Chú giải Pháp Cú · Kệ 258 · Dhp 258

Tích Nhóm Lục Sư Gây Rối

Chabbaggiyavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 258 Kinh Pháp Cú, phẩm Pháp Trụ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 258)

258. “Na tena paṇḍito hoti
Yāvatā bahu bhāsati
Khemī averī abhayo
Paṇḍito'ti pavuccati .”

“Không phải vì nói nhiều
Mới xứng danh kẻ trí
An tịnh, không oán sợ
Mới xứng danh kẻ trí.”
(HT Thích Minh Châu)

Pháp cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết khi ngự tại Jetavana, đề cập đến nhóm Tỳ Khưu Lục Sư.

Tương truyền rằng: Nhóm sáu Tỳ Khưu nầy hằng đi la cà đến các chùa hoặc các làng, gây sự rối loạn trong trai đường.

Một hôm, sau khi thọ thực trong làng trở về chùa, chư Tăng hỏi các vị Tỳ Khưu trẻ và các Sa di rằng:

- Nầy các đạo hữu, các đạo hữu thấy trai đường nầy ra sao?

- Bạch Ngài! Xin các Ngài đừng hỏi.

Nhóm Lục Sư bàn luận cùng nhau rằng: “Chỉ có chúng ta là khôn khéo, chỉ có chúng ta là bậc hiền trí. Chúng ta sẽ đánh, sẽ đổ rác lên đầu mấy ông nầy rồi đuổi tống họ đi.”

Thế rồi, nhóm ấy nắm lấy lưng chúng tôi, đổ rác lên đầu chúng tôi, làm rối loạn cả trai đường.

Chư Tăng đến gặp Đức Bổn Sư, phúc trình lên Ngài chuyện ấy. Đức Bổn Sư dạy rằng:

- Này các Tỳ Khưu! Ta không gọi kẻ nói nhiều và làm phiền người khác là bậc hiền trí. Ta chỉ gọi người an tịnh, không oán thù, không sợ sệt là bậc hiền trí mà thôi.

Nói rồi, Ngài ngâm kệ ngôn rằng:

258. “Na tena paṇḍito hoti
Yāvatā bahu bhāsati
Khemī averī abhayo
Paṇḍito'ti pavuccati .”

“Không phải vì nói nhiều
Mới xứng danh kẻ trí
An tịnh, không oán sợ
Mới xứng danh kẻ trí.”
(HT Thích Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Yāvatā : Kẻ nào vì mình mà nói nhiều ở giữa Tăng chúng, kẻ ấy không phải là bậc hiền trí. Kẻ nào tự mình an tịnh, không có năm sự oán hận, là kẻ không oán hận, đã hết sợ sệt, dầu gặp Đức Vua cũng không sợ, kẻ ấy đáng gọi là kẻ trí.

Cuối thời Pháp, nhiều Tỳ Khưu chứng đắc Thánh Quả, nhất là Tu Đà Hườn quả.

Nhóm sáu Tỳ Khưu quấy rối chùa
Hiếp nhiều Tăng khách, sợ hơn thua
Ỷ mình Đại Đức xưng hiền trí
Đuổi chúng Sa di chẳng thẹn thùa
Há phải nói nhiều gọi trí đâu?
Trí hiền, tâm tịnh, sạch lo âu
Không hay ganh tỵ, không thù oán
Không để cho ai phải khổ sầu.

DỨT TÍCH NHÓM LỤC SƯ GÂY RỐI

Chabbaggiyavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Na tena paṇḍito hotīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto chabbaggiye ārabbha kathesi.

Te kira vihārepi gāmepi bhattaggaṃ ākulaṃ karontā vicaranti. Athekadivase bhikkhū gāme bhattakiccaṃ katvā āgate dahare sāmaṇere ca pucchiṃsu – “kīdisaṃ, āvuso, bhattagga”nti? Bhante, mā pucchatha, chabbaggiyā “mayameva viyattā, mayameva paṇḍitā, ime paharitvā sīse kacavaraṃ ākiritvā nīharissāmā”ti vatvā amhe piṭṭhiyaṃ gahetvā kacavaraṃ okirantā bhattaggaṃ ākulaṃ akaṃsūti. Bhikkhū satthu santikaṃ gantvā tamatthaṃ ārocesuṃ. Satthā “nāhaṃ, bhikkhave, bahuṃ bhāsitvā pare viheṭhayamānaṃ ‘paṇḍito’ti vadāmi, kheminaṃ pana averīnaṃ abhayameva paṇḍitoti vadāmī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Na tena paṇḍito hoti, yāvatā bahu bhāsati;
Khemī averī abhayo, paṇḍitoti pavuccatī”ti.

Tattha yāvatāti yattakena kāraṇena saṅghamajjhādīsu bahuṃ katheti, tena paṇḍito nāma na hoti. Yo pana sayaṃ khemī pañcannaṃ verānaṃ abhāvena averī nibbhayo, yaṃ vā āgamma mahājanassa bhayaṃ na hoti, so paṇḍito nāma hotīti attho.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Chabbaggiyavatthu dutiyaṃ.

XIX. 2. The Band of Six

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

258. Not therefore is a man called wise for his much speaking...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the monks of the Band of Six.

The story goes that the monks of the Band of Six used to go about from monastery to monastery and from village to village, creating disorder in the refectories. One day some young monks and novices, after eating breakfast in the village, came to the monastery. The monks asked them, “Brethren, how did you like the refectory?” The visitors replied, “Brethren, do not ask us. The monks of the Band of Six say to themselves, ‘We alone are intelligent, we alone are wise. We will smite these monks and pour sweepings on their heads and thus drive them out.’ So saying, they grab us from behind and pour sweepings on our heads; thus have they thrown the refectory into disorder.” The monks went to the Teacher and reported the matter to him. Said the Teacher, “Monks, I do not call him a wise man who speaks much and annoys others. Him alone I call a wise man who is patient and free from hatred and free from fear.” So saying, he pronounced the following Stanza,

258. Not therefore is a man called wise for his much speaking;
He that is patient, free from hatred, free from fear, he alone is called wise.

  1. Text: N iii. 382-384.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.