tu Đà Hườn, còn ở tầng trên có pháp của bậc Lậu Tận, là pháp bậc Thánh nhân, mà người ngu không thể bì kịp một phần mười sáu của các bậc ấy.
Nếu đem so sánh: Tác ý (cetanā) của những người ngu ráng hành khổ hạnh như vậy suốt cả một trăm năm, với tác ý của bậc Giác ngộ chơn lý chịu nhịn một bữa ăn để cho tâm mình khỏi tắc trách, hối hận thì tác ý trước tuy có lâu dài, nhưng giá trị cũng chẳng bằng một phần mười sáu của tác ý sau vậy.
Vả lại, nếu đem quả phước do tác ý của người chứng ngộ chơn lý mà chia ra làm mười sáu phần nhỏ nữa, thì một phần nhỏ của quả phước nầy cũng còn to lớn gấp bội công phu khổ hạnh của người ngu kia.
Khi Đức Bổn Sư chấm dứt pháp thoại, có đến bốn muôn tám ngàn chúng sanh giác ngộ chân lý.
Hành khổ mong cho thoát khổ sầu,
Tu theo tà kiến, khổ thêm lâu,
Ăn dơ, lấy bụi thay quần áo,
Ngủ đất, dùng cây nạo tóc râu.
Quả ác trổ qua ngày cuối chót,
Căn lành nhớ lại hạnh ban đầu,
Ngồi nghe Phật thuyết kinh tuần tự,
Hào Cẩu Tỳ khưu đắc đạo mầu.
DỨT TÍCH JAMBŪKĀJĪVAKA
Jambukattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Māse māseti imaṃ dhammadesanaṃ satthā veḷuvane viharanto jambukaṃ ājīvakaṃ ārabbha kathesi.
Atīte kira kassapasammāsambuddhakāle gāmavāsī eko kuṭumbiko ekassa therassa vihāraṃ katvā taṃ tattha viharantaṃ catūhi paccayehi upaṭṭhahi. Thero tassa gehe nibaddhaṃ bhuñjati. Atheko khīṇāsavo bhikkhu divā piṇḍāya caranto tassa gehadvāraṃ pāpuṇi. Kuṭumbiko taṃ disvā tassa iriyāpathe pasanno gehaṃ pavesetvā sakkaccaṃ paṇītena bhojanena parivisitvā, “bhante, imaṃ sāṭakaṃ rajitvā nivāseyyāthā”ti mahantaṃ sāṭakaṃ datvā, “bhante, kesā vo dīghā, tumhākaṃ kesoropanatthāya nhāpitaṃ ānessāmi, sayanatthāya ca vo mañcakaṃ gāhāpetvā āgamissāmī”ti āha. Nibaddhaṃ gehe bhuñjanto kulūpako bhikkhu taṃ tassa sakkāraṃ disvā cittaṃ pasādetuṃ nāsakkhi, “ayaṃ taṃ muhuttaṃ diṭṭhakassa evarūpaṃ sakkāraṃ karoti, nibaddhaṃ gehe bhuñjantassa pana mayhaṃ na karotī”ti cintetvā vihāraṃ agamāsi. Itaropi teneva saddhiṃ gantvā kuṭumbikena dinnasāṭakaṃ rajitvā nivāsesi. Kuṭambikopi nhāpitaṃ ādāya gantvā therassa kese ohārāpetvā mañcakaṃ attharāpetvā, “bhante, imasmiṃyeva mañcake sayathā”ti vatvā dvepi there svātanāya nimantetvā pakkāmi.
Nevāsiko tassa taṃ sakkāraṃ kayiramānaṃ adhivāsetuṃ nāsakkhi. Athassa so sāyaṃ therassa nipannaṭṭhānaṃ gantvā catūhākārehi theraṃ akkosi, “āvuso, āgantuka kuṭumbikassa te gehe bhattaṃ bhuñjanato varataraṃ mīḷhaṃ khādituṃ, kuṭumbikena ānītanhāpitena kesohārāpanato varataraṃ tālaṭṭhikena kese luñcāpetuṃ. Kuṭumbikena dinnasāṭakanivāsanato varataraṃ naggena vicarituṃ, kuṭumbikena ābhatamañcake nipajjanato varataraṃ bhūmiyaṃ nipajjitu”nti. Theropi “mā esa bālo maṃ nissāya nassī”ti nimantanaṃ anādiyitvā pātova uṭṭhāya yathāsukhaṃ agamāsi. Nevāsikopi pātova vihāre kattabbavattaṃ katvā bhikkhācāravelāya “idānipi āgantuko niddāyati, ghaṇḍikasaddena pabujjheyyā”ti saññāya nakhapiṭṭheneva ghaṇḍiṃ paharitvā gāmaṃ piṇḍāya pāvisi. Kuṭumbikopi sakkāraṃ katvā therānaṃ āgamanamaggaṃ olokento nevāsikaṃ disvā, “bhante, thero kuhi”nti pucchi. Atha naṃ nevāsiko “mā, āvuso, kiñci avaca, tuyhaṃ kulūpako hiyyo, tava nikkhantavelāya ovarakaṃ pavisitvā niddaṃ okkanto pātova uṭṭhāya mama vihārasammajjanasaddampi pānīyaghaṭaparibhojanīyaghaṭesu udakasiñcanasaddampi ghaṇḍikasaddampi karontassa na jānātī”ti āha. Kuṭumbiko cintesi – “tādisāya iriyāpathasampattiyā samannāgatassa me ayyassa yāva imamhā kālā niddāyanaṃ nāma natthi, maṃ pana tassa sakkāraṃ karontaṃ disvā addhā iminā bhadantena kiñci vuttaṃ bhavissatī”ti. So attano paṇḍitabhāvena taṃ sakkaccaṃ bhojetvā tassa pattaṃ sādhukaṃ dhovitvā nānaggarasabhojanassa pūretvā, “bhante, sace me ayyaṃ passeyyātha, imamassa piṇḍapātaṃ dadeyyāthā”ti āha.
Itaro taṃ gahetvāva cintesi – “sace so evarūpaṃ piṇḍapātaṃ bhuñjissati, imasmiṃyeva ṭhāne paluddho bhavissatī”ti antarāmagge taṃ piṇḍapātaṃ chaḍḍetvā therassa vasanaṭṭhānaṃ gantvā taṃ tattha olokento na addasa. Atha naṃ ettakassa kammassa katattā vīsativassasahassāni katopi samaṇadhammo rakkhituṃ nāsakkhi. Āyupariyosāne pana kālaṃ katvā avīcimhi nibbattitvā ekaṃ buddhantaraṃ mahādukkhaṃ anubhavitvā imasmiṃ buddhuppāde rājagahanagare ekasmiṃ bahvannapāne kulaghare nibbatti. So padasā gamanakālato paṭṭhāya neva sayane sayituṃ, na bhattaṃ bhuñjituṃ icchati, attano sarīravalañjameva khādati. “Bālatāya ajānanto karotī”ti taṃ posayiṃsu. Mahallakakālepi vatthaṃ nivāsetuṃ na icchati, naggova vicarati, bhūmiyaṃ sayati, attano sarīravalañjameva khādati. Athassa mātāpitaro “nāyaṃ kulagharassa anucchaviko, kevalaṃ alajjanako ājīvakānaṃ esa anucchaviko”ti tesaṃ santikaṃ netvā “imaṃ dārakaṃ pabbājethā”ti adaṃsu. Atha naṃ te pabbājesuṃ. Pabbājentā ca pana galappamāṇe āvāṭe ṭhapetvā dvinnaṃ aṃsakūṭānaṃ upariṃ padarāni datvā tesaṃ upari nisīditvā tālaṭṭhikhaṇḍena kese luñciṃsu. Atha ne tassa mātāpitaro svātanāya nimantetvā pakkamiṃsu.
Punadivase ājīvakā “ehi, gāmaṃ pavisissāmā”ti taṃ vadiṃsu. So “gacchatha tumhe, ahaṃ idheva bhavissāmī”ti na icchi. Atha naṃ punappunaṃ vatvā anicchamānaṃ ohāya agamaṃsu. Sopi tesaṃ gatabhāvaṃ ñatvā vaccakuṭiyā padaraṃ vivaritvā oruyha ubhohi hatthehi ālopaṃ ālopaṃ katvā gūthaṃ khādi. Ājīvakā tassa antogāmato āhāraṃ pahiṇiṃsu. Tampi na icchi. Punappunaṃ vuccamānopi “na me iminā attho. Laddho me āhāro”ti āha. “Kahaṃ laddho”ti? “Idheva laddho”ti. Evaṃ dutiye tatiye catutthepi divase tehi bahumpi vuccamāno “ahaṃ idheva bhavissāmī”ti gāmaṃ gantuṃ na icchi. Ājīvakā “ayaṃ divase divase neva gāmaṃ pavisituṃ icchati, na amhehi pahitāhāraṃ āharituṃ icchati, ‘idheva me laddho’ti vadati, kiṃ nu kho karoti, pariggaṇhissāma na”nti gāmaṃ pavisantā ekaṃ dve jane tassa pariggaṇhanatthaṃ ohāya gamiṃsu. Te pacchato gacchantā viya hutvā nilīyiṃsu. Sopi tesaṃ gatabhāvaṃ ñatvā purimanayeneva vaccakuṭiṃ oruyha gūthaṃ khādi.
Itare tassa kiriyaṃ disvā ājīvakānaṃ ārocayiṃsu. Taṃ sutvā ājīvakā “aho bhāriyaṃ kammaṃ, sace samaṇassa gotamassa sāvakā jāneyyuṃ, ‘ājīvakā gūthaṃ khādamānā vicarantī’ti amhākaṃ akittiṃ pakāseyyuṃ, nāyaṃ amhākaṃ anucchaviko”ti taṃ attano santikā nīhariṃsu. So tehi nīharito mahājanassa uccārakaraṇaṭṭhāne pattharito eko piṭṭhipāsāṇo atthi. Tasmiṃ mahantaṃ soṇḍi, piṭṭhipāsāṇaṃ nissāya mahājanassa uccārakaraṇaṭṭhānaṃ. So tattha gantvā rattiṃ gūthaṃ khāditvā mahājanassa sarīravalañjanatthāya āgamanakāle ekena hatthena pāsāṇassa ekaṃ antaṃ olubbha ekaṃ pādaṃ ukkhipitvā jaṇṇuke ṭhapetvā uddhaṃvātābhimukho mukhaṃ vivaritvā tiṭṭhati. Mahājano taṃ disvā upasaṅkamitvā vanditvā, “bhante, kasmā ayyo mukhaṃ vivaritvā ṭhito”ti pucchati. “Ahaṃ vātabhakkho, añño me āhāro natthī”ti. Atha “kasmā ekaṃ pādaṃ jaṇṇuke katvā ṭhitosi, bhante”ti? “Ahaṃ uggatapo ghoratapo, mayā dvīhi pādehi akkantā pathavī kampati, tasmā ekaṃ pādaṃ ukkhipitvā jaṇṇuke ṭhapetvā ṭhitomhi. Ahañhi rattindivaṃ ṭhitakova vītināmemi, na nisīdāmi, na nipajjāmī”ti. Manussā nāma yebhuyyena vacanamattameva saddahanti, tasmā “aho acchariyaṃ, evarūpāpi nāma tapassino honti, na no evarūpā diṭṭhapubbā”ti yebhuyyena aṅgamagadhavāsino saṅkhubhitvā upasaṅkamitvā māse māse mahantaṃ sakkāraṃ abhiharanti. So “ahaṃ vātameva bhakkhāmi, na aññaṃ āhāraṃ. Aññañhi me khādantassa tapo nassatī”ti tehi abhihaṭaṃ na kiñci icchati. Manussā “mā no, bhante, nāsetha, tumhādisena ghoratapena paribhoge kate amhākaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya saṃvattatī”ti punappunaṃ yācanti. Tassa añño āhāro na ruccati. Mahājanassa pana yācanāya pīḷito tehi ābhatāni sappiphāṇitādīni kusaggena jivhagge ṭhapetvā “gacchatha, alaṃ vo ettakaṃ hitāya sukhāya cā”ti uyyojesi. Evaṃ so pañcapaññāsa vassāni naggo gūthaṃ khādanto kese luñcanto bhūmiyaṃ sayamāno vītināmesi.
Buddhānampi kho paccūsakāle lokavolokanaṃ avijahitameva hoti. Tasmā ekadivasaṃ bhagavato paccūsasamaye lokaṃ volokentassa ayaṃ jambukājīvako ñāṇajālassa anto paññāyi. Satthā “kiṃ nu kho bhavissatī”ti āvajjetvā tassa saha paṭisambhidāhi arahattassūpanissayaṃ disvā “ahaṃ etaṃ ādiṃ katvā ekaṃ gāthaṃ bhāsissāmi, gāthāvasāne caturāsītiyā pāṇasahassānaṃ dhammābhisamayo bhavissati. Imaṃ kulaputtaṃ nissāya mahājano sotthibhāvaṃ pāpuṇissatī”ti ñatvā punadivase rājagahe piṇḍāya caritvā piṇḍapātapaṭikkanto ānandattheraṃ āmantesi – “ānanda, jambukājīvakassa santikaṃ gamissāmī”ti. “Bhante, kiṃ tumheyeva gamissathā”ti? “Āma, ahamevā”ti evaṃ vatvā satthā vaḍḍhamānakacchāyāya tassa santikaṃ pāyāsi.
Devatā cintayiṃsu – “satthā sāyaṃ jambukājīvakassa santikaṃ gacchati, so ca jegucche uccārapassāvadantakaṭṭhakiliṭṭhe piṭṭhipāsāṇe vasati, devaṃ vassāpetuṃ vaṭṭatī”ti attano ānubhāvena taṃ muhuttaṃyeva devaṃ vassāpesuṃ. Piṭṭhipāsāṇo suci nimmalo ahosi. Athassa upari pañcavaṇṇaṃ pupphavassaṃ vassāpesuṃ. Satthā sāyaṃ jambukājīvakassa santikaṃ gantvā “jambukā”ti saddamakāsi. Jambuko “ko nu kho esa, dujjano maṃ jambukavādena vadatī”ti cintetvā “ko eso”ti āha. “Ahaṃ samaṇo”ti. “Kiṃ mahāsamaṇā”ti? “Ajja me ekarattiṃ idha vasanaṭṭhānaṃ dehī”ti. “Natthi, mahāsamaṇa, imasmiṃ ṭhāne vasanaṭṭhāna”nti. “Jambuka, mā evaṃ kari, ekarattiṃ me vasanaṭṭhānaṃ dehi, pabbajitā nāma pabbajitaṃ patthenti, manussā manussaṃ, pasavo pasava”nti. “Kiṃ pana tvaṃ pabbajito”ti? “Āma, pabbajitomhī”ti. “Sace tvaṃ pabbajito, kahaṃ te lābukaṃ, kahaṃ dhūmakaṭacchuko, kahaṃ yaññasuttaka”nti? “‘Atthetaṃ mayhaṃ, visuṃ visuṃ pana gahetvā vicaraṇaṃ dukkha’nti abbhantareneva gahetvā carāmī”ti. So “carissasi tvaṃ etaṃ aggaṇhitvā”ti kujjhi. Atha naṃ satthā āha – “hotu, jambuka, mā kujjha, vasanaṭṭhānaṃ me ācikkhā”ti. “Natthi, mahāsamaṇa, ettha vasanaṭṭhāna”nti.
Satthā tassa vasanaṭṭhānato avidūre ekaṃ pabbhāraṃ atthi, taṃ niddisanto “etasmiṃ pabbhāre ko vasatī”ti āha. “Natthi koci, mahāsamaṇā”ti. “Tena hi etaṃ mayhaṃ dehī”ti. “Tvaññeva jāna, mahāsamaṇā”ti. Satthā pabbhāre nisīdanaṃ paññāpetvā nisīdi. Paṭhamayāme cattāro mahārājāno catuddisaṃ ekobhāsaṃ karontā satthu upaṭṭhānaṃ āgamiṃsu. Jambuko obhāsaṃ disvā “ko obhāso nāmeso”ti cintesi. Majjhimayāme sakko devarājā āgami. Jambuko tampi disvā “ko nāmeso”ti cintesi. Pacchimayāme ekāya aṅguliyā ekaṃ, dvīhi dve, dasahi dasa cakkavāḷāni obhāsetuṃ samattho mahābrahmā sakalaṃ araññaṃ ekobhāsaṃ karonto āgami. Jambuko tampi disvā “ko nu kho eso”ti cintetvā pātova satthu santikaṃ gantvā paṭisanthāraṃ katvā ekamantaṃ ṭhito satthāraṃ pucchi – “mahāsamaṇa, tumhākaṃ santikaṃ catasso disā obhāsento ke āgatā”ti? “Cattāro mahārājāno”ti. “Kiṃ kāraṇā”ti? “Maṃ upaṭṭhātu”nti. “Kiṃ pana tvaṃ catūhi mahārājehi uttaritaro”ti? “Āma, jambuka, mahārājūnampi atirājā”ti. “Majjhimayāme pana ko āgato”ti? “Sakko devarājā, jambukā”ti. “Kiṃ kāraṇā”ti? “Maṃ upaṭṭhātumevā”ti. “Kiṃ pana tvaṃ sakkadevarājatopi uttaritaro”ti? “Āma, jambuka, sakkatopi uttaritaromhi, eso pana mayhaṃ gilānupaṭṭhāko kappiyakārakasāmaṇerasadiso”ti. “Pacchimayāme sakalaṃ araññaṃ obhāsetvā ko āgato”ti? “Yaṃ loke brāhmaṇādayo khipitvā pakkhalitvā ‘namo mahābrahmuno’ti vadanti, so eva mahābrahmā”ti. “Kiṃ pana tvaṃ mahābrahmatopi uttaritaro”ti? “Āma, jambuka, ahañhi brahmunāpi atibrahmā”ti. “Acchariyosi tvaṃ, mahāsamaṇa, mayhaṃ pana pañca paññāsa vassāni idha vasantassa etesu ekopi maṃ upaṭṭhātuṃ nāgatapubbo. Ahañhi ettakaṃ addhānaṃ vātabhakkho hutvā ṭhitakova vītināmesiṃ, na tāva te mayhaṃ upaṭṭhānaṃ āgatapubbā”ti.
Atha naṃ satthā āha – jambuka, tvaṃ lokasmiṃ andhabālaṃ mahājanaṃ vañcayamāno mampi vañcetukāmo jāto, nanu tvaṃ pañcapaññāsa vassāni gūthameva khādi, bhūmiyaṃyeva nipajji, naggo hutvā vicari, tālaṭṭhikhaṇḍena kese luñci. Atha ca pana lokaṃ vañcento “ahaṃ vātabhakkho, ekapādena tiṭṭhāmi, na nisīdāmi, na nipajjāmī”ti vadesi, “mamampi vañcetukāmosi pubbepi tvaṃ pāpikaṃ lāmikaṃ diṭṭhiṃ nissāya ettakaṃ kālaṃ gūthabhakkho bhūmisayo naggo vicaranto tālaṭṭhikhaṇḍena kesaluñcanaṃ patto, idānipi pāpikaṃ lāmikaṃ diṭṭhimeva gaṇhāsī”ti. “Kiṃ pana mayā kataṃ, mahāsamaṇā”ti? Athassa satthā pubbe katakammaṃ ācikkhi. Tassa satthari kathenteyeva saṃvego uppajji, hirottappaṃ upaṭṭhitaṃ, so ukkuṭiko nisīdi. Athassa satthā udakasāṭikaṃ khipitvā adāsi. So taṃ nivāsetvā satthāraṃ vanditvā ekamantaṃ nisīdi. Satthāpissa anupubbiṃ kathaṃ kathetvā dhammaṃ desesi. So desanāvasāne saha paṭisambhidāhi arahattaṃ patvā satthāraṃ vanditvā uṭṭhāyāsanā pabbajjañca upasampadañca yāci. Ettāvatā tassa purimakammaṃ parikkhīṇaṃ. Ayañhi khīṇāsavamahātheraṃ catūhi akkosehi akkositvā yāvāyaṃ mahāpathavī tigāvutādhikaṃ yojanaṃ ussannā, tāva avīcimhi paccitvā tattha pakkāvasesena pañcapaññāsa vassāni imaṃ vippakāraṃ patto. Tenassa taṃ kammaṃ khīṇaṃ. Vīsati pana vassasahassāni iminā katassa samaṇadhammassa phalaṃ nāsetuṃ na sakkā. Tasmā satthā dakkhiṇahatthaṃ pasāretvā “ehi, bhikkhu, cara brahmacariyaṃ sammā dukkhassa antakiriyāyā”ti āha. Tāvadevassa gihiliṅgaṃ antaradhāyi aṭṭhaparikkhāradharo saṭṭhivassikamahāthero viya ahosi.
Aṅgamagadhavāsīnaṃ tassa sakkāraṃ gahetvā āgatadivaso kiresa, tasmā ubhayaraṭṭhavāsino sakkāraṃ gahetvā āgatā tathāgataṃ disvā “kiṃ nu kho amhākaṃ ayyo jambuko mahā, udāhu samaṇo gotamo”ti cintetvā “sace samaṇo gotamo mahā bhaveyya, ayaṃ samaṇassa gotamassa santikaṃ gaccheyya, jambukājīvakassa pana mahantatāya samaṇo gotamo imassa santikaṃ āgato”ti cintayiṃsu. Satthā mahājanassa parivitakkaṃ ñatvā, “jambuka, tava upaṭṭhākānaṃ kaṅkhaṃ chindāhī”ti āha, so “ahampi, bhante, ettakameva paccāsīsāmī”ti vatvā catutthajjhānaṃ samāpajjitvā uṭṭhāya tālappamāṇaṃ vehāsaṃ abbhuggantvā “satthā me, bhante bhagavā, sāvakohamasmī”ti vatvā oruyha vanditvā puna dvitālamattaṃ titālamattanti evaṃ sattatālamattaṃ vehāsaṃ abbhuggantvā oruyha attano sāvakabhāvaṃ jānāpesi. Taṃ disvā mahājano “aho buddhā nāma acchariyā anopamaguṇā”ti cintesi. Satthā mahājanena saddhiṃ kathento evamāha – “ayaṃ ettakaṃ kālaṃ tumhehi ābhataṃ sakkāraṃ kusaggena jivhagge ṭhapetvā ‘tapacaraṇaṃ pūremī’ti idha nivuṭṭho, sacepi iminā upāyena vassasataṃ tapacaraṇaṃ pūreyya, yā cassa idāni kālaṃ vā bhattaṃ vā kukkuccāyitvā abhuñjantassa bhattacchedanakusalacetanā, tassā taṃ tapacaraṇaṃ soḷasiṃ kalampi na agghatī”ti anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Māse māse kusaggena, bālo bhuñjeyya bhojanaṃ;
Na so saṅkhātadhammānaṃ, kalaṃ agghati soḷasi”nti.
Tassattho – sace bālo apariññātadhammo sīlādiguṇā paribāhiro titthāyatane pabbajito “tapacaraṇaṃ pūressāmī”ti māse māse patte kusaggena bhojanaṃ bhuñjanto vassasataṃ bhuñjeyya bhojanaṃ. Na so saṅkhātadhammānaṃ, kalaṃ agghati soḷasinti saṅkhātadhammā vuccanti ñātadhammā tulitadhammā. Tesu heṭṭhimakoṭiyā sotāpanno saṅkhātadhammo, uparimakoṭiyā khīṇāsavo. Imesaṃ saṅkhātadhammānaṃ so bālo kalaṃ na agghati soḷasinti puggalādhiṭṭhānā desanā. Ayaṃ panettha attho – yā cassa tathā tapacaraṇaṃ pūrentassa vassasataṃ cetanā yā ca saṅkhātadhammānaṃ kālaṃ vā bhattaṃ vā kukkuccāyitvā abhuñjantānaṃ ekā bhattacchedanakusalacetanā, tassā cetanāya sā tāva dīgharattaṃ pavattacetanā soḷasiṃ kalaṃ na agghati. Idaṃ vuttaṃ hoti – yaṃ tassā saṅkhātadhammānaṃ cetanāya phalaṃ, taṃ soḷasa koṭṭhāse katvā tato ekekaṃ puna soḷasa soḷasa koṭṭhāse katvā tato ekassa koṭṭhāsassa yaṃ phalaṃ, tadeva tassa bālassa tapacaraṇato mahapphalataranti.
Desanāvasāne caturāsītiyā pāṇasahassānaṃ dhammābhisamayo ahosīti.
Jambukattheravatthu ekādasamaṃ.
V. 11. Jambuka The Naked Ascetic
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
70. Though month after month with the tip of a blade of kusa grass a simpleton should eat his food,
Yet is he not worth a sixteenth part of them that have well weighed the Law.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Veḷuvana with reference to Jambuka, the Naked Ascetic.
11 a. Story of the Past: The jealous monk
The story goes that in times long past, in the dispensation of the Supremely Enlightened Kassapa, a certain layman dwelling in a village erected a residence for a certain Elder, and supplied him with the four requisites during his term of residence there, the Elder taking his meals regularly in the layman’s house. Now a certain monk freed from the Depravities, making his round for alms by day, stopped at the door of the layman’s house. When the layman saw him, pleased with his deportment, he invited him into his house, and reverently served him with the choicest viands. And he presented him with a large robe, saying, “Reverend Sir, dye this robe and wear it as an undergarment.” And he said further to him, “Reverend Sir, your hair has grown long; I will go fetch a barber to cut your hair. And on my return I will procure you a bed for you to lie on.”
When the monk who was the layman’s guest, and who took his meals regularly in the layman’s house, saw the attentions bestowed on the visiting monk by the layman, he became very jealous. And as he went to his residence, he thought to himself, “This moment this layman is devoting all his attentions to this visiting monk. But to me, who take my meals in his house regularly, he pays no attention at all.” The visiting monk, who was his sole companion, dyed the robe which the layman had given him, and put it on and wore it as an undergarment. The layman brought the barber back with him and had him cut the Elder’s hair. Having so done, he caused a bed to be spread for the Elder and said to him, “Reverend Sir, lie on this very bed.” Then, after inviting the two Elders to be his guests on the morrow, he departed.
The resident monk could endure no longer the attentions bestowed by the layman on the visiting monk. So in the evening he went to the place where the Elder lay, and reviled him by uttering the four kinds of insults: “Brother visitor, you might better eat excrement than eat food in the layman’s house. You might better tear out your hair with a Palmyra comb than allow your hair to be cut by a barber brought hither by the layman. You might better go naked than wear as an undergarment a robe given you by the layman. You might better lie on the ground than lie on a bed brought you by the layman.” Thought the visiting Elder, “May this foolish fellow not be destroyed because of me!” Paying no attention to the insults of the resident monk, he arose early in the morning and went whithersoever he wished.
The resident monk also arose early in the morning, and performed the customary duties about his residence. When it was time for him to set out on his round for alms, thinking to himself, “The visiting Elder is undoubtedly asleep now, and will awaken at the sound of the bell,” he struck the bell with the outer surface of his finger nail. Having so done, he entered the village. After preparing offerings of food, the layman watched for the two Elders to come. Seeing the resident monk, he asked, “Reverend Sir, where is the visiting Elder?” The resident monk replied, “Brother, what say you? The Elder who came to your house yesterday went into an inner room as soon as you departed, and fell asleep. Although I rose very early, he pays no attention either to the noise of my sweeping the residence, or to the sound of the washing of the jars for water for drinking and for refreshment, or to the stroke of the bell.”
Thought the layman to himself, “It is incredible that my noble Elder, a monk so perfect in deportment, should sleep until this time of day. It must be that the Venerable Elder resident in my household, observing my attentions to him, said something to him.” Accordingly, wise man that he was, the layman reverently served the resident monk with food; and having so done, washed his bowl carefully, filled it with food flavored with the choicest gravies, and said to him, “Reverend Sir, should you happen to see my noble Elder, be good enough to give him this food.” The monk took the bowl and thought to himself, “If the Elder eats such food as this, he will take such a liking to this spot that he will never leave it.” So as he went along the road, he threw away that food. When he reached the Elder’s place of residence, he looked for him there, but failed to find him.
Now because the monk committed this evil deed, the meditations he performed for so long as twenty thousand years were powerless to protect him. When the term of his life was completed, he was reborn in the Avīci Hell, where he suffered extreme torment for the space of an interval between two Buddhas. In the dispensation of the present Buddha he was reborn in the city of Rājagaha in a certain household possessed of an abundant store of food and drink.
11b. Story of the Present: Jambuka the Naked Ascetic
From the time he could walk, he would neither lie on a bed nor eat ordinary food, but ate only his own excrement. His mother and father brought him up, thinking, “He does this because he is too young to know any better.” But also when he grew older, refusing to wear clothes, he went naked, made his bed on the ground, and ate only his own excrement. Thought his mother and father, “This youth is not fit to live in a house. He is fit to live only with the Naked Ascetics, the Ājīvakas.” So they took him to the Ājīvakas and committed him to their charge, saying, “Admit this youth to your Order.” So they admitted him to their Order. In admitting him they placed him in a pit up to his neck, laid planks over his two collarbones, and seating themselves on the planks, pulled out his hair with Palmyra combs. His mother and father invited the Ājīvakas to be their guests on the following day and departed.
On the following day the Ājīvakas said to him, “Come, let us go into the village.” But he refused to go, saying, “You go, but I shall remain right here. They repeatedly urged him to accompany them, but he refused to do so, and they left him behind and went their way. When he knew they were gone, he removed a plank from the public jakes, and descending therein, took up excrement in both his hands, molded it into lumps, and ate it. The Ājīvakas sent him food from the village, but he refused to eat it. Repeatedly urged to do so, he said, “I have no need of this food; I get food of my own.” “Where do you get it?” said they. “Right here,” said he. Likewise on the second day and on the third and on the fourth he refused, in spite of much urging, to accompany them to the village, saying, “I shall remain right here.”
Said the Ājīvakas, “Day after day this man refuses to accompany us to the village. Likewise he will have none of the food we send him and says, ‘Right here I procure food of my own.’ What can he be doing? Let us watch him and find out for ourselves.” So when they went to the village, they left two of their number behind to watch him. These men pretended to follow in the train of the other monks and then went and hid themselves. As soon as he thought they had gone, he descended as before into the jakes and began to eat excrement. When the spies saw what he was doing, they told the Ājīvakas. As soon as the Ājīvakas heard the news, they said to themselves, “Oh, what an outrageous thing he has done! If the disciples of the monk Gotama should learn of this, they would circulate evil report of us, saying, ‘The Ājīvakas make a practice of eating excrement.’ This man is not fit to remain with us.” So they expelled him from their Order.
Now the public jakes was a pool of considerable size, formed by a depression in the surface of a flat rock. When Jambuka had been expelled by the Ājīvakas, he used to go by night to the public jakes and eat filth. When people came to ease themselves, he would stand leaning with one hand on one side of the rock, with one foot raised and resting on his knee, with his mouth wide open, facing in the direction of the wind. When people saw him, they would approach and salute him and ask him, “Reverend Sir, why does your noble self stand there with mouth wide open?” “I am a wind-eater,” Jambuka would reply; “I have no other food.” “But, Reverend Sir, why do you stand with one foot resting on your knee?” “I am a man who practices cruel austerities, dreadful austerities. If I walk with my two feet, the earth quakes. Therefore I stand with one foot resting on my knee. I spend my life in a standing posture, never sitting and never lying down.”
For the most part men believed whatever he said. Therefore all the inhabitants of Aṅga and Magadha were greatly agitated and said, “Oh, how wonderful are such ascetics as these! Never before have we seen such ascetics!” And month after month they brought him abundant food. But he was unwilling to accept anything they brought him and said, “I eat only the wind. I have no other food; for were I to eat any other food, it would make an end of my austerities.” But the people replied, “Reverend Sir, do not destroy us. If only an austere ascetic like you would partake of food at our hands, it would insure our welfare and salvation for a long period of time.” They asked him repeatedly, but other food did not please him. But finally, under the pressure of their entreaties, he placed on the tip of his tongue with the tip of a blade of kusa grass some butter, honey, and molasses they brought him, and dismissed them with the following words, “Go your way now; this will suffice to your welfare and salvation.” In this manner he spent fifty-five years, going naked, eating excrement, tearing out his hair, and making his bed on the ground.
It is the invariable practice of the Buddhas to survey the world at dawn. Therefore one day, as the Buddha surveyed the world, this Naked Ascetic Jambuka entered the Net of his Knowledge. “What will happen?” pondered the Teacher. Straightway he perceived that Jambuka possessed the dispositions requisite for the attainment of Arahatship with the Supernatural Faculties. And he became aware of the following, “I will pronounce a single Stanza, and at the conclusion of the Stanza, beginning with this ascetic, eighty-four thousand living beings will obtain Comprehension of the Law. Through this man a great multitude will win Salvation.”
On the following day the Teacher made his round for alms in Rājagaha, and when he had returned from his round, he said to the Elder Ānanda, “Ānanda, I intend to go to the Naked Ascetic Jambuka.” “Reverend Sir, can it be that you intend to go to him?” “Yes, Ānanda, I do.” Having so said, as the shadows of evening lengthened, the Teacher set out to go to him. Thereupon the deities thought, “The Teacher is going to visit the Naked Ascetic Jambuka. Now Jambuka lives on a flat rock polluted by excrement, urine, and toothsticks. We must therefore cause rain to fall.” So by their own supernatural power they caused rain to fall, though but for a moment. Immediately the flat rock was pure and spotless. For the deities caused the five kinds of rain to fall upon that rock.
In the evening, therefore, the Teacher went to the Naked Ascetic Jambuka. And making a slight noise, he said, “Jambuka!” Jambuka thought to himself, “What wicked fellow is this that addresses me as Jambuka?” And he replied, “Who is it?” “It is I, a monk.” “What do you wish, great monk?” “Give me lodging here for just one night.” “There is no lodging to be had here, great monk.” “Jambuka, do not act thus; give me lodging for just one night. For monks seek the society of a monk, men the society of men, and animals the society of animals.” “But are you a monk?” “Yes, I am a monk.” “If you are a monk, where is your gourd, where is your wooden spoon, where is your sacrificial thread?” “All these I use; but because I find it troublesome to carry them about with me to every place I visit, I obtain them within and take them with me when I go.” At this Jambuka was offended and said, “So you intend to take them with you when you go?” Then said the Teacher to him, “Never mind, Jambuka; tell me where I can find lodging.” “There is no lodging to be had here, great monk.”
Now there was a certain mountain-cave not far from Jambuka’s place of abode; and the Teacher, pointing to it, asked, “Is there anyone who lives in that mountain-cave?” “No one lives there, great monk.” “Well then, permit me to lodge there.” “Suit yourself, great monk.” So the Teacher prepared a bed in the mountain-cave and lay down. In the first watch the Four Great Kings came to wait upon the Teacher, illuminating the four quarters with one blaze of light. Jambuka saw the light and thought to himself, “What is that light?” In the second watch came Sakka king of the gods. Jambuka saw him and thought to himself, “Who is that?” In the third and last watch drew near Mahā Brahmā, who with one finger can illuminate one Cakkavāḷa, with two fingers two Cakkavāḷas, and with ten fingers ten, illuminating the whole forest. Jambuka saw him also and thought to himself, “Who can that be?”
So early the next morning he went to the Teacher, greeted him in a friendly manner, and taking his stand respectfully on one side, asked the Teacher, “Great monk, who were they that came to you, illuminating the four quarters as they came?” “The Four Great Kings.” “Why did they come to you?” “To wait upon me.” “But are you superior to the Four Great Kings?” “Yes, Jambuka, I am Sovereign Lord of the Four Great Kings.” “And who was it that came to you in the second watch?” “Sakka king of the gods.” “Why did he come to you?” “He came also to wait upon me.” “But are you superior to Sakka king of the gods?” “Yes, Jambuka, I am superior to Sakka. Indeed, Sakka stands to me in the relation of a novice, as it were; one who does for me anything I need to have done; my physician in time of sickness.” “Who was it that came to you in the third and last watch, illuminating the whole forest as he came?” “That was Mahā Brahmā, to whom blundering, stumbling Brahmans and others cry, ‘Praise be to Mahā Brahmā!’ ” “But are you superior also to Mahā Brahmā?” “Yes, Jambuka, for I am he that is Brahmā over Brahmā.”
“You are a wonderful person, great monk. But I have dwelt here for fifty-five years, and in all these years not a single person has come to wait upon me; indeed, during all this period of time I have lived upon the wind and have remained in a standing posture, and yet none have come to wait upon me.” Then said the Teacher to him, “Jambuka, you have succeeded in deceiving the foolish multitude living in the world, and now you are attempting to deceive me. Is it not a fact that during these fifty-five years you have eaten excrement, made your bed upon the ground, gone naked, and pulled out your hair with a Palmyra comb? But you have deceived the world, saying, ‘My food is the wind; I stand on one foot; I sit not down; I lie not down.’ Now you are seeking to deceive me also. It is because of the low, false views which you held in a previous state of existence that you have all this time eaten excrement, made your bed upon the ground, gone naked, and pulled out your hair with a Palmyra comb. So also now you hold only low, false views.” “But, great monk, what was it I did in a previous state of existence?” Then the Teacher related to him the evil deed he had committed in a previous state of existence.
As the Teacher related the story to him, he was deeply moved, a sense of modesty and fear of mortal sin sprang up within him, and he crouched upon the ground. The Teacher tossed him a bath-robe, and he put it on. Then he saluted the Teacher and sat down respectfully on one side. When the Teacher had completed his story of Jambuka’s former deed, he preached the Law to him. At the conclusion of the Teacher’s discourse he attained Arahatship together with the Supernatural Faculties. Then, saluting the Teacher, he arose from his seat and asked the Teacher to admit him and to profess him as a member of the Order.
Thus finally was exhausted the demerit he acquired by an evil deed committed in a previous state of existence. For this Jambuka, by reason of the four insults with which he had insulted a Great Elder who was an Arahat, was tormented in the Avīci Hell until this great earth was elevated a league and three quarters; and because the fruit of his evil deed was not yet exhausted, he lived in shame for fifty-five years. But because this evil deed, once the fruit thereof was exhausted, could not destroy the fruit of the meditations which he had performed for twenty thousand years, therefore was it that the Teacher stretched forth his right hand to him and said, “Come, monk! lead the holy life.” At that moment his characteristics as a layman vanished, and he took on the form of an Elder sixty years old, furnished with the Eight Requisites.
We are told that this was the day when the inhabitants of Aṅga and Magadha came to him with offerings. When, therefore, the inhabitants of both kingdoms came to him with offerings and saw the Tathāgata, they thought, “Which is the greater of the two, our noble ascetic Jambuka or the monk Gotama?” And they came to the following conclusion, “Were the hermit Gotama the greater, this ascetic would go to the monk Gotama. But by reason of the superior greatness of the Naked Ascetic Jambuka, the monk Gotama has come to him.” When the Teacher perceived the thought of the multitude, he said, “Jambuka, resolve the doubt of your supporters.”
“Reverend Sir,” replied Jambuka, “this is the very thing I should most like to do.” And forthwith entering into the fourth trance and arising therefrom, he soared into the air to the height of a palmyra-tree. Then he cried out, “Reverend Sir, the Exalted One is my Teacher, and I am his disciple.” Then he descended to the ground and saluted the Teacher. After that, again soaring into the air to the height of two palmyra-trees, then to the height of three palmyra-trees, and so on to the height of seven palmyra-trees, he proclaimed his own discipleship and descended.
When the multitude saw this, they thought, “Oh, wonderful indeed and of lofty powers are the Buddhas!” Thereupon the Teacher addressed the multitude, saying, “All this time has this ascetic lived here, placing on the tip of his tongue with the tip of a blade of kusa grass the food which you have brought to him, and saying, ‘Thus I am fulfilling the duties of an ascetic.’ But were he now to abstain from food through a feeling of remorse, these ascetic practices would not be worth a sixteenth part of the meritorious thought which actuates him to abstain from food.” And joining the connection, he expounded the Law by pronouncing the following Stanza,
70. Though month after month with the tip of a blade of kusa grass a simpleton should eat his food,
Yet is he not worth a sixteenth part of them that have well weighed the Law.
- From this story is derived Thera-Gāthā Commentary, cxc. Dhammapāla quotes the Dhammapada Commentary by name. This story is referred to at Milindapañha, 35010-11. Text: N ii. 52-63.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.