Tích Năm Cận Sự Nam Thính Pháp
Pañcaupāsakavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 251 Kinh Pháp Cú, phẩm Cấu Uế, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 251)
“Natthi rāgasamo aggi
Natthi dosasamo gaho
Natthi mohasamaṃ jālaṃ
Natthi taṇhāsamā nadi .”
“Không lửa nào bằng tham!
Không chấp nào bằng sân!
Không lưới nào bằng si!
Không sông nào bằng ái!”
(HT Thích Minh Châu)
Pháp cú nầy được Đức Bổn Sư thuyết lên khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập đến năm cận sự nam.
Năm cận sự nam nầy muốn đi nghe Pháp, bèn rủ nhau đến chùa, đảnh lễ Đức Bổn Sư rồi ngồi nép lại một bên nghe pháp. Tâm bậc Chánh Đẳng Giác không bao giờ khởi lên, nghĩ rằng: “Đây là Sát Đế Lỵ, đây là Bà La Môn, người nầy là Trưởng Giả, kẻ ấy là Thủ Đà La (giòng nô lệ). Đây là người giàu, nọ là kẻ nghèo. Đối với người nầy ta sẽ thuyết pháp cao siêu, đối với người kia ta sẽ thuyết trung bình. Còn đối với người nầy ta sẽ không thuyết.” . Dầu bất cứ đối tượng nào, thuyết pháp nào, Ngài vẫn giữ lấy Pháp làm trọng yếu, thuyết Pháp như Thiên hà đổ từ cao xuống vậy (ākāsagaṅgā).
Trong khi Đức Như Lai đang thuyết giảng Pháp như thế: Năm cận sự nam có năm trạng thái khác nhau: Một ông thì ngủ gật, một ông thì dùng ngón tay xủi dưới đất, ông kia thì ngồi lắc một cái cây, một ông nhìn lên trời, chỉ có một vị ngồi chăm chú lắng nghe Pháp mà thôi.
Đang quạt hầu Đức Thế Tôn, Đại Đức Ānanda nhìn thấy những hành động ấy, bèn bạch với Đức Thế Tôn rằng:
- Bạch Ngài, Ngài thuyết pháp cho các người nầy nghe, Ví như trời sấm sét trong trận mưa to, thế mà họ lại hành động như thế nầy thế nọ trong khi Ngài đang thuyết giảng Pháp.
- Nầy Ānanda! Ngươi không biết gì về những cận sự nam nầy ư?
- Bạch Ngài! Con không biết.
- Trong những ông ấy, người ngồi ngủ gật đã từng là rắn năm trăm kiếp và mỗi kiếp đều tựa đầu lên mang mà ngủ. Bây giờ ông ta vẫn mê ngủ như thế. Không có tiếng nói nào của ta lọt vào tai ông ta cả.
- Bạch Ngài! Xin Ngài giải rõ sự tái sanh của ông a tuần tự diễn tiến hay là có bị gián đoạn?
- Này Ānanda! Có khi ông sanh làm người, có khi ông sanh làm Chư Thiên, có khi làm Long Vương. Sự tái sanh của ông ta nhiều vô số kể, không thể biết chính xác số lượng. Nhưng trong năm trăm kiếp liên tục, ông đã sanh làm Rắn và cứ mê ngủ như thế, cho đến kiếp nầy vẫn còn mê ngủ như thế.
Người dùng tay xủi đất kia, đã sanh làm con trùn năm trăm kiếp liên tục, cứ lo đào đất mãi. Bây giờ do thói quen từ trước, ông ta cứ lo xủi đất như thế, tiếng của Như Lai không vào tai ông ta được.
Ông đang ngồi lắc cây, thì đã từng là khỉ liên tục năm trăm kiếp, vì thói quen tạp nhiễm như thế, ông ta cứ lo lắc cây chớ không lắng nghe Pháp Như Lai.
Còn ông Bà La Môn nhìn trời do đã từng là nhà thiên văn trọn năm trăm kiếp liên tục. Giờ đây do thói quen tạp nhiễm nên cứ ngồi nhìn trời như thế. Tiếng nói của ta không lọt vào tai của ông.
Vị Bà La Môn ngồi nghe pháp chăm chú kính cẩn, thì đã từng sanh liên tiếp năm trăm kiếp là vị Bà La Môn trì tụng Tam Phệ Đà, chuyên việc tham thiền niệm chú, bây giờ cũng ngồi kính cẩn nghe Pháp, giống như đang niệm chú vậy.
- Bạch Ngài! Pháp của Ngài thuyết banh da xẻ thịt, thấu tậm xương tủy. Tại sao trong khi Ngài thuyết pháp, mấy ông nầy lại không chăm chú nghe?
- Nầy Ānanda! Ngươi ngỡ rằng Pháp Như Lai thuyết là dễ nghe lắm sao? dễ lãnh hội lắm sao?
- Bạch Ngài! Ngài cho rằng Pháp ấy khó lãnh hội lắm sao?
- Thật như vậy, nầy Ānanda.
- Tại sao vậy? Bạch Ngài.
- Này Ānanda! Những chúng sanh nầy đã trải qua vô số trăm ngàn kiếp trái đất, chưa từng nghe tiếng Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng, cho nên bây giờ không thể nghe được Pháp của ta thuyết đây.
Trong vòng luân hồi vô thủy, những chúng sanh nầy chỉ thường nghe ngôn ngữ của cầm thú dưới mọi hình thức, bởi vậy họ quen la cà tại những nơi mà người ta ăn uống vui chơi, ca hát, nhảy múa. Họ không thể nào nghe Pháp được.
- Bạch Ngài! Tại cớ nào mà họ không thể nghe Pháp được?
- Nầy Ānanda! Không thể nghe Pháp được tại vì tham (Rāga), tại vì sân (Dosa), tại vì si (Moha). Không có lửa nào bằng lửa tham, một thứ lửa không thấy tro than mà hằng thiêu đốt chúng sanh. Lửa nương từ bảy mặt trời sanh lên trong Hoại kiếp của trái đất để thiêu đốt cháy tan thế gian nầy, thứ lửa ấy có lúc thiêu đố, có lúc không có để thiêu đốt. Còn lửa tham thì không lúc nào là không thiêu đốt cả. Bởi thế mới gọi rằng: “Không có lửa nào bằng lửa tham, không chấp nào bằng sân, không lưới nào bằng si, không sông nào bằng sông ái.”
Rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:
“Natthi rāgasamo aggi
Natthi dosasamo gaho
Natthi mohasamaṃ jālaṃ
Natthi taṇhāsamā nadi .”
“Không lửa nào bằng tham!
Không chấp nào bằng sân!
Không lưới nào bằng si!
Không sông nào bằng ái!”
(HT Thích Minh Châu)
CHÚ GIẢI:
Rāgasamo aggi : Mặc dầu bên ngoài không thấy có khói, nhưng sức thiêu đốt của tham phát khởi bên trong không có lửa nào sánh bằng.
Dosasamo : Mặc dầu Dạ xoa, con trăn, con sấu… có thể cầm giữ quấn chặt, gấp cái xác thân nầy, nhưng so với sự sân thì sự nắm chắc hay cố chấp, không có chấp nào sánh bằng.
Mohasamaṃ jalaṃ : Nói về sự bao vây, trùm kín, không chừa lối thoát thì không có lưới nào bằng lưới si.
Taṇhā samā : Các sông rạch, khi nước lớn, khi nước ròng và khi cạn hết cũng đều có thể thấy rõ được. Còn khát ái (taṇhā) không có khi đầy tràn hoặc khô cạn. Luôn luôn lúc nào cũng thấy nó thiếu thốn. Về sự khó làm cho đầy của khát ái, không có sông nào sánh bằng.
Cuối thời Pháp ông cận sự namchăm chú nghe Pháp chứng đắc quả Tu Đà Hườn. Hội chúng cũng được hưởng nhiều sự lợi ích.
- Ông ngồi nhắm mắt ngáy o o…
Mặc Pháp cao siêu cứ ngủ khò
Thủơ trước đã từng quen tánh rắn
Năm trăm kiếp ngủ ít buồn lo.
- Ông ngồi xủi đất chẳng nghe kinh
Tánh cũ thường quen lủi xuống sình
Sợ đói đêm ngày, trùn kiếm đất
Ngờ đâu đất vẫn ở quanh mình
- Ông lắc cây kia giữ tánh xưa
Năm trăm kiếp khỉ nết không chừa
Ngồi nghe thuyết Pháp tai dường điếc
Tâm động, người ông cứ đẩy đưa.
- Ông nầy ngồi cứ ngó trên không
Quen tánh xem trời, đoán kiết hung
Tai chẳng buồn nghe Kinh Phật thuyết
Tâm còn bận nghĩ chuyện mông lung.
- Còn ông kính cẩn ráng nghe kinh
Do biết tham thiền, đắc quả linh
Được Phật nhắc vài câu Pháp Cú
Năm trăm kiếp đạo đủ công trình.
DỨT TÍCH NĂM ÔNG THIỆN NAM NGHE PHÁP
Pañcaupāsakavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Natthi rāgasamo aggīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto pañca upāsake ārabbha kathesi.
Te kira dhammaṃ sotukāmā vihāraṃ gantvā satthāraṃ vanditvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. Buddhānañca “ayaṃ khattiyo, ayaṃ brāhmaṇo, ayaṃ aḍḍho, ayaṃ duggato, imassa uḷāraṃ katvā dhammaṃ desessāmi, imassa no”ti cittaṃ na uppajjati. Yaṃkiñci ārabbha dhammaṃ desento dhammagāravaṃ purakkhatvā ākāsagaṅgaṃ otārento viya deseti. Evaṃ desentassa pana tathāgatassa santike nisinnānaṃ tesaṃ eko nisinnakova niddāyi, eko aṅguliyā bhūmiṃ likhanto nisīdi, eko ekaṃ rukkhaṃ cālento nisīdi, eko ākāsaṃ ullokento nisīdi, eko pana sakkaccaṃ dhammaṃ assosi.
Ānandatthero satthāraṃ bījayamāno tesaṃ ākāraṃ olokento satthāraṃ āha – “bhante, tumhe imesaṃ mahāmeghagajjitaṃ gajjantā viya dhammaṃ desetha, ete pana tumhesupi dhammaṃ kathentesu idañcidañca karontā nisinnā”ti. “Ānanda, tvaṃ ete na jānāsī”ti? “Āma, na jānāmi, bhante”ti. Etesu hi yo esa niddāyanto nisinno, esa pañca jātisatāni sappayoniyaṃ nibbattitvā bhogesu sīsaṃ ṭhapetvā niddāyi, idānipissa niddāya titti natthi, nāssa kaṇṇaṃ mama saddo pavisatīti. Kiṃ pana, bhante, paṭipāṭiyā kathetha, udāhu antarantarāti. Ānanda, etassa hi kālena manussattaṃ, kālena devattaṃ, kālena nāgattanti evaṃ antarantarā uppajjantassa upapattiyo sabbaññutaññāṇenāpi na sakkā paricchindituṃ. Paṭipāṭiyā panesa pañca jātisatāni nāgayoniyaṃ nibbattitvā niddāyantopi niddāya atittoyeva. Aṅguliyā bhūmiṃ likhanto nisinnapurisopi pañca jātisatāni gaṇḍuppādayoniyaṃ nibbattitvā bhūmiṃ khaṇi, idānipi bhūmiṃ khaṇantova mama saddaṃ na suṇāti. Esa rukkhaṃ cālento nisinnapurisopi paṭipāṭiyā pañca jātisatāni makkaṭayoniyaṃ nibbatti, idānipi pubbāciṇṇavasena rukkhaṃ cāletiyeva, nāssa kaṇṇaṃ mama saddo pavisati. Esa ākāsaṃ ulloketvā nisinnapurisopi pañca jātisatāni nakkhattapāṭhako hutvā nibbatti, idāni pubbāciṇṇavasena ajjāpi ākāsameva ulloketi, nāssa kaṇṇaṃ mama saddo pavisati. Esa sakkaccaṃ dhammaṃ suṇanto nisinnapuriso pana paṭipāṭiyā pañca jātisatāni tiṇṇaṃ vedānaṃ pāragū mantajjhāyakabrāhmaṇo hutvā nibbatti, idānipi mantaṃ saṃsandanto viya sakkaccaṃ suṇātīti.
“Bhante, tumhākaṃ dhammadesanā chaviādīni chinditvā aṭṭhimiñjaṃ āhacca tiṭṭhati, kasmā ime tumhesupi dhammaṃ desentesu sakkaccaṃ na suṇantī”ti? “Ānanda, mama dhammo sussavanīyoti saññaṃ karosi maññe”ti. “Kiṃ pana, bhante, dussavanīyo”ti? “Āma, ānandā”ti. “Kasmā, bhante”ti? “Ānanda, buddhoti vā dhammoti vā saṅghoti vā padaṃ imehi sattehi anekesupi kappakoṭisatasahassesu asutapubbaṃ. Yasmā imaṃ dhammaṃ sotuṃ na sakkontā anamatagge saṃsāre ime sattā anekavihitaṃ tiracchānakathaṃyeva suṇantā āgatā, tasmā surāpānakeḷimaṇḍalādīsu gāyantā naccantā vicaranti, dhammaṃ sotuṃ na sakkontī”ti. “Kiṃ nissāya panete na sakkonti, bhante”ti?
Athassa satthā, “ānanda, rāgaṃ nissāya dosaṃ nissāya mohaṃ nissāya taṇhaṃ nissāya na sakkonti. Rāgaggisadiso aggi nāma natthi, so chārikampi asesetvā satte dahati. Kiñcāpi sattasūriyapātubhāvaṃ nissāya uppanno kappavināsako aggipi kiñci anavasesetvāva lokaṃ dahati, so pana aggi kadāciyeva dahati. Rāgaggino adahanakālo nāma natthi, tasmā rāgasamo vā aggi dosasamo vā gaho mohasamaṃ vā jālaṃ taṇhāsamā vā nadī nāma natthī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Natthi rāgasamo aggi, natthi dosasamo gaho;
Natthi mohasamaṃ jālaṃ, natthi taṇhāsamā nadī”ti.
Tattha rāgasamoti dhūmādīsu kiñci adassetvā antoyeva uṭṭhāya jhāpanavasena rāgena samo aggi nāma natthi. Dosasamoti yakkhagahaajagaragahakumbhilagahādayo ekasmiṃyeva attabhāve gaṇhituṃ sakkonti, dosagaho pana sabbattha ekantameva gaṇhātīti dosena samo gaho nāma natthi. Mohasamanti onandhanapariyonandhanaṭṭhena pana mohasamaṃ jālaṃ nāma natthi. Taṇhāsamāti gaṅgādīnaṃ nadīnaṃ puṇṇakālopi ūnakālopi sukkhakālopi paññāyati, taṇhāya pana puṇṇakālo vā sukkhakālo vā natthi, niccaṃ ūnāva paññāyatīti duppūraṇaṭṭhena taṇhāya samā nadī nāma natthīti attho.
Desanāvasāne sakkaccaṃ dhammaṃ suṇanto upāsako sotāpattiphale patiṭṭhahi, sampattānampi sātthikā dhammadesanā ahosīti.
Pañcaupāsakavatthu navamaṃ.
XVIII. 9. The Inattentive Laymen
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
251. There is no fire like lust, there is no grip like hatred,
There is no snare like delusion, there is no river like Craving.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to five lay disciples.
The story goes that these five men went to the monastery desiring to hear the Law, and having saluted the Teacher, sat down respectfully on one side. Now in the case of the Buddhas, no such thought ever enters their mind as the following, “This man is a Khattiya, this man is a Brahman, this is a rich man, this is a poor man; I will preach the Law to this man in such wise as to exalt him; I will not do so, however, in the case of this other man.” It matters not with reference to what subject the Buddhas preach the Law. They place reverence for the Law before all else, and preach the Law as though they were bringing down the Celestial River from the sky.
But though the Tathāgata preached the Law in this wise to the five men who sat about him, one of the five, even as he sat there, fell asleep, another sat and dug the earth with his finger, another sat and shook a tree, another gazed at the sky. Only one listened attentively to the Law. As Elder Ānanda stood there fanning the Teacher, he observed the conduct of the five men and said to the Teacher, “Reverend Sir, you are preaching the Law even as thunders the thunder which accompanies a heavy rain, but even as you preach the Law, these men sit doing this and that.” “Ānanda, do you not know these men?” “No, Reverend Sir, I do not.”
“Of these five men, he that sits there sound asleep, was reborn as a snake in five hundred states of existence, and in each of these states of existence laid his head in his coils and fell asleep; therefore at the present time also he is sound asleep; not a sound I make enters his ear.”
“But, Reverend Sir, tell me, was this in successive states of existence or at intervals?” “Ānanda, at one time this man was reborn as a human being, at another time as a god, and at another time as a snake. Indeed it would be impossible, even with the knowledge of omniscience, to determine exactly the number of times he has undergone rebirth at intervals. But in five hundred successive states of existence he was reborn as a snake and fell asleep; not even yet is he sated with sleep.
“The man who sits there scratching the earth with his finger was reborn in five hundred successive states of existence as an earthworm, and burrowed into the earth; hence he digs the earth at the present time also, and fails to hear my voice.
“The man who sits there shaking a tree was reborn in five hundred successive states of existence as a monkey, and from sheer force of habit acquired in previous states of existence, still continues to shake a tree, and the sound of my voice does not enter his ears.
“The Brahman who sits there gazing at the sky was reborn in five hundred successive states of existence as an astrologer, and therefore to-day also gazes at the sky just the same, and the sound of my voice does not enter his ears.
“The man who sits there listening attentively to the Law was reborn in five hundred successive states of existence as a Brahman versed in the Three Vedas, devoted to the repetition of the Sacred Texts, and therefore listens attentively to-day also, as though he were putting together a Sacred Text.”
“But, Reverend Sir, your preaching of the Law cleaves the skin and penetrates to the marrow of the bones. Why is it that while you are preaching the Law, they do not listen attentively?” “Ānanda, you evidently imagine that my Law is easy to listen to.” “Why, Reverend Sir, do you mean that it is difficult to listen to?” “Precisely so, Ānanda.” “Why is that, Reverend Sir?” “Ānanda, these living beings, during countless thousands of cycles of time, never heard of the Buddha, the Law, and the Order, and therefore are unable now to listen to this Law which I preach. In the round of existences without conceivable beginning, these living beings have been accustomed to listen to the speech of animals in its countless forms. Therefore they spend their time in places where men drink and amuse themselves, and therefore sing and dance; it is impossible for them to listen to the Law.” “But, Reverend Sir, for what reason is it that they are unable to listen to the Law?”
The Teacher answered him as follows, “Ānanda, they are unable to do so by reason of lust, by reason of hatred, by reason of delusion. For there is no fire like the fire of lust, consuming living beings as it does, without leaving so much as ashes behind. To be sure, the world-conflagration which closes an epoch burns up the world without leaving anything behind, but this is a fire which breaks out only on the appearance of the seven suns, and this fire burns only at times and at seasons. But as for the fire of lust, there is no time when the fire of lust does not burn. Therefore I say that there is no fire like the fire of lust, no grip like hatred, no snare like delusion, and no river like Craving.” So saying, the Teacher pronounced the following Stanza,
251. There is no fire like lust, there is no grip like hatred,
There is no snare like delusion, there is no river like Craving.
- Cf. Story xxvi. 25. Text: N iii. 360-363.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.