Chú giải Pháp Cú · Kệ 227–230 · Dhp 227–230

Tích Thiện Nam Atula

Atulaupāsakavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 227–230 Kinh Pháp Cú, phẩm Phẫn Nộ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 227-228-229-230)

“Porāṇametaṃ atula,
Netaṃ ajjatanāmiva;
Nindanti tuṇhimāsīnaṃ,
Nindanti bahubhāṇinaṃ;
Mitabhāṇimpi nindanti,
Natthi loke anindito.”

“A-tu-la, nên biết,
Xưa vậy, nay cũng vậy,
Ngồi im, bị người chê,
Nói nhiều, bị người chê,
Nói vừa phải, bị chê.
Làm người không bị chê,
Thật khó tìm ở đời.”
(Ngài HT Minh Châu)

Pháp Cú nầy Đức Thế Tôn thuyết ra khi Ngài ngự tại Tịnh xá Jetavana, đề cập đến cận sự nam Atula.

Atula là một thiện nam cư ngụ trong thành Sāvatthī, cầm đầu một nhóm 500 thiện nam khác. Một hôm, ông ta dẫn đoàn tùy tùng của mình đi chùa nghe pháp. Muốn nghe lại Đại Đức Revata thuyết pháp, ông đến đảnh lễ Đại Đức rồi ngồi xuống chờ đợi. Nhưng Đại Đức giữ hạnh độc cư, thỏa thích ở nơi thanh vắng một mình như Sư Tử chúa, bởi thế, Ngài chẳng thuyết chi đến thiện nam Atula cả.

Ông ta nổi giận đứng dậy nói: “Đại Đức nầy không có gì để thuyết cả”. Rồi ông ta đến với Đại Đức Sāriputta đứng nép qua một bên sau khi đã đảnh lễ Ngài.

- Nầy cận sự nam! Ông đến đây với ý gì?

- Bạch Ngài! Con đưa những thiện nam nầy đi nghe Pháp và dẫn gặp Ngài Revata. Nhưng vị ấy chẳng có chi để thuyết cho con nghe cả, nên con giận bỏ đi đến gặp Ngài. Xin Ngài hãy thuyết pháp cho chúng con nghe.

- Nếu vậy, các người hãy ngồi xuống, lắng tâm nghe Pháp.

Đại Đức liền thuyết về Vi Diệu Tạng. Atula suy nghĩ: “A Tỳ Đàm luận rất là sâu xa, tế nhị, thế mà Đại Đức giải dài dòng, nào có ích lợi gì cho chúng ta đâu.”

Tâm ông phát sân hận, liền dẫn đoàn tùy tùng đi tìm Đại Đức Ānanda. Đại Đức hỏi:

- Cái gì thế? Nầy ông thiện nam.

- Bạch Ngài! Chúng con tìm đến Đại Đức Revata nghe Pháp, nhưng chẳng nghe được lời nào cả. Chúng con bỏ đi tìm đến Đại Đức Sāriputta, Đại Đức lại thuyết quá nhiều về Vi Diệu tạng, Pháp nầy rất vi tế sâu xa, có ích gì cho chúng con đâu. Nên chúng con bỏ Ngài Sāriputta đi đến đây. Bạch Ngài! Xin Ngài hoan hỷ thuyết pháp cho chúng con nghe đi.

- Nếu vậy, các người hãy ngồi xuống nghe Pháp đi.

Đại Đức Ānanda thuyết lên thời Pháp ngắn, nhưng giải thật rành mạch cho hội chúng dễ hiểu. Nhưng họ cũng không hài lòng, bỏ đi tìm đến Đức Đạo Sư, đảnh lễ Ngài xong rồi, ngồi nép một bên, Đức Thế Tôn phán hỏi:

- Nầy các cận sự! Vì sao các ngươi đến đây?

- Bạch Ngài, chúng con muốn nghe Pháp.

- Nhưng các ngươi đã được nghe Pháp rồi mà.

- vBạch Ngài! Ban đầu chúng con đến Ngài Revata, nhưng Đại Đức chẳng thuyết chi cả. Giận Đại Đức chúng con tìm đến Đại Đức Sāriputta, thì Đại Đức thuyết quá nhiều về Vi Diệu Tạng, chúng con nghe không thấu. Chúng con lại tìm đến Đại Đức Ānanda, nhưng Đại Đức lại thuyết cho chúng con nghe thời pháp ngắn ngũi, chúng con lại bất mãn rũ nhau đến đây.

- Nầy Atula! Từ xưa đến giờ con người vẫn có thói quen chê trách kẻ lặng thinh, kẻ nói nhiều và kẻ ít nói như vậy rồi. Không một ai là khỏi bị chê trách hoặc là khỏi bị khen ngợi. Dầu là Vua chúa đi nữa vẫn có người chê trách và vẫn có người khen tặng. Cho đến địa đại, mặt trăng, mặt trời, hư không hoặc ngay Đấng Chánh Biến Tri đang ngồi thuyết pháp giữa hội chúng, cũng có một số người chê và một số người khen. Sự chê và khen của kẻ ngu si thì không giới hạn. Nhưng các bậc hiền trí, hàng thức giả thì chê đáng gọi là chê, khen đáng gọi là khen.

Nói rồi, Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:

“Porāṇametaṃ atula,
Netaṃ ajjatanāmiva;
Nindanti tuṇhimāsīnaṃ,
Nindanti bahubhāṇinaṃ;
Mitabhāṇimpi nindanti,
Natthi loke anindito.”

“A-tu-la, nên biết,
Xưa vậy, nay cũng vậy,
Ngồi im, bị người chê,
Nói nhiều, bị người chê,
Nói vừa phải, bị chê.
Làm người không bị chê,
Thật khó tìm ở đời.”
(Ngài HT Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Porāṇametaṃ (Purānakam etam) chuyện ấy đã xưa, đã có từ xưa.

Atula: Tên gọi cận sự nam.

Netaṃ ajjatanāmiva: Chuyện chê hay khen nầy không phải vừa mới sanh lên đâu. Quả vậy, người làm thinh thì bị chê rằng: Ông đó cứ ngồi làm thinh hoài, giống như câm, như điếc, như không biết chi hết vậy. Người nói nhiều cũng bị chê rằng: “Ông nầy sao cứ nói lòng vòng mãi, không có chỗ tận cùng, giống như gió thổi qua tàu lá thốt nốt vậy”. Người nói quá ít cũng bị chỉ trích rằng: “Ông nầy nói có một hai tiếng rồi làm thinh, tưởng như lời nói của mìnhlà vàng bạc vậy”. Như thế thì khắp nơi trên thế giới, không đâu không có người bị chê trách.

Na cāhu: Trong quá khứ không có, trong hiện tại cũng không có, trong tương lai cũng sẽ không có.

Yañce viññū: Việc chê hay khen của hạng người ngu xuẩn không giới hạn. Còn việc nào mà bậc hiền trí hằng quán xét biết rõ là việc chê hay khen, rồi mới chê hoặc khen. Đó là việc khen chê đúng đắn.

Acchiddavattim: Có đầy đủ sự nuôi mạng thanh tịnh và học giới không sứt mẻ. Bậc Trí quả (kedhavī) là bậc có đầy đủ trí tuệ và hương vị chánh pháp. Bậc hiền trí khen ngợi bậc đã thanh lộc, bậc không ô nhiễm, như đồng tiền vàng sáng chói. Ai dám chê bậc ấy?

Davāpi: Dầu là Chư Thiên hay nhân loại hiền trí đều tán dương bậc trí giả ấy.

Bhāṇimpi: Chẳng những nhân thiên mà thôi, luôn cả Đại Phạm Thiên trong 10 ngàn thế giới cũng khen ngợi vị ấy nữa.

Cuối thời pháp, 500 cận sự nam chứng đắc quả Tu Đà Hườn.

Nói nhiều, nói ít, hoặc làm thinh
Đều bị cười chê, chẳng vị tình
Ví gặp nhà Vua hay Đức Phật
Nhưng ông ngã mạn vẫn xem khinh
Miêng thế dèm pha khó liệu lường
Tỳ Khưu Giới hạnh ráng tìm nương
Gặp ai cao kiến, nên cầu học
Hạnh sáng như vàng, Phật tán dương.
Dắt dẫn người nghe pháp Nhiệm mầu
Sao lòng tự mãn cứ câu mâu
Năm trăm thính giả nhờ không giận
Qua Mặt “ĀGHĀ” chứng quả mầu.

DỨT TÍCH THIỆN NAM ATULA

Atulaupāsakavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Porāṇametanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto atulaṃ nāma upāsakaṃ ārabbha kathesi.

So hi sāvatthivāsī upāsako pañcasataupāsakaparivāro ekadivasaṃ te upāsake ādāya dhammassavanatthāya vihāraṃ gantvā revatattherassa santike dhammaṃ sotukāmo hutvā revatattheraṃ vanditvā nisīdi. So panāyasmā paṭisallānārāmo sīho viya ekacāro, tasmā tena saddhiṃ na kiñci kathesi. So “ayaṃ thero na kiñci kathesī”ti kuddho uṭṭhāya sāriputtattherassa santikaṃ gantvā ekamantaṃ ṭhito therena “kenatthena āgatatthā”ti vutte “ahaṃ, bhante, ime upāsake ādāya dhammassavanatthāya revatattheraṃ upasaṅkamiṃ, tassa me thero na kiñci kathesi, svāhaṃ tassa kujjhitvā idhāgato, dhammaṃ me kathethā”ti āha. Atha thero “tena hi upāsakā nisīdathā”ti vatvā bahukaṃ katvā abhidhammakathaṃ kathesi. Upāsakopi “abhidhammakathā nāma atisaṇhā, thero bahuṃ abhidhammameva kathesi, amhākaṃ iminā ko attho”ti kujjhitvā parisaṃ ādāya ānandattherassa santikaṃ agamāsi.

Therenāpi “kiṃ upāsakā”ti vutte, “bhante, mayaṃ dhammassavanatthāya revatattheraṃ upasaṅkamimhā, tassa santike ālāpasallāpamattampi alabhitvā kuddhā sāriputtattherassa santikaṃ agamimhā, sopi no atisaṇhaṃ bahuṃ abhidhammameva kathesi, ‘iminā amhākaṃ ko attho’ti etassāpi kujjhitvā idhāgamimhā, kathehi no, bhante, dhammakatha”nti. Tena hi nisīditvā suṇāthāti thero tesaṃ suviññeyyaṃ katvā appakameva dhammaṃ kathesi. Te therassapi kujjhitvā satthu santikaṃ gantvā vanditvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, atha ne satthā āha – “kasmā upāsakā āgatatthā”ti? “Dhammassavanāya, bhante”ti. “Suto pana vo dhammo”ti? “Bhante, mayaṃ ādito revatattheraṃ upasaṅkamimhā, so amhehi saddhiṃ na kiñci kathesi, tassa kujjhitvā sāriputtattheraṃ upasaṅkamimhā, tena no bahu abhidhammo kathito, taṃ asallakkhetvā kujjhitvā ānandattheraṃ upasaṅkamimhā, tena no appamattakova dhammo kathito, tassapi kujjhitvā idhāgatamhā”ti.

Satthā tassa kathaṃ sutvā, “atula, porāṇato paṭṭhāya āciṇṇamevetaṃ, tuṇhībhūtampi bahukathampi mandakathampi garahantiyeva. Ekantaṃ garahitabboyeva vā hi pasaṃsitabboyeva vā natthi. Rājānopi ekacce nindanti, ekacce pasaṃsanti. Mahāpathavimpi candimasūriyepi ākāsādayopi catuparisamajjhe nisīditvā dhammaṃ kathentampi sammāsambuddhaṃ ekacce garahanti, ekacce pasaṃsanti. Andhabālānañhi nindā vā pasaṃsā vā appamāṇā, paṇḍitena pana medhāvinā nindito nindito nāma, pasaṃsito ca pasaṃsito nāma hotī”ti vatvā imā gāthā abhāsi –

“Porāṇametaṃ atula, netaṃ ajjatanāmiva;
Nindanti tuṇhimāsīnaṃ, nindanti bahubhāṇinaṃ;
Mitabhāṇimpi nindanti, natthi loke anindito.

“Na cāhu na ca bhavissati, na cetarahi vijjati;
Ekantaṃ nindito poso, ekantaṃ vā pasaṃsito.

“Yaṃ ce viññū pasaṃsanti, anuvicca suve suve;
Acchiddavuttiṃ medhāviṃ, paññāsīlasamāhitaṃ.

“Nikkhaṃ jambonadasseva, ko taṃ ninditumarahati;
Devāpi naṃ pasaṃsanti, brahmunāpi pasaṃsito”ti.

Tattha porāṇametanti purāṇakaṃ etaṃ. Atulāti taṃ upāsakaṃ nāmena ālapati. Netaṃ ajjatanāmivāti idaṃ nindanaṃ vā pasaṃsanaṃ vā ajjatanaṃ adhunā uppannaṃ viya na hoti. Tuṇhimāsīnanti kiṃ eso mūgo viya badhiro viya kiñci ajānanto viya tuṇhī hutvā nisinnoti nindanti. Bahubhāṇinanti kiṃ esa vātāhatatālapaṇṇaṃ viya taṭataṭāyati, imassa kathāpariyantoyeva natthīti nindanti. Mitabhāṇimpīti kiṃ esa suvaṇṇahiraññaṃ viya attano vacanaṃ maññamāno ekaṃ vā dve vā vatvā tuṇhī ahosīti nindanti. Evaṃ sabbathāpi imasmiṃ loke anindito nāma natthīti attho. Na cāhūti atītepi nāhosi, anāgatepi na bhavissati.

Yaṃ ce viññūti bālānaṃ nindā vā pasaṃsā vā appamāṇā, yaṃ pana paṇḍitā divase divase anuvicca nindakāraṇaṃ vā pasaṃsakāraṇaṃ vā jānitvā pasaṃsanti, acchiddāya vā sikkhāya acchiddāya vā jīvitavuttiyā samannāgatattā acchiddavuttiṃ dhammojapaññāya samannāgatattā medhāviṃ lokiyalokuttarapaññāya ceva catupārisuddhisīlena ca samannāgatattā paññāsīlasamāhitaṃ pasaṃsanti, taṃ suvaṇṇadosavirahitaṃ ghaṭṭanamajjanakkhamaṃ jambonadanikkhaṃ viya ko ninditumarahatīti attho. Devāpīti devatāpi paṇḍitamanussāpi taṃ bhikkhuṃ upaṭṭhāya thomenti pasaṃsanti. Brahmunāpīti na kevalaṃ devamanussehi, dasasahassacakkavāḷe mahābrahmunāpi esa pasaṃsitoyevāti attho.

Desanāvasāne pañcasatāpi upāsakā sotāpattiphale patiṭṭhahiṃsūti.

Atulaupāsakavatthu sattamaṃ.

XVII. 7. Nothing, too much, and too little

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

227. This is an old, old saying, Atula...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the lay disciple Atula.

For Atula was a lay disciple who lived at Sāvatthi, and he had a retinue of five hundred other lay disciples. One day he took those lay disciples with him to the monastery to hear the Law. Desiring to hear Elder Revata preach the Law, he saluted Elder Revata and sat down respectfully on one side. Now this Venerable Elder Revata was a solitary recluse, delighting in solitude even as a lion delights in solitude, wherefore he had nothing to say to Atula.

“This Elder has nothing to say,” thought Atula. Provoked, he arose from his seat, went to Elder Sāriputta, and took his stand respectfully on one side. “For what reason have you come to me?” asked Elder Sāriputta. “Reverend Sir,” replied Atula, “I took these lay disciples of mine to hear the Law and approached Elder Revata. But he had nothing to say to me; therefore I was provoked at him and have come here. Preach the Law to me.” “Well then, lay disciple,” said the Elder Sāriputta, “sit down.” And forthwith Elder Sāriputta expounded the Abhidhamma at great length.

Thought the lay disciple, “Abhidhamma is exceedingly abstruse, and the Elder has expounded this alone to me at great length; of what use is he to us? Provoked, he took his retinue with him and went to Elder Ānanda. Said Elder Ānanda, “What is it, lay disciple?” Atula replied, “Reverend Sir, we approached Elder Revata for the purpose of hearing the Law, and got not so much as a syllable from him. Provoked at this, we went to Elder Sāriputta and he expounded to us at great length Abhidhamma alone with all its subtleties. ‘Of what use is he to us?’ thought we to ourselves; and provoked at him also, we came here. Preach the Law to us, Reverend Sir.” “Well then,” replied Elder Ānanda, “sit down and listen.” Thereupon Elder Ānanda expounded the Law to them very briefly, and making it very easy for them to understand.

But they were provoked at the Elder Ānanda also, and going to the Teacher, saluted him, and sat down respectfully on one side. Said the Teacher to them, “Lay disciples, why have you come here?” “To hear the Law, Reverend Sir.” “But you have heard the Law.” “Reverend Sir, first we went to Elder Revata, and he had nothing to say to us; provoked at him, we approached Elder Sāriputta, and he expounded the Abhidhamma to us at great length; but we were unable to understand his discourse, and provoked at him, approached the Elder Ānanda; Elder Ānanda, however, expounded the Law to us very briefly, wherefore we were provoked at him also and came here.”

The Teacher heard them say their say and then replied, “Atula, from days of yore until now, it has been the invariable practice of men to blame him who said nothing, him who said much, and him who said little. There is no one who deserves unqualified blame and no one who deserves unqualified praise. Even kings are blamed by some and praised by others. Even the great earth, even the sun and moon, even a Supremely Enlightened Buddha, sitting and speaking in the midst of the Fourfold Assembly, some blame, and others praise. For blame or praise bestowed by utter simpletons is a matter of no account. But he whom a man of learning and intelligence blames or praises, – he is blamed or praised indeed.” So saying, he pronounced the following Stanzas,

227. This is an old, old saying, Atula, this is no mere saying of to-day:
“They blame him who sits silent, they blame him who says much,
They also blame him who says little.” There is no one in the world that is not blamed.

228. There never was, there never will be, there lives not now
A man who receives unqualified blame or unqualified praise.

229. If men of intelligence always, from day to day, praise
Some man as free from flaws, wise, endowed with learning and goodness, –

230. Who would venture to find fault with such a man, any more than with a coin made of gold of the Jambu river?
Even the gods praise such a man, even by Brahmā is he praised.

  1. Text: N iii. 325-329.
  2. Ed. note: Original reads: This is an old saying.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này