Chú giải Pháp Cú · Kệ 262–263 · Dhp 262–263

Tích Nhiều Vị Tỳ Khưu Tham Vọng

Sambahulabhikkhuvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 262–263 Kinh Pháp Cú, phẩm Pháp Trụ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 262-263).

262. “Na vākkaraṇamattena
Vaṇṇapokkharatāya vā
Sādhurūpo naro hoti
Issukī maccharī saṭho .”

“Không phải nói lưu loát
Không phải sắc mặt đẹp
Mà thành người lương thiện
Nếu con người ganh tỵ
263. “Yassa c'etaṃ samucchinaṃ
Mūlagacchaṃ samūhataṃ
Sa vantadoso medhavī
Sādhurūpo'ti vuccati .”
Xan tham và dối trá.”
“Chỉ những ai cắt tuyệt
Nhổ tận gốc đoạn trừ
Người trí tận diệt sân
Mới phải người lương thiện.”
(HT Thích Minh Châu)

Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết lên khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập đến nhiều vị Tỳ Khưu.

Một thuở nọ, khi nhìn thấy các Tỳ Khưu trẻ và các vị Sa di lo hầu hạ các vị A Xà Lê (Ācariya) của mình như: giặt, nhuộm y, và làm việc lặt vặt hộ các Ngài, thì một số Đại Đức đề nghị với nhau rằng: “Chúng ta tuy có tài thuyết pháp nói đạo nhưng rốt cuộc chẳng được ai phục dịch cả… Hay là bây giờ chúng ta hãy đến bạch với Đức Bổn Sư như vầy: “Bạch Ngài, chúng con thông thạo về Kinh điển, Phật ngôn. Xin Ngài ra chỉ thị cho các Tỳ Khưu trẻ và các Sa di rằng: “Dầu học Pháp với thầy khác, các con cũng phải đến nhờ các thầy nầy bổ túc cho rồi mới nên ôn tập.” Làm như vậy, ắt lễ lộc chúng ta sẽ tăng trưởng.”

Thế rồi, các Đại Đức ấy đến bạch với Đức Bổn Sư như vậy.

Sau khi nghe lời các Đại Đức bạch, Đức Bổn Sư biết ngay rằng: “Theo Giáo Pháp nầy, nếu theo truyền thống là đúng. Nhưng các vị nầy chỉ chú trọng phần lễ lộc mà thôi.” Do đó, Ngài phán dạy rằng:

- Ta không gọi các thầy là Lương thiện (sādhupūpā) chỉ vì các thầy có tài biện thuyết thiện xảo. Người nào đã cắt đức các pháp bất thiện, nhất là ganh tỵ bằng A La Hán đạo, người ấy thật là người lương thiện.

Nói rồi Ngài ngâm lên hai bài kệ rằng:

262. “Na vākkaraṇamattena
Vaṇṇapokkharatāya vā
Sādhurūpo naro hoti
Issukī maccharī saṭho .”
263. “Yassa c'etaṃ samucchinaṃ
Mūlagacchaṃ samūhataṃ
Sa vantadoso medhavī
Sādhurūpo'ti vuccati .”

“Không phải nói lưu loát
Không phải sắc mặt đẹp
Mà thành người lương thiện
Nếu con người ganh tỵ
Xan tham và dối trá.”
“Chỉ những ai cắt tuyệt
Nhổ tận gốc đoạn trừ
Người trí tận diệt sân
Mới phải người lương thiện.”

(HT Thích Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Na vākkaraṇamattena : Không phải bằng lời nói, không phải bằng cái tướng có đầy đủ thiện xảo về khoa nói như hùng biện…

Vaṇṇapokkharatāya vā : Hoặc dung nhan có đầy đủ sắc đẹp mỹ miều khả ái.

Naro : Do các lẽ trên đây, người có tâm ganh tỵ lợi lộc của kẻ khác, có đủ cả năm pháp bỏn xẻn (là āsāve, kula, lābha, vaṇṇa, dhamma macchariyaṃ) nhập theo phe phái xảo trá, lường gạt, không phải là người lương thiện.

Yassa cetaṃ : Người chứng A La Hán đạo tuệ cắt đứt tận gốc rễ các tội lỗi nhất là ganh tỵ, không tái sanh, người đã xa lìa tội lỗi, có đầy đủ trí tuệ hưởng thụ pháp hỷ, gọi là người lương thiện.

Cuối thời Pháp, nhiều Tỳ Khưu chứng đắc Thánh Quả, nhất là Tu Đà Hườn.

Lương thiện là tâm chánh thiện lương
Không do môi miếng khéo trăm đường
Tỳ Khưu mặt đẹp lòng đen xấu
Chẳng phải Tăng đồ Phật tán dương
Ai khéo trừ tan gốc rễ phàm
Đoạn lìa sân hận với xan tham
Không tâm dối trá cùng ganh tỵ
Thật xứng danh là Phật hiếu nam.

DỨT TÍCH NHIỀU TỲ KHƯU THAM VỌNG

Sambahulabhikkhuvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Na vākkaraṇamattenāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto sambahule bhikkhū ārabbha kathesi.

Ekasmiñhi samaye dahare ceva sāmaṇere ca attano dhammācariyānameva cīvararajanādīni veyyāvaccāni karonte disvā ekacce therā cintayiṃsu – “mayampi byañjanasamaye kusalā, amhākameva kiñci natthi. Yaṃnūna mayaṃ satthāraṃ upasaṅkamitvā evaṃ vadeyyāma, ‘bhante, mayaṃ byañjanasamaye kusalā, aññesaṃ santike dhammaṃ uggaṇhitvāpi imesaṃ santike asodhetvā mā sajjhāyitthāti daharasāmaṇere āṇāpethā’ti. Evañhi amhākaṃ lābhasakkāro vaḍḍhissatī”ti. Te satthāraṃ upasaṅkamitvā tathā vadiṃsu.

Satthā tesaṃ vacanaṃ sutvā “imasmiṃ sāsane paveṇivaseneva evaṃ vattuṃ labhati, ime pana lābhasakkāre nissitāti ñatvā ahaṃ tumhe vākkaraṇamattena sādhurūpāti na vadāmi. Yassa panete issādayo dhammā arahattamaggena samucchinnā, eso eva sādhurūpo”ti vatvā imā gāthā abhāsi –

“Na vākkaraṇamattena, vaṇṇapokkharatāya vā;
Sādhurūpo naro hoti, issukī maccharī saṭho.

“Yassa cetaṃ samucchinnaṃ, mūlaghaccaṃ samūhataṃ;
Savantadoso medhāvī, sādhurūpoti vuccatī”ti.

Tattha na vākkaraṇamattenāti vacīkaraṇamattena saddalakkhaṇasampannavacanamattena. Vaṇṇapokkharatāya vāti sarīravaṇṇassa manāpabhāvena vā. Naroti ettakeneva kāraṇena paralābhādīsu issāmanako pañcavidhena maccherena samannāgato kerāṭikabhāvena saṭho naro sādhurūpo na hoti. Yassa cetanti yassa ca puggalassetaṃ issādidosajātaṃ arahattamaggañāṇena samūlakaṃ chinnaṃ, mūlaghātaṃ katvā samūhataṃ, so vantadoso dhammojapaññāya samannāgato sādhurūpoti vuccatīti attho.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Sambahulabhikkhuvatthu pañcamaṃ.

XIX. 5. What is an accomplished Gentleman?

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

262-263. Not through eloquence...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to a company of monks.

For once upon a time certain Elders saw some young monks and novices dyeing robes and performing the other duties for their preceptors. Thereupon they said to themselves, “We ourselves are clever at putting words together, but for all that, receive no such attentions. Suppose now we were to approach the Teacher and say to him, ‘Reverend Sir, when it comes to the letter of the Sacred Word, we too are expert; give orders to the young monks and novices as follows, “Even though you have learned the Law from others, do not rehearse it until you have improved your acquaintance with it under these Elders.”’ Thus will our gain and honor increase.”

Accordingly they approached the Teacher and said to him what they had agreed upon. The Teacher listened to what they had to say and became aware of the following, “In this Religion, according to tradition, it is entirely proper to say just this. However, these Elders seek only their own gain.” So he said to them, “I do not consider you ‘accomplished’ merely because of your ability to talk. But that man in whom envy and other evil qualities have been uprooted by the Path of Arahatship, he alone is truly accomplished.” So saying, he pronounced the following Stanzas,

262. Not through eloquence or beauty of complexion
Is a man accomplished, if at the same time he be envious, niggardly, deceitful.

263. But he that has cut off and uprooted and removed all these faults,
He that has rid himself of hatred, he that is intelligent, such a man is rightly called accomplished.

  1. Text: N iii. 388-390.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.