Chú giải Pháp Cú · Kệ 271–272 · Dhp 271–272

Tích Nhiều Vị Tỳ Khưu Tự Mãn

Sambahulasīlādisampannabhikkhuvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 271–272 Kinh Pháp Cú, phẩm Pháp Trụ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 271-272)

271. “Na sīlabbatamattena
Bāhusaccena vā puna
Atha vā samādhilābhena
Vivicca sayanena vā .”
“Chẳng phải giữ giới cấm
Cũng chẳng phải nghe nhiều
Hoặc chứng được thiền định
Sống cô độc một mình .”

272. “Phusāmi nekkhammasukhaṃ
Aputhujjanasevitaṃ
Bhikkhu vissāsam āpādi
Appatto āsavakkhayaṃ .”
“Tự xem đã thọ hưởng
Hạnh phúc giải thoát lạc
Phàm phu chưa hưởng được
Tỳ Khưu chớ bằng lòng
Nếu lậu hoặc chưa diệt.”
(HT Thích Minh Châu)

Pháp Cú nầy Đức Bổn Sư đã thuyết khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập đến nhiều vị tỳ lhưu đầy đủ giới hạnh.

Tương truyền rằng: Trong các Tỳ Khưu nầy có một số nghĩ rằng: “Chúng ta là bậc Cụ túc giới, chúng ta là bậc Đa Văn, chúng ta cư ngụ nơi xa xôi hẻo lánh, chúng ta đã chứng đắc thiền định. Đối với chúng ta quả A La Hán không khó đắc. Ngày nào chúng ta muốn, chúng ta sẽ đắc A La Hán trong ngày đó.” .

Cùng một lối như vậy, các Tỳ Khưu đắc A Na Hàm cũng tự nghĩ rằng: “Bây giờ, đối với chúng ta quả A La Hán không khó đắc.” .

Tuy nhiên, một ngày nọ, tất cả các Tỳ Khưu đều đến yết kiến Đức Bổn Sư. Đảnh lễ xong rồi ngồi xuống, Đức Bổn Sư bèn hỏi:

- Nầy các Tỳ Khưu! Các thầy đã đạt đến mục đích cứu cánh của bậc xuất gia giải thoát chưa?

- Bạch Ngài! Chúng con đã đạt đến trình độ như thế, như thế… Bởi vậy, chúng con có thể đạt đến quả vị A La Hánh ngay lúc nào mà chúng con muốn. Với ý nghĩ như vậy, chúng con sống bình an.

Nghe chư Tăng phúc đáp như thế, Đức Bổn Sư cảnh cáo rằng:

- Nầy các Tỳ Khưu! Một Tỳ Khưu xứng đáng không nên chỉ ỷ thị vào chỗ mình đã thọ trì đầy đủ Tứ thanh tịnh giới, hoặc hạnh đầu đà, hoặc chỉ ỷ thị vào chỗ đã hưởng hỷ lạc cả A Na Hàm quả mà vội cho rằng: “Hiện nay đời sống của ta ít có khổ não.” . Ngày giờ nào chưa đạt đến mức lậu tận thì chớ nên khơi lên cái tâm nghĩ rằng: “Ta được an vui.” .

Nói rồi, Ngài ngâm kệ rằng:

271. “Na sīlabbatamattena
Bāhusaccena vā puna
Atha vā samādhilābhena

Vivicca sayanena vā .”
“Chẳng phải giữ giới cấm
Cũng chẳng phải nghe nhiều
Hoặc chứng được thiền định
Sống cô độc một mình .”

272. “Phusāmi nekkhammasukhaṃ
Aputhujjanasevitaṃ
Bhikkhu vissāsam āpādi
Appatto āsavakkhayaṃ .”
“Tự xem đã thọ hưởng
Hạnh phúc giải thoát lạc
Phàm phu chưa hưởng được
Tỳ Khưu chớ bằng lòng
Nếu lậu hoặc chưa diệt.”
(HT Thích Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Sīlabbatamattena : Do nơi sự giữ Tứ Thanh Tịnh giới hoạc thọ trì mười ba chi đầu đà, hoặc là do sự nghe nhiều học rộng, hoặc thuộc lòng cả Tam Tạng Kinḥ

Samādhilābhena : Do đắc tám tầng thiền.
Nekkhammasukhaṃ : Hỷ lạc của Bậc A Na Hàm.

Bởi vậy mới nói ta hưởng hạnh phúc của A Na Hàm.

Apputhukkanasevitaṃ : Phàm phu không được hưởng, nhưng Thánh nhân thì hưởng được.

Bhikkhu : Nầy Tỳ Khưu! Đây là gọi một Tỳ Khưu nào trong đó.

Vissāsamāpādi : Chớ tin cậy, bằng lòng. Như trên đã nói: Nầy Tỳ Khưu, việc thọ trì Cụ Túc Giới và đắc thiền định, theo Ta vẫn còn ít oi, nhỏ nhen, nếu chưa đắc quả Lậu Tận.

Chưa đắc A La Hán, một Tỳ Khưu xứng đáng chưa bằng lòng. Ví như phẩn, dầu chỉ chút ít cũng có mùi hôi thúi như thế nào thì biết là cảnh giới tái sanh dầu nhỏ nhen chút ít cũng là khổ.

Cuối thời Pháp, các Tỳ Khưu ấy đều đắc quả A La Hán. Thính chúng câu hội nơi đó cũng hưởng được lợi ích của thời Pháp.

Chưa đến tận cùng mục đích tu
Chớ nên hưỡn đãi việc công phu
Bao giờ đắc quả A La Hán
Mới chắc từ đây thoát ngục tù…
Giữ giới tu thiền chẳng đủ đâu
Đầu đà thêm học vấn cao sâu
A Na Hàm hỉ làm chi đó
Nếu vẫn còn vương “hữu” khổ sầu.

DỨT TÍCH NHIỀU VỊ TỲ KHƯU TỰ MÃN

Sambahulasīlādisampannabhikkhuvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Na sīlabbatamattenāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto sambahule sīlādisampanne bhikkhū ārabbha kathesi.

Tesu kira ekaccānaṃ evaṃ ahosi – “mayaṃ sampannasīlā, mayaṃ dhutaṅgadharā, mayaṃ bahussutā, mayaṃ pantasenāsanavāsino, mayaṃ jhānalābhino, na amhākaṃ arahattaṃ dullabhaṃ, icchitadivaseyeva arahattaṃ pāpuṇissāmā”ti. Yepi tattha anāgāmino, tesampi etadahosi – “na amhākaṃ idāni arahattaṃ dullabha”nti. Te sabbepi ekadivasaṃ satthāraṃ upasaṅkamitvā vanditvā nisinnā “api nu kho vo, bhikkhave, pabbajitakiccaṃ matthakaṃ patta”nti satthārā puṭṭhā evamāhaṃsu – “bhante, mayaṃ evarūpā evarūpā ca, tasmā ‘icchiticchitakkhaṇeyeva arahattaṃ pattuṃ samatthamhā’ti cintetvā viharāmā”ti.

Satthā tesaṃ vacanaṃ sutvā, “bhikkhave, bhikkhunā nāma parisuddhasīlādimattakena vā anāgāmisukhappattamattakena vā ‘appakaṃ no bhavadukkha’nti vattuṃ na vaṭṭati, āsavakkhayaṃ pana appatvā ‘sukhitomhī’ti cittaṃ na uppādetabba”nti vatvā imā gāthā abhāsi –

“Na sīlabbatamattena, bāhusaccena vā pana;
Atha vā samādhilābhena, vivittasayanena vā.

“Phusāmi nekkhammasukhaṃ, aputhujjanasevitaṃ;
Bhikkhu vissāsamāpādi, appatto āsavakkhaya”nti.

Tattha sīlabbatamattenāti catupārisuddhisīlamattena vā terasadhutaṅgamattena vā. Bāhusaccena vāti tiṇṇaṃ piṭakānaṃ uggahitamattena vā. Samādhilābhenāti aṭṭhasamāpattiyā lābhena. Nekkhammasukhanti anāgāmisukhaṃ. Taṃ anāgāmisukhaṃ phusāmīti ettakamattena vā. Aputhujjanasevitanti puthujjanehi asevitaṃ ariyasevitameva. Bhikkhūti tesaṃ aññataraṃ ālapanto āha. Vissāsamāpādīti vissāsaṃ na āpajjeyya. Idaṃ vuttaṃ hoti – bhikkhu iminā sampannasīlādibhāvamattakeneva “mayhaṃ bhavo appako parittako”ti āsavakkhayasaṅkhātaṃ arahattaṃ appatto hutvā bhikkhu nāma vissāsaṃ nāpajjeyya. Yathā hi appamattakopi gūtho duggandho hoti, evaṃ appamattakopi bhavo dukkhoti.

Desanāvasāne te bhikkhū arahatte patiṭṭhahaṃsu, sampattānampi sātthikā dhammadesanā ahosīti.

Sambahulasīlādisampannabhikkhuvatthu dasamaṃ.

Dhammaṭṭhavaggavaṇṇanā niṭṭhitā.

Ekūnavīsatimo vaggo.

XIX. 10. Be not puffed up

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

271-272. Not merely because of religious practices...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to several virtuous monks.

The story goes that some of these monks considered thus within themselves, “We have acquired virtue; we have taken upon ourselves the Pure Practices; we are exceedingly learned; we dwell in places of abode that are solitary and remote; we have developed the Supernatural Powers by Ecstatic Meditation. For us it would be no hard matter to attain Arahatship; indeed we can attain Arahatship any day we wish.” Likewise those of the monks who had attained the Fruit of the Third Path, considered thus within themselves, “For us it would be no hard matter now to attain Arahatship.” One day all of them approached the Teacher, saluted him, and seated themselves respectfully on one side.

The Teacher asked them, “But, monks, have you brought your religious duties to consummation?” The monks replied, “Reverend Sir, we have attained such and such degrees of sanctity. Therefore, whenever we wish, we are able to attain Arahatship. With this thought in our minds, we keep residence.” When the Teacher heard their reply, he said, “Monks, it is never proper for a monk, merely because he has kept the precepts whole and undefiled, or because he has attained the bliss of the Third Path, to think, ‘But little suffering is involved in our present existence.’ On the contrary, not until he has attained Destruction of the Depravities, should he allow himself to think, ‘I have attained true bliss’ ” So saying, he pronounced the following Stanzas,

271. Not merely because of religious practices, nor yet because of much learning,
Neither because of attainment of Tranquillity, nor because of living solitary and remote,

272. Win I the Bliss of Release, incapable of attainment by worldlings.
Monk, rest not content until thou hast attained Destruction of the Depravities.

  1. Text: N iii. 398-400.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.