Tích Nhóm Tỳ Khưu Lục Sư
Chabbaggiyavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 231–234 Kinh Pháp Cú, phẩm Phẫn Nộ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 231-232-233-234)
231. “Kāyappakopaṃ rakkheyya,
Kāyena saṃvuto siyā;
Kāyaduccaritaṃ hitvā,
Kāyena sucaritaṃ care.”
“Giữ thân đừng phẩn nộ,
Phòng thân khéo bảo vệ,
Từ bỏ thân làm ác,
Với thân làm hạnh lành.”
232. Vacipakopaṃ rakkheyya,
Vācāya saṃvuto siyā,
Vacīduccaritaṃ hitvā,
Vācāya sucaritaṃ care.
Giữ lời đừng phẫn nộ,
Phòng lời khéo bảo vệ,
Từ bỏ lời thô ác,
Với lời, nói điều lành.
233. Manopakopam rakkheya,
Vācāya saṃvuto siyā,
Vacīduccaritaṃ hitvā,
Vācāya sucaritaṃ care.
Giữ ý đừng phẫn nộ,
Phòng ý khéo bảo vệ,
Từ bỏ ý nghĩ ác,
Với ý, nghĩ hạnh lành.
234. Kāyena saṃvutā dhīvā,
Atho vācāya saṃvuta dhīrā,
Manasā saṃvuta dhīrā,
Te ve suparisaṃvutā.
Bậc trí bảo vệ thân,
Bảo vệ luôn lời nói,
Bảo vệ cả tâm tư,
Ba nghiệp khéo bảo vệ.
(Ngài HT Minh Châu)
Pháp Cú nầy được Đức Thế Tôn thuyết ra khi Ngài ngự tại Veluvana, đề cập đến nhóm Lục Sư Tỳ Khưu.
Một hôm, nhóm Lục Sư mang guốc, tay cầm gậy đi khua trên đường kinh hành. Đức Bổn Sư nghe tiếng guốc khua lộp cộp, Ngài hỏi Đại Đức Ānanda rằng:
- Nầy Ānanda! Tiếng kêu chi thế?
- Bạch Ngài! Nhóm Lục Sư mang guốc gỗ đi kinh hành, mới có tiếng khua lộp cộp vậy.
Nhân dịp nầy, Đức Thế Tôn chế định học giới, dạy rằng:
“Vị Tỳ Khưu cần giữ gìn thân, khẩu, ý của mình”.
Rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng: 231. “Kāyappakopaṃ rakkheyya,“Giữ thân đừng phẩn nộ,
Kāyena saṃvuto siyā;
Kāyaduccaritaṃ hitvā,
Kāyena sucaritaṃ care.”
232. Vacipakopaṃ rakkheyya,
Vācāya saṃvuto siyā,
Vacīduccaritaṃ hitvā,
Vācāya sucaritaṃ care.
233. Manopakopam rakkheya,
Vācāya saṃvuto siyā,
Vacīduccaritaṃ hitvā,
Vācāya sucaritaṃ care.
234. Kāyena saṃvutā dhīvā,
Atho vācāya saṃvuta dhīrā,
Manasā saṃvuta dhīrā,
Te ve suparisaṃvutā.
Phòng thân khéo bảo vệ,
Từ bỏ thân làm ác,
Với thân làm hạnh lành.”
Giữ lời đừng phẫn nộ,
Phòng lời khéo bảo vệ,
Từ bỏ lời thô ác,
Với lời, nói điều lành.
Giữ ý đừng phẫn nộ,
Phòng ý khéo bảo vệ,
Từ bỏ ý nghĩ ác,
Với ý, nghĩ hạnh lành.
Bậc trí bảo vệ thân,
Bảo vệ luôn lời nói,
Bảo vệ cả tâm tư,
Ba nghiệp khéo bảo vệ.
CHÚ GIẢI:
Kāyappakopaṃ: Hãy ráng giữ ba thân ác hạnh (sát sanh, trộm cắp, tà dâm)
Kāyena saṃvuto: Sau khi ngăn chận lối vào ác hạnh trong thân môn, có được sự thu thúc, sự đóng chặt các môn rồi, là đã dứt bỏ thân ác hạnh, chỉ con thân thiện hạnh. Con người làm được hai việc (cải ác, tùng thiện) một lúc. Bởi vậy mới nói: Xa lìa thân làm ác, dùng thân làm hạnh lành.
Trong những bài kệ tiếp theo về thân khẩu ý ta cũng nên hiểu theo ý như vậy.
Kāyena samvutā dhīrā: Bậc Hiền trí không pham giới sát, đạo, dâm, gọi là đã điều phục thân, không pham giới vọng ngữ, lưỡng thiệt, thô ngữ, hý ngữ gọi là đã điều phục khẩu không tham, sân, tà kiến gọi là đã điều phục ý. Các bậc ấy là những bậc khéo tự điều phục, khéo tự giữ gìn, khéo thu thúc, đóng chặt lục căn trong thế gian nầy vậy.
Cuối thời Pháp, nhiều Tỳ Khưu chứng đạt Thánh Quả.
Sáu Sư mang guốc, gậy cầm tay.
Đạp đá kinh hành, khiếu Phật hay
Dạy chúng Tăng gìn thân, khẩu, ý
Ngài ban việc cấm chuyện thày lay.
DỨT TÍCH NHÓM TỲ KHƯU LỤC SƯ
Chabbaggiyavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Kāyappakopanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā veḷuvane viharanto chabbaggiye bhikkhū ārabbha kathesi.
Ekadivasañhi satthā veḷuvane viharanto tesaṃ chabbaggiyānaṃ ubhohi hatthehi yaṭṭhiyo gahetvā kaṭṭhapādukā āruyha piṭṭhipāsāṇe caṅkamantānaṃ khaṭakhaṭātisaddaṃ sutvā, “ānanda, kiṃ saddo nāmeso”ti pucchitvā “chabbaggiyānaṃ pādukā āruyha caṅkamantānaṃ khaṭakhaṭasaddo”ti sutvā sikkhāpadaṃ paññāpetvā “bhikkhunā nāma kāyādīni rakkhituṃ vaṭṭatī”ti vatvā dhammaṃ desento imā gāthā abhāsi –
“Kāyappakopaṃ rakkheyya, kāyena saṃvuto siyā;
Kāyaduccaritaṃ hitvā, kāyena sucaritaṃ care.
“Vacīpakopaṃ rakkheyya, vācāya saṃvuto siyā;
Vacīduccaritaṃ hitvā, vācāya sucaritaṃ care.
“Manopakopaṃ rakkheyya, manasā saṃvuto siyā;
Manoduccaritaṃ hitvā, manasā sucaritaṃ care.
“Kāyena saṃvutā dhīrā, atho vācāya saṃvutā;
Manasā saṃvutā dhīrā, te ve suparisaṃvutā”ti.
Tattha kāyappakopanti tividhaṃ kāyaduccaritaṃ rakkheyya. Kāyena saṃvutoti kāyadvāre duccaritapavesanaṃ nivāretvā saṃvuto pihitadvāro siyā. Yasmā pana kāyaduccaritaṃ hitvā kāyasucaritaṃ caranto ubhayampetaṃ karoti, tasmā kāyaduccaritaṃ hitvā, kāyena sucaritaṃ careti vuttaṃ. Anantaragāthāsupi eseva nayo. Kāyena saṃvutā dhīrāti ye paṇḍitā pāṇātipātādīni akarontā kāyena, musāvādādīni akarontā vācāya, abhijjhādīni asamuṭṭhapentā manasā saṃvutā, te idha lokasmiṃ susaṃvutā surakkhitā sugopitā supihitadvārāti attho.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Chabbaggiyavatthu aṭṭhamaṃ.
Kodhavaggavaṇṇanā niṭṭhitā.
Sattarasamo vaggo.
XVII. 8. The Band of Six
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
231-234. Angry deeds should one control...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Veḷuvana with reference to the monks of the Band of Six.
For one day the monks of the Band of Six put wooden shoes on their feet, and taking staves of wood in their two hands, walked up and down on the surface of a flat rock. The Teacher hearing the clatter, asked Elder Ānanda, “Ānanda, what is that noise?” The Elder replied, “The monks of the Band of Six are walking about in wooden shoes; they are making the clatter you hear.” When the Teacher heard this, he promulgated the following precept, “A monk should control his deeds, his words, and his thoughts.” So saying, he expounded the Law by pronouncing the following Stanzas,
231. Angry deeds should one control; one should be restrained in action;
One should renounce evil deeds; one should do good deeds.
232. Angry words should one control; one should be restrained in word;
One should renounce evil words; one should speak good words.
233. Angry thoughts should one control; one should be restrained in thought;
One should renounce evil thoughts; one should cultivate good thoughts.
234. Wise men who control their deeds, wise men who control their speech,
Wise men who control their thoughts, such men are indeed well controlled.
- This story is derived from the Vinaya, Mahā Vagga, v. 6: i. 188Ṛ-189’. Text: N iii. 330-331.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.