Kinh Pháp Cú, Phẩm Phật
Dhammapada, Buddhavagga
Còn gọi là: Phẩm Phật Đà
Mười tám bài kệ về chư Phật: bài kệ tóm gọn giáo huấn của mọi Đức Phật, sự hiếm hoi của thân người, và vì sao Tam Bảo mới là nơi nương tựa an ổn.
Trước khi đọc kinh
Phẩm thứ mười bốn của Kinh Pháp Cú mang tên Buddha, Đức Phật. Hai bài kệ mở đầu nói về bậc đã chiến thắng trọn vẹn: chiến thắng của Ngài không thể bị đảo ngược, Ngài không còn khát ái giăng lưới kéo đi nơi này nơi khác, nên chẳng ai có thể lần theo dấu vết nào mà dẫn dắt Ngài (kệ 179–180). Theo chú giải, hai bài kệ gắn với chuyện các con gái của Ma vương từng tìm cách cám dỗ Đức Phật mà không được. Kệ 181, theo chú giải, được nói khi Đức Phật từ cõi trời Ba Mươi Ba trở xuống: chư thiên cũng ngưỡng mộ những bậc chuyên tâm thiền định, an vui trong sự tĩnh lặng của xuất ly. Kệ 182 nhắc bốn điều khó: thân người khó được, đời sống của loài phải chết thật gian nan, được nghe Chánh pháp là khó, và có chư Phật ra đời là khó.
Kệ 183 là bài kệ được thuộc lòng nhiều nhất trong phẩm: đừng làm bất cứ điều ác nào, hãy làm cho trọn đầy điều thiện, gột rửa cho tâm mình trong sáng, đó là giáo huấn của chư Phật. Theo truyền thống, ba bài kệ 183–185 là lời giáo giới Pātimokkha (Ovādapātimokkha) mà mọi Đức Phật đều dạy cho Tăng chúng. Kệ 184 đặt sự kiên nhẫn chịu đựng lên hàng đầu các hạnh tu và nói rõ: ai còn làm hại người khác thì chẳng phải người xuất gia. Kệ 185 kể ra một nếp sống cụ thể: không gièm chê, không làm hại, giữ giới, ăn uống vừa đủ, ở nơi vắng vẻ, chuyên chú vào tâm cao thượng. Kệ 186–187 nói về các dục: dẫu trời mưa tiền vàng cũng chẳng làm ai no đủ, vì các dục ngọt ít mà khổ nhiều.
Kệ 188–192 là đoạn về quy y. Theo chú giải, các bài kệ này được nói với Bà-la-môn Aggidatta, vốn là quan tế tự của vua Kosala, về sau xuất gia ngoại đạo và dạy đồ chúng tìm nương tựa nơi núi non, rừng rậm, vườn cây, cội cây. Kinh nói rằng khi sợ hãi, con người chạy đến những chốn ấy, nhưng đó không phải nơi nương tựa an ổn. Ai đến nương tựa Phật, Pháp, Tăng, thấy rõ bốn Thánh đế bằng trí tuệ: khổ, sự sinh khởi của khổ, sự vượt qua khổ và con đường Thánh tám chi phần, người ấy thoát khỏi mọi khổ đau (kệ 190–192). Phẩm khép lại bằng niềm vui của sự hòa hợp: chư Phật ra đời, Chánh pháp được giảng, Tăng chúng hòa hợp đều là niềm an lạc (kệ 194), và phước đức của người cúng dường bậc đã tịch tịnh thì không ai đếm được (kệ 195–196).
Ý chính
- Bậc đã dứt khát ái thì không ai lần theo dấu vết nào mà dẫn dắt được (kệ 179–180).
- Thân người khó được, nghe Chánh pháp khó, chư Phật ra đời khó (kệ 182).
- Đừng làm điều ác, làm trọn điều thiện, gột rửa tâm mình: giáo huấn của chư Phật (kệ 183).
- Kiên nhẫn chịu đựng là hạnh tu cao nhất; người xuất gia không làm hại ai (kệ 184).
- Nương tựa núi rừng, đền miếu không an ổn; nương tựa Tam Bảo, thấy bốn Thánh đế mới thoát khổ (kệ 188–192).
- Tăng chúng hòa hợp và cùng nhau tinh tấn là niềm an lạc (kệ 194).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- buddha
- Đức Phật, bậc Giác Ngộ
- sāsana
- giáo huấn, lời dạy
- khanti
- sự kiên nhẫn chịu đựng
- pātimokkha
- giới bổn của người xuất gia
- adhicitta
- tâm cao thượng, tức định
- saraṇa
- nơi nương tựa
- ariyasacca
- Thánh đế
- papañca
- hý luận, sự vọng tưởng lan man
Tích truyện các bài kệĐức Phật nói mỗi bài kệ trong một hoàn cảnh riêng. Đọc 9 tích truyện của phẩm Phật theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli): xem các tích ›
Kinh Pháp Cú, Phẩm Phật
Chuyện các con gái của Ma vươngMāradhītaravatthu Đọc tích truyện ›
179.1Vị chiến thắng không bại,Yassa jitaṁ nāvajīyati,He whose victory may not be undone,
179.2Vị bước đi trên đời,Jitaṁ yassa noyāti koci loke;a victory unrivaled in all the world;
179.3Không dấu tích chiến thắng,Taṁ buddhamanantagocaraṁ,by what track would you trace that Buddha,
179.4Phật giới rộng mênh mông,
Ai dùng chân theo dõi
Bậc không để dấu tích?Apadaṁ kena padena nessatha.who leaves no track in his infinite range?
180.1Ai giải tỏa lưới tham,Yassa jālinī visattikā,Of craving, the weaver, the clinger, he has none:
180.2Ái phược hết dắt dẫn,Taṇhā natthi kuhiñci netave;so where can he be traced?
180.3Phật giới rộng mênh mông,Taṁ buddhamanantagocaraṁ,By what track would you trace that Buddha,
180.4Ai dùng chân theo dõi
Bậc không để dấu tích?Apadaṁ kena padena nessatha.who leaves no track in his infinite range?
Chuyện Đức Phật từ cõi trời trở xuốngDevorohaṇavatthu Đọc tích truyện ›
181.1Người trí chuyên thiền định,Ye jhānapasutā dhīrā,The attentive intent on absorption,
181.2Thích an tịnh viễn ly,nekkhammūpasame ratā;who love the peace of renunciation,
181.3Chư thiên đều ái kính,Devāpi tesaṁ pihayanti,the Buddhas, ever mindful,
181.4Bậc chánh giác, chánh niệm.sambuddhānaṁ satīmataṁ.are envied by even the gods.
Chuyện long vương ErakapattaErakapattanāgarājavatthu Đọc tích truyện ›
182.1Khó thay, được làm người,Kiccho manussapaṭilābho,It’s hard to gain a human birth;
182.2Khó thay, được sống còn,kicchaṁ maccāna jīvitaṁ;the life of mortals is hard;
182.3Khó thay, nghe Diệu Pháp,Kicchaṁ saddhammassavanaṁ,it’s hard to hear the true teaching;
182.4Khó thay, Phật ra đời!kiccho buddhānamuppādo.the arising of Buddhas is hard.
Chuyện câu hỏi của Trưởng lão A-nan (Ānanda)Ānandattherapañhavatthu Đọc tích truyện ›
183.1Không làm mọi điều ác.Sabbapāpassa akaraṇaṁ,Not to do any evil;
183.2Thành tựu các hạnh lành,kusalassa upasampadā;to embrace the good;
183.3Tâm ý giữ trong sạch,Sacittapariyodapanaṁ,to purify one’s mind:
183.4Chính lời chư Phật dạy.etaṁ buddhāna sāsanaṁ.this is the instruction of the Buddhas.
184.1Chư Phật thường giảng dạy;Khantī paramaṁ tapo titikkhā,Patient acceptance is the ultimate fervor.
184.2Nhẫn, khổ hạnh tối thượng;Nibbānaṁ paramaṁ vadanti buddhā;Extinguishment is the ultimate, say the Buddhas.
184.3Niết-bàn quả tối thượng;Na hi pabbajito parūpaghātī,No true renunciate injures another,
184.4Xuất gia không phá người;
Sa môn không hại người.Na samaṇo hoti paraṁ viheṭhayanto.nor does an ascetic hurt another.
185.1Không phỉ báng, phá hoại,Anūpavādo anūpaghāto,Not speaking ill nor doing harm;
185.2Hộ trì giới căn bản,Pātimokkhe ca saṁvaro;restraint in the monastic code;
185.3Ăn uống có tiết độ,Mattaññutā ca bhattasmiṁ,moderation in eating;
185.4Sàng tọa chỗ nhàn tịnhPantañca sayanāsanaṁ;staying in remote lodgings;
185.5Chuyên chú tăng thượng tâm,Adhicitte ca āyogo,commitment to the higher mind—
185.6Chính lời chư Phật dạy.Etaṁ buddhāna sāsanaṁ.this is the instruction of the Buddhas.
Chuyện một Tỷ-kheo chán nản đời tuAnabhiratabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›
186.1Dầu mưa bằng tiền vàng,Na kahāpaṇavassena,Even if it were raining money,
186.2Các dục khó thỏa mãn.titti kāmesu vijjati;you’d not be sated in sensual pleasures.
186.3Dục đắng nhiều ngọt ít,Appassādā dukhā kāmā,An astute person understands that sensual pleasures
186.4Biết vậy là bậc trí.iti viññāya paṇḍito.offer little gratification and much suffering.
187.1Đệ tử bậc chánh giác,Api dibbesu kāmesu,Thus they find no delight
187.2Không tìm cầu dục lạc,ratiṁ so nādhigacchati;even in celestial pleasures.
187.3Dầu là dục chư thiên,Taṇhakkhayarato hoti,A disciple of the fully awakened Buddha
187.4Chỉ ưa thích ái diệt.sammāsambuddhasāvako.delights in the ending of craving.
Chuyện Bà-la-môn AggidattaAggidattabrāhmaṇavatthu Đọc tích truyện ›
188.1Loài người sợ hoảng hốt,Bahuṁ ve saraṇaṁ yanti,So many go for refuge
188.2Tìm nhiều chỗ quy y,pabbatāni vanāni ca;to mountains and forest groves,
188.3Hoặc rừng rậm, núi non,Ārāmarukkhacetyāni,to shrines in tended parks;
188.4Hoặc vườn cây, đền tháp.manussā bhayatajjitā.those people are driven by fear.
189.1Quy y ấy không ổn,Netaṁ kho saraṇaṁ khemaṁ,But such refuge is no sanctuary,
189.2Không quy y tối thượng.netaṁ saraṇamuttamaṁ;it is no supreme refuge.
189.3Quy y các chỗ ấy,Netaṁ saraṇamāgamma,By going to that refuge,
189.4Không thoát mọi khổ đau?sabbadukkhā pamuccati.you’re not released from all suffering.
190.1Ai quy y Đức Phật,Yo ca buddhañca dhammañca,One gone for refuge to the Buddha,
190.2Chánh Pháp và chư Tăng,saṅghañca saraṇaṁ gato;to his teaching and to the Saṅgha,
190.3Ai dùng chánh tri kiến,Cattāri ariyasaccāni,sees the four noble truths
190.4Thấy được bốn Thánh đế.sammappaññāya passati.with right understanding:
191.1Thấy khổ và khổ tập,Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ,suffering, suffering’s origin,
191.2Thấy sự khổ vượt qua,dukkhassa ca atikkamaṁ;suffering’s transcendence,
191.3Thấy đường Thánh tám ngành,Ariyaṁ caṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,and the noble eightfold path
191.4Đưa đến khổ não tận.dukkhūpasamagāminaṁ.that leads to the stilling of suffering.
192.1Thật quy y an ổn,Etaṁ kho saraṇaṁ khemaṁ,Such refuge is a sanctuary,
192.2Thật quy y tối thượng,etaṁ saraṇamuttamaṁ;it is the supreme refuge.
192.3Có quy y như vậy,Etaṁ saraṇamāgamma,By going to that refuge,
192.4Mới thoát mọi khổ đau.sabbadukkhā pamuccati.you’re released from all suffering.
Chuyện câu hỏi của Trưởng lão A-nanĀnandattherapañhavatthu Đọc tích truyện ›
193.1Khó gặp bậc thánh nhân,Dullabho purisājañño,It’s hard to find a thoroughbred man:
193.2Không phải đâu cũng có.na so sabbattha jāyati;they’re not born just anywhere.
193.3Chỗ nào bậc trí sanh,Yattha so jāyati dhīro,A family where that attentive one is born
193.4Gia đình tất an lạc.taṁ kulaṁ sukhamedhati.prospers in happiness.
Chuyện nhiều vị Tỷ-kheoSambahulabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›
194.1Vui thay, Phật ra đời!Sukho buddhānamuppādo,Happy, the arising of Buddhas!
194.2Vui thay, Pháp được giảng!sukhā saddhammadesanā;Happy, the teaching of Dhamma!
194.3Vui thay, Tăng hòa hợp!Sukhā saṅghassa sāmaggī,Happy is the harmony of the Saṅgha,
194.4Hòa hợp tu, vui thay!samaggānaṁ tapo sukho.and the striving of the harmonious is happy.
Chuyện bảo tháp vàng của Đức Phật Ca-diếp (Kassapa)Kassapadasabalassasuvaṇṇacetiyavatthu Đọc tích truyện ›
195.1Cúng dường bậc đáng cúng,Pūjārahe pūjayato,When a person venerates the worthy—
195.2Chư Phật hoặc đệ tử,buddhe yadi va sāvake;the Buddha or his disciple,
195.3Các bậc vượt hý luận,Papañcasamatikkante,who have transcended proliferation,
195.4Đoạn diệt mọi sầu bi.tiṇṇasokapariddave.and have left behind grief and lamentation,
196.1Cúng dường bậc như vậy,Te tādise pūjayato,quenched, fearing nothing from any quarter—
196.2Tịch tịnh, không sợ hãi,nibbute akutobhaye;the merit of one venerating such as these,
196.3Các công đức như vậy,Na sakkā puññaṁ saṅkhātuṁ,cannot be calculated by anyone,
196.4Không ai ước lường được.imettamapi kenaci.saying it is just this much.
196.5Buddhavaggo cuddasamo.
196.6Paṭhamabhāṇavāraṁ.
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Pháp Cú, kệ 179–196 (Dhammapada, Buddhavagga). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Dhp 179–196 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản số hoá trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.