Tích Ngoại Đạo Làm Thinh
Titthiyavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 268–269 Kinh Pháp Cú, phẩm Pháp Trụ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 268-269)
268. “Na monena munī hoti
Mūḷharūpo aviddasu
Yo ca tulaṃ'va paggayha
Varaṃ ādāya paṇḍito .”
269. “Pāpāni parivajjeti
Sa munī tena so munī
Yo munāti ubho loke
Munī tena pavuccati .”
“Im lặng nhưng ngu đần
Đâu được gọi Tịnh giả
Như người cầm cán cân
Kẻ trí chọn điều lành.”
“Từ bỏ các ác pháp
Mới thật là Tịnh giả
Ai thật hiểu hai đời
Mới xứng danh Tịnh giả.”
(HT Thích Minh Châu)
Pháp Cú nầy được Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập đến các ngoại đạo.
Tương truyền rằng: Sau khi thọ thực ở một nơi nào, các tu sĩ ngoại đạo thường chúc phúc cho thí chủ như vầy: “Xin cho người được bình yên, xin cho người được hạnh phúc, xin cho người tăng thêm tuổi thọ. Ở nơi nọ có sình lầy, ở nơi nọ có gai góc, người không nên đi đến chỗ như vậy…”
Trong thời kỳ Giác ngộ đầu tiên, sự tụng kinh phúc chúc chưa được Đức Thế Tôn cho phép, nên các Tỳ Khưu sau khi thọ thực tại nhà gia chủ là ra đi, chớ không chúc phúc cho gia chủ chi cả. Các tín gia bất mãn than phiền rằng: “Gần các tu sĩ ngoại đạo, chúng ta còn được nghe chúc phúc. Riêng các Sa môn Thích Tử đây chỉ làm thinh ra đi.” .
Chư Tỳ Khưu đem việc nầy bạch trình với Đức Bổn Sư, Ngài dạy rằng:
- Nầy các Tỳ Khưu! Từ rày về sau ở trong Trai đường hoặc nơi nào khác, Ta cho phép các thầy phúc chúc tùy theo sở thích và trò chuyện cởi mở với thí chủ khi ngồi gần bên họ.
Chư Tăng tuân theo lời dạy như vậy. Khi các thiện tín được nghe những lời phúc chúc, họ càng tinh tấn thêm hằng mời thỉnh và cúng dâng lễ vật đến Chư Tăng.
Các nhóm ngoại đạo than phiền rằng: “Chúng ta là những bậc Tịnh giả. Chúng ta giữ sự im lặng. Còn các Thinh Văn của Sa môn Gotama hay thuyết giảng dài dòng trong các trai đường hoặc những chỗ khác tương tợ như vậy.” .
Khi nghe những lời chỉ trích của nhóm ngoại đạo, Đức Bổn Sư nói:
- Nầy các Tỳ Khưu, ta không gọi là Tịnh Giả (Muni) chỉ vì người ấy giữ sự im lặng. Quả thật, có một số người vì không biết mà không nói, một số khác vì thiếu sự tín nhiệm và một số khác nữa lại cống cao ngã mạn sợ e người khác học được những tri kiến quan trọng của họ. Là vì họ bỏn xẻn pháp. Bởi vậy, Ta không gọi là Tịnh giả chỉ vì lẽ họ giữ sự im lặng. Theo ta, ai làm Tịnh giả, làm im lặng được các pháp bất thiện, người ấy mới xứng danh Tịnh giả.
Rồi Ngài thuyết lên hai kệ ngôn rằng:
268. “Na monena munī hoti
Mūḷharūpo aviddasu
Yo ca tulaṃ'va paggayha
“Im lặng nhưng ngu đần
Đâu được gọi Tịnh giả
Như người cầm cán cân
Varaṃ ādāya paṇḍito .”
269. “Pāpāni parivajjeti
Sa munī tena so munī
Yo munāti ubho loke
Munī tena pavuccati .”
Kẻ trí chọn điều lành.”
“Từ bỏ các ác pháp
Mới thật là Tịnh giả
Ai thật hiểu hai đời
Mới xứng danh Tịnh giả.”
(HT Thích Minh Châu)
CHÚ GIẢI:
Na monena : Tịnh Giả là người đã làm im lặng tình dục bằng sự im lặng của Đạo tuệ, bằng sự im lặng của Pháp hành (patipadā). Ở đây ám chỉ sự làm thinh, không nói.
Mūḷharūpo : Là người rỗng không.
Aviddasa : Là người vô trí.
Người như vậy dầu có im lặng chăng nữa cũng không phải là Tịnh giả. Hoặc là người mà chỉ có sự rỗng không, vô trí thì không đáng gọi là Tịnh giả.
Yo ca tulaṃ'va paggayha : Ví như người cầm cân lấy ra bên dư đưa vào bên thiếu như thế nào, thì cũng như thế ấy, bậc hiền trí lấy bên dư là ác pháp bỏ ra, châm đầy thiện pháp vào bên thiếu. Nói cách khác, bậc hiền trí hằng bổ túc các pháp cao nhân quí báu là Giới, Định, Tuệ, giải thoát, giái thoát tri kiến và mang theo mình, đồng thời xa lánh các tội ác, các nghiệp bất thiện.
Sa munī : Bậc ấy đáng gọi là Tịnh Giả.
Tena so munī : Tại sao bậc ấy gọi là Tịnh giả ?
Vì mấy lẽ đã giải trên, nên bậc ấy gọi là Tịnh giả vậy.
Yo munāti ubho loke : Người nào đã cân chắc kỹ mọi thế giới, nhất là ngũ uẩn. Theo cách nầy biết rõ cả hai thế gian pháp.
Munī tena pavuccati : Do lý lẽ trên mà gọi bậc ấy là Tịnh Giả vậy.
Cuối thời Pháp, nhiều Tỳ Khưu chứng đắc Thánh Quả, nhất là Tu Đà Hườn quả.
Tận trừ tam độc, tuệ cao thâm
Không vì danh lợi phê tuồng giả
Một mực làm thinh, giống kẻ câm
Tịnh khẩu thì không nói bá xàm
Nói điều hữu ích, chống sân tham
Nương theo chánh mạng, xa tà kiến
Cấm khẩu là xa lánh tục phàm.
Tịnh giả, người tu tịnh nơi tâm
DỨT TÍCH NGOẠI ĐẠO LÀM THINH
Titthiyavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Na monenāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto titthiye ārabbha kathesi.
Te kira bhuttaṭṭhānesu manussānaṃ “khemaṃ hotu, sukhaṃ hotu, āyu vaḍḍhatu, asukaṭṭhāne nāma kalalaṃ atthi, asukaṭṭhāne nāma kaṇṭako atthi, evarūpaṃ ṭhānaṃ gantuṃ na vaṭṭatī”tiādinā nayena maṅgalaṃ vatvā pakkamanti. Bhikkhū pana paṭhamabodhiyaṃ anumodanādīnaṃ ananuññātakāle bhattagge manussānaṃ anumodanaṃ akatvā pakkamanti. Manussā “titthiyānaṃ santikā maṅgalaṃ suṇāma, bhaddantā pana tuṇhībhūtā pakkamantī”ti ujjhāyiṃsu. Bhikkhū tamatthaṃ satthu ārocesuṃ. Satthā, “bhikkhave, ito paṭṭhāya bhattaggādīsu yathāsukhaṃ anumodanaṃ karotha, upanisinnakathaṃ karotha, dhammaṃ kathethā”ti anujāni. Te tathā kariṃsu. Manussā anumodanādīni suṇantā ussāhappattā bhikkhū nimantetvā sakkāraṃ karontā vicaranti. Titthiyā pana “mayaṃ munino monaṃ karoma, samaṇassa gotamassa sāvakā bhattaggādīsu mahākathaṃ kathentā vicarantī”ti ujjhāyiṃsu.
Satthā tamatthaṃ sutvā “nāhaṃ, bhikkhave, tuṇhībhāvamattena ‘munī’ti vadāmi. Ekacce hi ajānantā na kathenti, ekacce avisāradatāya, ekacce ‘mā no imaṃ atisayatthaṃ aññe jāniṃsū’ti maccherena. Tasmā monamattena muni na hoti, pāpavūpasamena pana muni nāma hotī”ti vatvā imā gāthā abhāsi –
“Na monena munī hoti, mūḷharūpo aviddasu;
Yo ca tulaṃva paggayha, varamādāya paṇḍito.
“Pāpāni parivajjeti, sa munī tena so muni;
Yo munāti ubho loke, muni tena pavuccatī”ti.
Tattha na monenāti kāmañhi moneyyapaṭipadāsaṅkhātena maggañāṇamonena muni nāma hoti, idha pana tuṇhībhāvaṃ sandhāya “monenā”ti vuttaṃ. Mūḷharūpoti tuccharūpo. Aviddasūti aviññū. Evarūpo hi tuṇhībhūtopi muni nāma na hoti. Atha vā monena muni nāma na hoti, tucchasabhāvo pana aviññū ca hotīti attho. Yo ca tulaṃva pagayhāti yathā hi tulaṃ gahetvā ṭhito atirekaṃ ce hoti, harati. Ūnaṃ ce hoti, pakkhipati. Evameva yo atirekaṃ haranto viya pāpaṃ harati parivajjeti, ūnake pakkhipanto viya kusalaṃ paripūreti. Evañca pana karonto sīlasamādhipaññāvimuttivimuttiñāṇadassanasaṅkhātaṃ varaṃ uttamameva ādāya pāpāni akusalakammāni parivajjeti. Sa munīti so muni nāmāti attho. Tena so munīti kasmā pana so munīti ce? Yaṃ heṭṭhā vuttakāraṇaṃ, tena so munīti attho. So munāti ubho loketi yo puggalo imasmiṃ khandhādiloke tulaṃ āropetvā minanto viya “ime ajjhattikā khandhā, ime bāhirā”tiādinā nayena ime ubho atthe munāti. Muni tena pavuccatīti tena kāraṇena munīti vuccatiyevāti attho.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Titthiyavatthu aṭṭhamaṃ.
XIX. 8. It is not Silence that makes the Sage
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
268-269. Not because of silence...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the heretics.
The story goes that whenever the heretics took a meal in a given place, they would say to their hosts, “May tranquillity be your portion, may happiness be your portion, may your years increase. In such and such a place there is mud, in such and such a place there are thorns; to such a place you should not go.” After this manner would they express their thanks and good wishes, and only after having so done, would they depart. But in the First Period of Enlightenment, before the saying of thanksgivings had been enjoined, the monks would depart from the refectory with never a word of thanksgiving to their hosts. At this the people were offended and said, “We hear words of thanksgiving and good wishes from the heretics, but the reverend monks depart in utter silence.” The monks reported this matter to the Teacher.
Said the Teacher, “Monks, henceforth in refectories and other such places render thanks according to your good pleasure and speak pleasantly to your hosts as you sit beside them,” Thus did the Teacher enjoin upon them the saying of thanksgivings, and they did according to his command. When the people heard the words of thanksgiving, they put forth the greater efforts, invited the monks to take meals in their houses, and went about bestowing abundant offerings upon them. Then were the heretics offended and said, “We are sages and keep silence, but the disciples of the monk Gotama deliver lengthy discourses in refectories and other such places.” When the Teacher heard their remarks, he said, “Monks, I do not call a man a sage merely because he keeps silence. For there are some men who say nothing because of ignorance, others because of lack of confidence, while still others are so niggardly that they seek to prevent others from learning anything of importance which they themselves know. Therefore I say that a man is not called a sage merely because he keeps silence; rather is he called a sage because of suppression of evil.” So saying, he pronounced the following Stanzas,
268. Not because of silence is a man a sage, if he be foolish and ignorant.
But the wise man who takes to himself truth, even as one grasps a pair of scales,
269. And rejects those things that are evil, such a man is a sage, and for this reason is a sage.
He that understands both worlds is therefore called a sage.
- Text: N iii. 393-396.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.