Tích Ông Bà La Môn Tuần Tự
Aññatarabrāhmaṇavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 239 Kinh Pháp Cú, phẩm Cấu Uế, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 239)
“Anupubbena medhāvī,
Thokaṃ thokaṃ khaṇe khaṇe;
Kammāro rajatasseva,
Niddhame malamattano.”
“Bậc trí theo tuần tự.
Từng sát na trừ dần
Như thợ vàng lọc bụi
Trừ cấu uế nơi mình.”
(Ngài HT Minh Châu)
Kệ Pháp Cú nầy Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập đến ông Bà la môn nọ.
Tương truyền rằng: Một lần nọ, ông Bà la môn ấy vào sáng tinh sương, đã ra khỏi thành, chợt ông trông thấy chư Tỳ Khưu đang đấp y. Ngay tại chỗ đứng đấp y chư Tỳ Khưu, cỏ mọc rậm rì, khi ấy một đường viền y của một vị Tỳ Khưu đang đấp bị kéo lê trên cỏ và bị thấm ướt bởi những giọt sương đêm. Thấy vậy, Bà la môn nghĩ thầm: “Cần phải là sạch cỏ chỗ nầy mới được”. Qua ngày sau, ông mang cuốc đến làm sạch cỏ nơi ấy và san bằng phẳng như cái sân phơi lúa.
Qua ngày sau, ông đến nơi ấy lại thấy đường viền y của chư Tỳ Khưu kéo lê trên đất, lấm bụi vào y, ông suy nghĩ: “Cần phải rãi cát lên nơi nầy mới được”. Và ông đã thực hiện việc ấy.
Một lần khác, nhìn thấy chư Tỳ Khưu bị nóng bức, mồ hôi chảy tươm ra khi đứng đấp y. Ông suy nghĩ: “ta cần cất một cái rẹp che mắt tại nơi nầy mới được”. Ông thuê người đến che thành một rạp che mắt tại nơi ấy. Hôm sau, khi ông đến thì trời đang vần vu, mưa tạt vào y của chư Tỳ Khưu đứng trong rạp ấy, ông lại suy nghĩ: “Nơi đây, ta cần cho người dựng lên một gian phòng kín đáo và lớn”. Sau khi mướn người dựng xong đại sảnh, ông suy nghĩ rằng: “Giờ đây, ta nên làm lễ khánh thành gian phòng lớn nầy”
Ông thỉnh Tỳ Khưu Tăng có Đức Phật là vị Thượng Thủ đến ngồi vào nơi được soạn sẵn trong Đại sảnh ấy, dâng vật thực cúng dường xong, chờ Đức Bổn Sư thọ thực xong, ông thỉnh bát Ngài và mong Ngài phúc chúc cho ông. Ông bạch với Đức Thế Tôn rằng:
- Bạch Ngài! Trong khi con đứng tại chỗ nầy, đã trông thấy chư Tỳ Khưu đã như thế... như thế nầy. Và con đã làm như thế nầy…như thế nầy…
Ông thuật lại mọi việc đến Đức Thế Tôn. Khi nghe dứt câu chuyện, Đức Thế Tôn dạy rằng:
- Nầy Bà la môn! Bậc được gọi là hiền trí vẫn giữ mực chậm rải, từ tốn, tuần tự làm việc lành để giải trừ sự cấu uế của các ác hạnh của mình như thế đó.
Rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:
“Anupubbena medhāvī,
Thokaṃ thokaṃ khaṇe khaṇe;
Kammāro rajatasseva,
Niddhame malamattano.”
“Bậc trí theo tuần tự.
Từng sát na trừ dần
Như thợ vàng lọc bụi
Trừ cấu uế nơi mình.”
(Ngài HT Minh Châu)
CHÚ GIẢI:
Anupubbena: Lần lượt theo thứ tự.
Medhāvī: Bậc viên mãn trí, nếm được hương vị của Chánh Pháp rồi.
Khaṇe khaṇe: Từng dịp, từng dịp làm lành.
Kammāro rajatasseva: Cũng như người thợ
vàng, không thể nào chỉ một lần mở nung đốt, nghiền nát, lọc bỏ chất dơ được của vàng để làm thành món nữ trang được, nhiều lần lượt bỏ chất bẩn lẫn trong vàng mới có thể làm thành món nữ trang. Cũng như thế ấy, bậc hiền trí phải làm lành nhiều lượt để tống trừ những ô nhiễm, cấu uế, nhất là tham ái từ nơi mình. Có như thế mới giải trừ được những ô nhiễm, phiền não, uế trược.
Cuối thời Pháp, ông Bà la môn chứng đắc Quả Tu Đà Hườn, đại chúng thính Pháp cũng được nhiều lợi ích.
Từ từ chậm rãi tiến dần lên
Việc nhỏ an bài, việc lớn lên
Bậc trí kiên tâm trừ cấu uế
Đầu tiên lập chí phải cho bền
Như ông Phạm Chí trước ban nền
Dẫy cỏ vừa xong, rải cát lên
Cất rạp tiện bề Sư đụt nắng
Cho làm phòng rộng, cũng không quên
Nhân lễ khánh thành nghe Pháp Phật
Thời lai Tuệ Nhãn tự nhiên thông.
DỨT TÍCH ÔNG BÀ LA MÔN TUẦN TỰ
Aññatarabrāhmaṇavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Anupubbenāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto aññatarabrāhmaṇaṃ ārabbha kathesi.
So kira ekadivasaṃ pātova nikkhamitvā bhikkhūnaṃ cīvarapārupanaṭṭhāne bhikkhū cīvaraṃ pārupante olokento aṭṭhāsi. Taṃ pana ṭhānaṃ virūḷhatiṇaṃ hoti. Athekassa bhikkhuno cīvaraṃ pārupantassa cīvarakaṇṇo tiṇesu pavaṭṭento ussāvabindūhi temi. Brāhmaṇo “imaṃ ṭhānaṃ appaharitaṃ kātuṃ vaṭṭatī”ti punadivase kuddālaṃ ādāya gantvā taṃ ṭhānaṃ tacchetvā khalamaṇḍalasadisaṃ akāsi. Punadivasepi taṃ ṭhānaṃ āgantvā bhikkhūsu cīvaraṃ pārupantesu ekassa cīvarakaṇṇaṃ bhūmiyaṃ patitvā paṃsumhi pavaṭṭamānaṃ disvā “idha vālukaṃ okirituṃ vaṭṭatī”ti cintetvā vālukaṃ āharitvā okiri.
Athekadivasaṃ purebhattaṃ caṇḍo ātapo ahosi, tadāpi bhikkhūnaṃ cīvaraṃ pārupantānaṃ gattato sede muccante disvā “idha mayā maṇḍapaṃ kāretuṃ vaṭṭatī”ti cintetvā maṇḍapaṃ kāresi. Punadivase pātova vassaṃ vassi, vaddalikaṃ ahosi. Tadāpi brāhmaṇo bhikkhū olokentova ṭhito tintacīvarake bhikkhū disvā “ettha mayā sālaṃ kāretuṃ vaṭṭatī”ti sālaṃ kāretvā “idāni sālamahaṃ karissāmī”ti cintetvā buddhappamukhaṃ bhikkhusaṅghaṃ nimantetvā anto ca bahi ca bhikkhū nisīdāpetvā bhattakiccāvasāne anumodanatthāya satthu pattaṃ gahetvā, “bhante, ahaṃ bhikkhūnaṃ cīvarapārupanakāle imasmiṃ ṭhāne olokento ṭhito idañcidañca disvā idañcidañca kāresi”nti ādito paṭṭhāya sabbaṃ taṃ pavattiṃ ārocesi. Satthā tassa vacanaṃ sutvā, “brāhmaṇa, paṇḍitā nāma khaṇe khaṇe thokaṃ kusalaṃ karontā anupubbena attano akusalamalaṃ nīharantiyevā”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Anupubbena medhāvī, thokaṃ thokaṃ khaṇe khaṇe;
Kammāro rajatasseva, niddhame malamattano”ti.
Tattha anupubbenāti anupaṭipāṭiyā. Medhāvīti dhammojapaññāya samannāgato. Khaṇe khaṇeti okāse okāse kusalaṃ karonto. Kammāro rajatassevāti yathā suvaṇṇakāro ekavārameva suvaṇṇaṃ tāpetvā koṭṭetvā malaṃ nīharitvā pilandhanavikatiṃ kātuṃ na sakkoti, punappunaṃ tāpento koṭṭento pana malaṃ nīharati, tato anekavidhaṃ pilandhanavikatiṃ karoti, evameva punappunaṃ kusalaṃ karonto paṇḍito attano rāgādimalaṃ niddhameyya, evaṃ niddhantamalo nikkilesova hotīti attho.
Desanāvasāne brāhmaṇo sotāpattiphale patiṭṭhati, mahājanassāpi sātthikā dhammadesanā ahosīti.
Aññatarabrāhmaṇavatthu dutiyaṃ.
XVIII. 2. Little by Little
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
239. One after another...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to a certain Brahman.
The story goes that early one morning this Brahman went out of the city, stopped at the place where the monks put on their robes, and stood and watched them as they put on their robes. Now this place was thickly overgrown with grass. As one of the monks put on his robe, the skirt of the robe dragged through the grass and became wet with drops of dew. Thought the Brahman, “The grass should be cleared away from this place.” So on the following day he took his mattock, went thither, cleared the place, and made it as clean and smooth as a threshing-floor. The day after, he went to that place again. As the monks put on their robes, he observed that the skirt of the robe of one of the monks dropped to the ground and dragged in the dust. Thought the Brahman, “Sand should be sprinkled here.” So he brought sand and sprinkled it on the ground.
Now one day before breakfast the heat was intense. On this occasion he noticed that as the monks put on their robes, sweat poured from their bodies. Thought the Brahman, “Here I ought to cause a pavilion to be erected.” Accordingly he caused a pavilion to be erected. Again one day, early in the morning, it rained. On this occasion also, as the Brahman watched the monks, he noticed that their robes were wetted by the drops of rain. Thought the Brahman, “Here I ought to cause a hall to be erected.” So there he caused a hall to be erected. When the hall was finished, he thought to himself, “Now I will hold a festival in honor of the completion of the hall.” Accordingly he invited the Congregation of Monks presided over by the Buddha, seated the monks within and without the hall, and gave alms.
At the conclusion of the meal he took the Teacher’s bowl to permit him to pronounce the words of thanksgiving. “Reverend Sir,” said he, “as I stood in this place when the monks were putting on their robes and watched them, I saw this and that, and I did this and that.” And beginning at the beginning, he told the Teacher the whole story. The Teacher listened to his words and then said, “Brahman, a wise man by doing good works, time after time, little by little, gradually removes the stains of his own evil deeds.” So saying, he pronounced the following Stanza,
239. One after another, little by little, time after time, a wise man
Should blow away his own impurities, even as a smith blows away the impurities of silver.
- Text: N iii. 338-341.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.