Tích Long Vương Erakapatta
Erakapattanāgarājavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 182 Kinh Pháp Cú, phẩm Phật, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 182)
“Kiccho manussapatilaabho
Kicchaṃ macchaana jiivitaṃ
Kicchaṃ saddhammasavanaṃ
Kiccho buddhaanaṃ uppaado.”
“Khó thay được làm người!
Khó thay sống vui tươi!
Khó thay nghe diệu pháp!
Khó thay Phật ra đời!”
(Ngài HT Minh Châu)
Kệ ngôn Pháp Cú nầy được Đức Thế Tôn thuyết lên, khi Ngài ngự tại thành Bāranasī, đề cập đến Long Vương Erakapatta.
Tương truyền rằng: Vào thời Giáo pháp của Đức Thế Tôn Kassapa, Long vương Erakapatta là một vị Tỳ Khưu trẻ, một khi đi thuyền trên dòng sông Gangā, dòng nước chảy xiết, khiến thuyền trôi băng băng, kinh hãi vị ấy nắm lấy bụi cỏ tranh để giữa lại, vô ý làm đứt cọng cỏ tranh ấy. Vì vô ý cho rằng đây là lỗi nhẹ, vị ấy không sám hối, có ý nghĩ rằng: “Đây chỉ là lỗi nhỏ bé”.
Tuy hành Sa môn pháp hết 20 ngàn năm, nhưng khi gần lâm chung, vị ấy có cảm tưởng nhiều cọng cỏ tranh đang cứa vào cổ mình, tâm bứt rứt vì lỗi lầm ấy sanh khởi, vị ấy muốn sám hối lỗi lầm, nhưng hại thay vào khi ấy chẳng có vị nào là Tỳ Khưu ở quanh đó, vị ấy khởi lên nhiệt não rằng: “Ôi! Giới của ta đã bất tịnh rồi”.
Mạng chung, vị ấy tái sanh làm Long Vương, có thân hình to lớn như chiếc thuyền. Có tên gọi là Long Vương Erakapatta, khi sanh ra, Long Vương nhìn thấy mình mang thân là loài thú, phát sanh nhiệt não rằng:
- Ta đã hành Sa môn Pháp trọn 20 ngàn năm, lại phải tái sanh vào hạng vô nhân như thế nầy ư?
Thời gian san, Long Vương Erakapatta có được một nàng Long nữ, y huấn luyện con gái mình ca múa điêu luyện, rồi y đặt Long Nữ lên cái mang phùn rộng của mình, nổi lên mặt sông Gangā, cho nàng Long Nữ nhảy múa. Được biết rằng: Y khởi lên sự suy nghĩ rằng: “Bằng cách cho con gái ta hát đối, ta sẽ biết được Bậc Chánh Đẳng Giác đã xuất hiện trên thế gian nầy chưa? Người nào đáp đối lại được câu đố của con ta, ta sẽ nhường cả Long Cung cho người ấy ngự trị.”
Thế là, cứ mỗi nửa tháng, vào ngày Uposatha, y cùng con gái nổi lên giữa sông Gangā hát đối như thế nầy:
Nàng Long Nữ đứng trên chiếc mang phùn rộng của Long Vương, nhảy múa rồi hát lên rằng:
“Người lớn như thế nào được gọi là Vua? Như thế nào gọi là Vua có bụi trên đầu? Như thế nào gọi là không có bụi? Như thế nào người gọi là người ngu?”
Toàn dân trên cõi Diêm Phù đều hiểu rõ câu chuyện rằng: Nếu hát đối được câu hát đối của Long Nữ, sẽ được cưới nàng và làm chủ Long Cung, nên đều đi đến sông Gangā, vận dụng trí tuệ để tìm câu hát đối lại câu hát của Long Nữ. Nhưng họ đều bị nàng Long Nữ vạch rõ những chỗ sai lầm trong câu hát đối với họ.
Cứ như thế, rồi nửa tháng thì Long Vương nổi lên một lần, suốt cả thời gian dài không một ai giải đáp câu hát đối có được.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn Gotama đã xuất hiện trong thế gian, Ngài ban cho chúng sanh Bất Tử Lộ. Theo thông lệ, vào hửng sáng Ngài dùng Phật trí quán xét thế gian, tìm người hữu duyên lành nên tế độ, thấy được duyên lành của thanh niên Uttara và Long Vương Erakapatta. Ngài quán rằng: “Đây là do nhân gì thế?” Ngài thấy rằng: “Hôm nay, Long Vương Erakapatta cùng con gái nổi lên hát đối trên mặt sông Gangā. Thanh niên Uttara sẽ học lấy lời giải của Đấng Như Lai, chàng sẽ chứng ngộ Dự Lưu Quả. Long Vương Erakapatta sẽ hiểu biết rằng: “Đức Chánh Đẳng Giác đã xuất hiện trong thế gian”. Long Vương sẽ đi đến đảnh lễ Như Lai, nhân đó Như Lai sẽ thuyết lên pháp thoại giữa đại chúng, dứt kệ ngôn có 84 ngàn chúng sanh chứng đạt Đạo Quả. Long Vương trú vào Tam qui.
Vào buổi sáng hôm ấy, sau khi vận mặc y, Ngài cầm bát ngự đến gần bờ sông Gangā, gần nơi Long Vương Erakapatta sắp nổi lên, Ngài ngồi dưới gốc cây Phượng Vĩ, đây là một trong 7 cây Phượng nổi tiếng của cõi Diêm Phù, gần thành Bārānasī. Bấy giờ, dân chúng cùng nhau mang câu hát đối của Long Nữ ra bàn luận, chàng thanh niên Uttara cũng đi đến bờ sông, nơi Long Vương cùng Long Nữ nổi lên để hát đối, mong chiếm được nàng Long Nữ yêu kiều ấy. Trông thấy chàng từ xa đi đến, khi chàng trông thấy Đức Thế Tôn đang ngồi dưới gốc cây Phượng Vĩ, Uttara đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn, xong rồi ngồi vào nơi phải lẽ, Đức Thế Tôn phán hỏi:
- Nầy Uttara! Ngươi đi đâu thế?
- Bạch Thế Tôn! Con đi đến nơi Long Vương Erakapatta sắp nổi lên để hát đối cùng với Long Nữ.
- Ngươi cố biết câu hát để đối lại câu hát của Long Nữ ấy chăng?
- Bạch Thế Tôn! Con biết.
- Ngươi hãy hát lên xem nào?
Thanh niên Uttara hát lên câu hát đối theo trí tuệ của y đã nghĩ ra, Bậc Đạo Sư phán dạy y rằng:
- Nầy Uttara! Đó không phải là lời giải đáp câu hát đối của Long Nữ đâu. Nầy Uttara, ngươi hãy học câu hát nầy, đó là lời giải đáp.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Nầy Uttara! Khi Long Nữ hát đố xong, ngươi hãy hát lại rằng:”Người chế ngự được sáu căn gọi là Vua, Đức Vua có dục vọng gọi là có bụi trên đầu. Người không có dục vọng gọi là người bô trần cá. Người có dục vọng gọi là người ngu”
Câu Hát đố của Long Nữ, theo Pāli là như vậy:
“Kiṃsu edhipatīrājā Kiṃsu rājā rajassiro Kedhaṃ
su?”
- Người như thế nào gọi là Vua? Như thế nào gọi là Vua có bụi trên đầu? Như thế nào gọi là Vua không có bụi.
- Câu Đáp giải là:
“Chavārādhipatī Rajamāno rajassiro Arajaṃ.”
- Người làm chủ được sáu căn và cả sáu cảnh như
sắc…dù chỉ một căn cũng không thể xâm nhập được, người ấy gọi là Vua. Vị Vua có dục vọng gọi là có bụi trên đầu. Người có dục vọng gọi là người ngu.
Bậc Đạo Sư dạy câu hát đáp ấy cho chàng thanh niên Uttara xong rồi, Ngài phán rằng:
- Nầy Uttara! Khi ngươi hát lên câu hát giải đáp nầy rồi, Long Nữ sẽ hát đố tiếp rằng: “Cái gì người ngu bị cuốn trôi? Bậc trí thường giải trừ như thế nào? Thế nào mới gọi là người có sự an lạc khỏi trói buộc? Ta hỏi chàng, hãy vui lòng trả lời câu hỏi của ta.”
Khi ấy, ngươi hãy đáp lại như vậy: “Người ngu bị dòng nước tức dục bộc…) cuốn trôi, Bậc trí thường giải trừ (bộc lưu) ấy với sự tinh tấn. Bậc trí hằng không có sự trói buộc, Ngài gọi là người có sự an lạc khỏi bị trói buộc.”
Câu nầy có ý nghĩa như vậy:
“Người ngu thường bị bộc lưu (phiền não ví như
dòng nước), có bốn loại bộc là: Dục bộc, hữu bộc, kiến bộc và vô minh bộc cuốn trôi chúng sanh. Bậc trí thường giải trừ bộc lưu ấy với sự tinh cần, tức là Sammappadhāna (Tứ Chánh Cần). Bậc trí không có sự trói buộc như dục kết… Ngài gọi người như thế là người có sự an lạc khỏi trói buộc”.
Chàng thanh niên Uttara đang học thuộc câu hát đối như thế, thì chứng đạt được Quả vị Tu Đà Hườn. Khi học thuộc kệ ngôn rồi, chàng đảnh lễ Đức Thế Tôn, từ giả ra đi đến nơi Long Vương nổi lên, nói với đại chúng rằng:
Chàng đứng giữa đại chúng đông đảo, khi ấy Long Nữ đang nhảy múa, hát rằng: “Người như thế nào gọi là Vua?”. Chàng Uttara đáp rằng: “Người làm chủ được sáu căn gọi là Vua”
Long Nữ hát tiếp rằng:
“Như Thế nào gọi là Đức Vua có bụi trên đầu?” –
“Đức Vua có dục vọng, gọi là có bụi trên đầu”…
Long Nữ lại hát đố tiếp câu thứ hai rằng:
“Cái gì người ngu bị cuống trôi?…”
Thanh niên Uttara đáp lại rằng:
- Người ngu bị dòng nước cuốn trôi…
Nghe được những lời hát giải đáp của thanh niên
Uttara, Long Vương Erakapatta biết rằng: Đức Phật đã khởi hiện trên thế gian, tâm y vô cùng hoan hỷ rằng: “Ta chưa từng được nghe câu kệ giải đáp nầy suốt cả khoảng thời gian dài không có Đức Phật, nay có được kệ ngôn nầy, hẳn là Đức Phật đã xuất hiện.” Y liền tuyên bố giữa đại chúng rằng:
- Nầy quí vị, Đức Phật đã hiện khởi trên thế gian rồi.
Y hoan hỷ dùng đuôi đập mạnh xuống nước, nước dạt thành hai ngọn sống lớn cuốn tấp lên hai bên bờ, đại chúng khoảng 1 usebha cả hai bên bờ đều rơi xuống nước, Long Vương dùng mang của mình để đại chúng lên trên đó như là chiếc thuyền, rồi đưa đại chúng lên bờ. Long Vương tìm đến thanh niên Uttara, hỏi rằng:
- Nầy chàng trẻ tuổi! Bậc Đạo Sư hiện đang ngụ nơi đâu?
- Ngài đang ngự dưới gốc cây Phượng vĩ, là một trong bảy cây thượng nổi tiếng, gần thành Bàrànasi.
- Hãy đến đây chàng trẻ tuổi, chàng hãy đưa ta đến đảnh lễ Đức Thế Tôn đi.
Long vương cùng với Uttara với đại chúng đi đến nơi ngụ của Đức Thế Tôn. Long Vương đi vào giữa hào quang sáu màu, đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi đứng lặng mà khóc. Bậc Đạo Sư phán hỏi rằng:
- Nầy Long Vương! Chuyện chi ngươi lại sầu thảm như thế?
- Bạch Thế Tôn! Trước đây con là một vị Tỳ Khưu trong Giáo Pháp của Đức Thế Tôn hiệu Kassapa, con đã hành Sa môn Pháp trọn cả 20 ngàn năm, Sa môn Pháp ấy không thể hộ trì cho con được, chỉ vì con đã dễ duôi, không sám hối tội làm đứt cọng cỏ tranh. Nay con lại phải sanh vào Bàng sanh giới, là hạng người vô nhân, thuộc loài bò trườn, không được làm người để được nghe Chánh Pháp, không được gặp Phật như Ngài suốt cả một thời gian dài rồi.
Nghe Long Vương bạch như thế, Bậc Đạo Sư phán rằng:
- Nầy Long Vương! Quả thật như thế, được sanh làm người là điều khó, được nghe Chánh Pháp là điều khó, được thấy Đức Phật là điều khó. Cả ba điều nầy, người hằng khó đạt được.
Rồi Ngài tuyên thuyết lên kệ ngôn rằng:
“Kiccho manussapatilaabho
Kicchaṃ macchaana jiivitaṃ
Kicchaṃ saddhammasavanaṃ
Kiccho buddhaanaṃ uppaado.”
“Khó thay được làm người!
Khó thay sống vui tươi!
Khó thay nghe diệu pháp!
Khó thay Phật ra đời!”
(Ngài HT Minh Châu)
182. Được sanh làm người quả thật hiếm hoi. Kiếp sống làm người quả thật khó. Nghe được chân lý tối thượng quả là khó. Hy hữu thay, có được vị Phật ra đời.”
CHÚ GIẢI:
Ý nghĩa kệ ngôn nầy nên hiểu như sau:
“Được xác thân làm người là khó”, vì được sanh làm người rất khó, người cần phải tinh cần với nhiều thiện pháp”.
“Sự sống thọ của chúng sanh thật là khó”, vì rằng phải làm nhưng việc làm hằng ngày để duy trì được mạng sống, sự sống nầy quá mỏng manh.
“Được nghe Chánh Pháp cũng là điều khó”, vì khó tìm người nói pháp, cả kiếp cũng khó tìm được.
Lại nữa, được gặp Phật ra đời cũng là điều khó vô cùng, vì phải có hành đủ Pháp độ với sự tinh tấn nhiều. Và khi người có được pháp độ như thế rồi, cũng chẳng phải gặp được vị Chánh Đẳng Giác xuất hiện, có khi phải trãi qua thời gian cả ngàn koti kiếp.
Dứt Pháp thoại có 84 ngàn chúng sanh an trú vào Thánh Quả. Lẽ ra, Long Vương Erakapatta cũng chứng đạt Dự Lưu, nhưng vì phải mang thân thú, Long Vương ấy có năm chướng ngại với thân Rồng là phải xuất hiện nguyên hình tướng với năm trường hợp: Khi tái sanh, khi lột da, khi ngủ mê, khi giao hợp cùng Long Nữ cùng chủng và khi chết. Vì Long Vương khó mang thân Rồng đi đây đi đó, nên Long Vương Erakapatta thường hóa thân thành thanh niên để đi
Kiếp trước làm sư rủi lỡ tay
Bứt chằm cỏ lát, bỏ đi ngay.
Vì không sám hối, sau sa đọa,
Mang lốt Long Vương, khổ lắm thay!
Muốn biết chừng nào Phật ra đời,
Cho con hát đố kén chồng người,
Đến khi gặp Phật và nghe pháp,
Tủi hổ thân mình, nước mắt rơi!
Thân người khó được lắm ai ơi,
Sống được lâu dài khó chẳng chơi,
Pháp Phật được nghe là chuyện khó.
Khó mà gặp Phật Tổ ra đời.
DỨT TÍCH LONG VƯƠNG ERAKAPATTA
Erakapattanāgarājavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Kiccho manussapaṭilābhoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā bārāṇasiyaṃ upanissāya sattasirīsakarukkhamūle viharanto erakapattaṃ nāma nāgarājaṃ ārabbha kathesi.
So kira pubbe kassapabuddhasāsane daharabhikkhu hutvā gaṅgāya nāvaṃ abhiruyha gacchanto ekasmiṃ erakagumbe erakapattaṃ gahetvā nāvāya vegasā gacchamānāyapi na muñci, erakapattaṃ chijjitvā gataṃ. So “appamattakaṃ eta”nti āpattiṃ adesetvā vīsati vassasahassāni araññe samaṇadhammaṃ katvāpi maraṇakāle erakapattena gīvāya gahito viya āpattiṃ desetukāmopi aññaṃ bhikkhuṃ apassamāno “aparisuddhaṃ me sīla”nti uppannavippaṭisāro tato cavitvā ekarukkhadoṇikanāvappamāṇo nāgarājā hutvā nibbatti, erakapattotvevassa nāmaṃ ahosi. So nibbattakkhaṇeyeva attabhāvaṃ oloketvā “ettakaṃ nāma kālaṃ samaṇadhammaṃ katvā ahetukayoniyaṃ maṇḍūkabhakkhaṭṭhāne nibbattomhī”ti vippaṭisārī ahosi. So aparabhāge ekaṃ dhītaraṃ labhitvā majjhe gaṅgāya udakapiṭṭhe mahantaṃ phalaṃ ukkhipitvā dhītaraṃ tasmiṃ ṭhapetvā naccāpetvā gāyāpesi. Evaṃ kirassa ahosi – “addhā ahaṃ idha iminā upāyena buddhe uppanne tassa uppannabhāvaṃ suṇissāmī”ti. Yo me gītassa paṭigītaṃ āharati, tassa mahantena nāgabhavanena saddhiṃ dhītaraṃ dassāmīti anvaḍḍhamāsaṃ uposathadivase taṃ dhītaraṃ phaṇe ṭhapesi. Sā tattha ṭhitā naccantī –
“Kiṃsu adhippatī rājā, kiṃsu rājā rajjissaro;
Kathaṃsu virajo hoti, kathaṃ bāloti vuccatī”ti. –
Imaṃ gītaṃ gāyati.
Sakalajambudīpavāsino “nāgamāṇavikaṃ gaṇhissāmā”ti gantvā attano attano paññābalena paṭigītaṃ katvā gāyanti. Sā taṃ paṭikkhipati. Tassā anvaḍḍhamāsaṃ phaṇe ṭhatvā evaṃ gāyantiyāva ekaṃ buddhantaraṃ vītivattaṃ. Atha amhākaṃ satthā loke uppajjitvā ekadivasaṃ paccūsakāle lokaṃ volokento erakapattaṃ ādiṃ katvā uttaramāṇavaṃ nāma attano ñāṇajālassa anto paviṭṭhaṃ disvā “kiṃ nu kho bhavissatī”ti āvajjento “ajja erakapattassa dhītaraṃ phaṇe ṭhapetvā naccāpanadivaso, ayaṃ uttaramāṇavo mayā dinnaṃ paṭigītaṃ gaṇhantova sotāpanno hutvā taṃ ādāya nāgarājassa santikaṃ gamissati. So taṃ sutvā ‘buddho uppanno’ti ñatvā mama santikaṃ āgamissati, ahaṃ tasmiṃ āgate mahāsamāgame gāthaṃ kathessāmi, gāthāpariyosāne caturāsītiyā pāṇasahassānaṃ dhammābhisamayo bhavissatī”ti addasa. So tattha gantvā bārāṇasito avidūre satta sirīsakarukkhā atthi, tesu ekassa mūle nisīdi. Jambudīpavāsino gītapaṭigītaṃ ādāya sannipatiṃsu. Satthā avidūre ṭhāne gacchantaṃ uttaramāṇavaṃ disvā “ehi, uttarā”ti āha. “Kiṃ, bhante”ti? “Ito tāva ehī”ti. Atha naṃ āgantvā vanditvā nisinnaṃ āha “kahaṃ gacchasī”ti? “Erakapattassa dhītu gāyanaṭṭhāna”nti. “Jānāsi pana gītapaṭigīta”nti? “Jānāmi, bhante”ti. “Vadehi tāva na”nti? Atha naṃ attano jānananiyāmeneva vadantaṃ “na uttaraṃ etaṃ paṭigītaṃ, ahaṃ te paṭigītaṃ dassāmi, ādāya naṃ gamissasī”ti. “Sādhu, bhante”ti. Atha naṃ satthā, uttara, tvaṃ nāgamāṇavikāya gītakāle –
“Chadvārādhippatī rājā, rajjamāno rajjissaro;
Arajjaṃ virajo hoti, rajjaṃ bāloti vuccatī”ti. –
Imaṃ paṭigītaṃ gāyeyyāsīti āha.
Māṇavikāya gītassa attho – kiṃsu adhippatī rājāti kiṃ adhippati rājā nāma hoti? Kiṃsu rājā rajjissaroti kathaṃ pana rājā rajjissaro nāma hoti? Kathaṃsu virajo hotīti kathaṃ nu kho so rājā virajo nāma hotīti?
Paṭigītassa pana attho – chadvārādhippatī rājāti yo channaṃ dvārānaṃ adhippati, ekadvārepi rūpādīhi anabhibhūto, ayaṃ rājā nāma. Rajjamāno rajjissaroti yo pana tesu ārammaṇesu rajjati, so rajjamāno rajjissaro nāma. Arajjanti arajjamāno pana virajo nāma hoti. Rajjanti rajjamāno bāloti vuccatīti.
Evamassa satthā paṭigītaṃ datvā, uttara, tayā imasmiṃ gīte gāyite imassa gītassa imaṃ paṭigītaṃ gāyissati –
“Kenassu vuyhati bālo, kathaṃ nudati paṇḍito;
Yogakkhemī kathaṃ hoti, taṃ me akkhāhi pucchito”ti.
Athassa tvaṃ idaṃ paṭigītaṃ gāyeyyāsi –
“Oghena vuyhati bālo, yogā nudati paṇḍito;
Sabbayogavisaṃyutto, yogakkhemīti vuccatī”ti.
Tassattho – “kāmoghādinā catubbidhena oghena bālo vuyhati, taṃ oghaṃ paṇḍito sammappadhānasaṅkhātena yogena nudati. So sabbehi kāmayogādīhi visaṃyutto yogakkhemī nāma vuccatī”ti.
Uttaro imaṃ paṭigītaṃ gaṇhantova sotāpattiphale patiṭṭhahi. So sotāpanno hutvā taṃ gāthaṃ ādāya gantvā, “ambho, mayā gītapaṭigītaṃ āhaṭaṃ, okāsaṃ me dethā”ti vatvā nirantaraṃ ṭhitassa mahājanassa jaṇṇunā akkamanto agamāsi. Nāgamāṇavikā pitu phaṇe ṭhatvā naccamānā “kiṃsu adhippatī rājā”ti gītaṃ gāyati? Uttaro “chadvārādhippatī rājā”ti paṭigītaṃ gāyi. Puna nāgamāṇavikā “kenassu vuyhatī”ti tassa gītaṃ gāyati? Athassā paṭigītaṃ gāyanto uttaro “oghena vuyhatī”ti imaṃ gāthamāha. Nāgarājā taṃ sutvāva buddhassa uppannabhāvaṃ ñatvā “mayā ekaṃ buddhantaraṃ evarūpaṃ padaṃ nāma na sutapubbaṃ, uppanno vata, bho, loke buddho”ti tuṭṭhamānaso naṅguṭṭhena udakaṃ pahari, mahāvīciyo uṭṭhahiṃsu, ubho tīrāni bhijjiṃsu. Ito cito ca usabhamatte ṭhāne manussā udake nimujjiṃsu. So ettakaṃ mahājanaṃ phaṇe ṭhapetvā ukkhipitvā thale patiṭṭhapesi. So uttaraṃ upasaṅkamitvā “kahaṃ, sāmi, satthā”ti pucchi. “Ekasmiṃ rukkhamūle nisinno, mahārājā”ti. So “ehi, sāmi, gacchāmā”ti uttarena saddhiṃ agamāsi. Mahājanopi tena saddhiṃyeva gato. Nāgarājā gantvā chabbaṇṇaraṃsīnaṃ antaraṃ pavisitvā satthāraṃ vanditvā rodamāno aṭṭhāsi. Atha naṃ satthā āha – “kiṃ idaṃ, mahārājā”ti? “Ahaṃ, bhante, tumhādisassa buddhassa sāvako hutvā vīsati vassasahassāni samaṇadhammaṃ akāsiṃ, sopi maṃ samaṇadhammo niddhāretuṃ nāsakkhi. Appamattakaṃ erakapattachindanamattaṃ nissāya ahetukapaṭisandhiṃ gahetvā urena parisakkanaṭṭhāne nibbattosmi, ekaṃ buddhantaraṃ neva manussattaṃ labhāmi, na saddhammassavanaṃ, na tumhādisassa buddhassa dassana”nti satthā tassa kathaṃ sutvā, “mahārāja, manussattaṃ nāma dullabhameva, tathā saddhammassavanaṃ, tathā buddhuppādo, idaṃ kicchena kasirena labbhatī”ti vatvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Kiccho manussapaṭilābho, kicchaṃ maccāna jīvitaṃ;
Kicchaṃ saddhammassavanaṃ, kiccho buddhānamuppādo”ti.
Tassattho – mahantena hi vāyāmena mahantena kusalena laddhattā manussattapaṭilābho nāma kiccho dullabho. Nirantaraṃ kasikammādīni katvā jīvitavuttiṃ ghaṭanatopi parittaṭṭhāyitāyapi maccānaṃ jīvitaṃ kicchaṃ. Anekesupi kappesu dhammadesakassa puggalassa dullabhatāya saddhammassavanampi kicchaṃ. Mahantena vāyāmena abhinīhārassa samijjhanato samiddhābhinīhārassa ca anekehipi kappakoṭisahassehi dullabhuppādato buddhānaṃ uppādopi kicchoyeva, ativiya dullabhoti.
Desanāvasāne caturāsītiyā pāṇasahassānaṃ dhammābhisamayo ahosi. Nāgarājāpi taṃdivasaṃ sotāpattiphalaṃ labheyya, tiracchānagatattā pana nālattha. So yesu paṭisandhigahaṇatacajahanavissaṭṭhaniddokkamanasajātiyāmethunasevanacutisaṅkhātesu pañcasu ṭhānesu nāgasarīrameva gahetvā kilamanti, tesu akilamanabhāvaṃ patvā māṇavarūpeneva vicarituṃ labhatīti.
Erakapattanāgarājavatthu tatiyaṃ.
XIV. 3. The King of the Dragons and his Daughters
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
182. Difficult is it to obtain birth as a human being; difficult is the life of mortals;
Difficult is the hearing of the Good Law; difficult is the rise of the Buddhas.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence under the seven Sirīsaka-trees near Benāres with reference to Erakapatta, King of the Dragons.
We are told that in the dispensation of the Buddha Kassapa, Erakapatta was a young monk. One day he embarked in a boat on the Ganges and set out on a voyage. Passing a jungle of Eraka-trees, he grasped a leaf. Although the boat was moving rapidly, he did not let go, and the result was that the leaf was entirely broken off. “A mere trifle!” thought he. Although for twenty thousand years he performed meditations in the forest without confessing his fault, yet, when he came to die, he felt as though an Eraka-leaf had seized him by the neck. Desiring to confess his fault, but seeing no other monk, he was filled with remorse and cried out, “My virtue is impaired!” Thus he died. Having passed out of that state of existence, he was reborn as a dragon-king, the measure of his body being that of a dug-out canoe. At the moment of rebirth he surveyed his person, and was filled with remorse as he thought to himself, “After performing meditations for so long a time, I have been reborn in a causeless state, in a feeding-place for frogs.”
After a time a daughter was born to him. Thereupon, lying on the surface of the water in the middle of the Ganges, he raised his great hood, placed his daughter therein, and caused her to dance and sing. This was the thought in his mind, “In this way, in case a Buddha arises in the world, I shall come to know of it. In case anyone sings a reply to my song, I will give him my daughter and the power and wealth of a dragon-king to boot.” So every fortnight, on Fast-day, he placed his daughter in his hood. And his daughter, poised there, danced, and sang this song.
What manner of ruler is a king?
What manner of king is under the dominion of passion?
How may he free himself from the bondage of passion?
Why is he called a simpleton?
All over the Land of the Rose-apple men said to themselves, “Let us win the dragon-maiden.” Accordingly, to the best of their ability, they made up replies and sang them, but the daughter of the dragon-king rejected them all. Every fortnight she danced and sang within her father’s hood. Thus passed an interval between two Buddhas.
After the Teacher had appeared in the world, as he surveyed the world at dawn one morning, he perceived that among others the dragon-king Erakapatta and the Brahman youth Uttara had entered the Net of his Knowledge. Thereupon he considered within himself, “What now will come to pass?” And straightway he became aware of the following, “To-day is the day when the dragon-king Erakapatta will place his daughter within his hood and make her dance. This Brahman youth Uttara will learn a song which I will teach him, will attain the Fruit of Conversion, and keeping the song in mind, will approach the king of the dragons. When the king of the dragons hears that song, he will know that the Buddha has appeared in the world, and he will then come to me. When he has come to me, I will pronounce a Stanza in the midst of a great multitude, and at the conclusion of the Stanza eighty-four thousand living beings will attain Comprehension of the Law.”
Now there were seven Sirīsaka-trees not far from Benāres, and the Teacher straightway went and took his seat under one of those trees. The inhabitants of the Land of the Rose-apple took a response to the song and assembled. Not far off, the Teacher saw the Brahman youth Uttara walking, and said to him, “Uttara!” “What is it, Reverend Sir?” “Just come here.” When Uttara had come back, saluted the Teacher, and taken his seat, the Teacher said to him, “Where are you going?” “I am going to the place where the daughter of the dragon-king Erakapatta sings her song.” “But do you know a reply to the song?” “Yes, Reverend Sir; I know a reply to her song.” “Just recite it to me.” Uttara recited to the Teacher a reply to the song, which he had made up. Thereupon the Teacher said, “That is no reply. I will give you a reply. Will you take it and go to her with it?” “Yes, Reverend Sir, I will.” Then said the Teacher to him, “Uttara, when the maiden sings her song, you are to sing the following song in reply.
He who is master of the Six Doors of the Body is a king.
He who takes delight in them has passion for his master.
He who does not take delight in them is free from passion.
He who does take delight in them is called a simpleton.”
The Teacher having given him this reply, said to him, “Uttara, when you have sung this song, she will sing the following reply to your song.
By what is a simpleton borne along? How does a wise man shake himself free?
How does he attain Nibbāna? Answer me this question.”
“Then you are to sing the following reply.
By the flood of passions is the simpleton borne along; by devotion the wise man shakes them off.
He that has freed himself from all the Attachments is said to have attained Nibbāna.”
Uttara memorized this reply, and as he did so, attained the Fruit of Conversion. Having attained the Fruit of Conversion, he took that Stanza and set out. “Ho!” cried he, “I have brought with me a reply to her song; make way for me.” The crowd was so dense that as he walked, he hit with his feet the knees of the crowd.
The daughter of the king of the dragons stood within the hood of her father, and standing there, danced and sang the song, “What manner of ruler is a king?” Uttara sang the reply, “He who is master of the Six Doors of the Body is a king.” The maiden in turn sang, “By what is a simpleton borne along?” Then Uttara sang the following Stanza in reply, “By the flood of passions is the simpleton borne along.”
When the king of the dragons heard those words, he knew that the Buddha had appeared in the world. And he said to himself, “I have not heard a song like that during the whole of an interval between two Buddhas.” “A Buddha has indeed appeared in the world!” thought he. And his heart was filled with joy. With his tail he lashed the surface of the water, whereupon great waves arose, washing away both banks, and on this side and on that, for a distance of an usabha, men were plunged into the water. The king of the dragons then raised his hood, placed those men therein, and set them on dry land. Then he approached Uttara and asked him, “Master, where is the Teacher?” “He is sitting under this tree, great king.” “Come, master, let us go,” said the king of the dragons, and set out with Uttara. A great multitude joined Uttara and followed him.
The king of the dragons went to where the Teacher was, and after making his way in among the six-colored rays of light, saluted the Teacher and stood on one side weeping. Then said the Teacher to him, “What does this mean, great king?” “Reverend Sir, I was once the disciple of a Buddha like you, and for twenty thousand years performed meditations. But the meditations of twenty thousand years were not sufficient to secure my salvation. Just because I broke off a tiny Eraka-leaf, I was reborn in a causeless state, in the condition of one who must go about on his belly. During a whole interval between two Buddhas I attained neither human estate, nor the privilege of hearing the Law, nor the privilege of seeing a Buddha like you.” Hearing his words, the Teacher replied, “Great king, human estate is indeed difficult to attain; it is likewise difficult to gain the privilege of listening to the Law; so also is the rise of a Buddha difficult. For this latter is brought about with toil and trouble.”
So saying, he preached the Law, pronouncing the following Stanza,
182. Difficult is it to obtain birth as a human being; difficult is the life of mortals;
Difficult is the hearing of the Good Law; difficult is the rise of the Buddhas.
At the conclusion of the lesson eighty-four thousand living beings obtained Comprehension of the Law.
(The king of the dragons would have attained the Fruit of Conversion on that day, had it not been for his animal nature. He recovered the power of going about in human form only after attaining Freedom from Weariness in the five conditions in which dragons which have received the bodies of dragons are weary: namely, those called attainment of rebirth, shedding of skin, sinking into untroubled slumber, mating with those of their own kind, and vanishing from existence.)
- Text: N iii. 230-236.
- Ed. note: ahetukapaṭisandhi, not well translated as causeless, it rather means that all of the three good roots, being without greed, hate and delusion, are missing. Beings without good root conditions are normally born in the four lower realms.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.