Tích Ông Oán Trách Thí
Garahadinnavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 58–59 Kinh Pháp Cú, phẩm Hoa, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 58-59)
“Yathā saṅkāradhānasmiṃ
Ujjhitasmiṃ mahāpathe
Padumaṃ tattha jāyetha
Sucigandhaṃ
manoramaṃ.”
“Evaṃ saṅkārabhūtesu
Andhabhūte puthujjane
Atirocati paññāya
Sammāsambuddhasāvako.”
“Như từ đống rác đen,
Vứt trên bờ đại lộ,
Mọc lên một đóa sen,
Sạch thơm ai cũng mộ.”
“Từ chúng sanh như rác,
Phàm tục và ngu si,
Sáng ngời với tuệ giác,
Đệ tử đấng Toàn Tri.”
Hai bài kệ nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết pháp ra khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập đến một đệ tử của nhóm ngoại đạo Nigantha (Ni Kiền Tử: Ly Hệ Giả), tên là Garahadinna (Oán Trách Thí).
Thời bấy giờ, trong thành Sāvatthī có hai người bạn là ông Sirigutta (Thủ Danh Dự) và ông Garahadinna (Oán Trách Thí). Ông Sirigutta là một cận sự nam, Garahadinna lại là đệ tử của nhóm ngoại đạo Ly Hệ Giả (Nigantha), các du sĩ ngoại đạo nầy thường xúi bảo ông Garahadinna rằng:
- Ông vốn là bạn của Sirigutta, sao ông không chỉ dạy ông ấy rằng: “Bạn theo Sa môn Gotama làm chi? Theo đạo ông ta bạn có được lợi ích chi?”, ông nên khuyến dụ ông ấy đến nghe chúng ta thuyết pháp.
Vâng theo lời thầy, ông Garahadinna thường lân la gần gũi với ông Sirigutta. Những lúc hai người đứng hoặc ngồi chung, ông khuyên bạn như vầy:
- Bạn à! Bạn theo Sa môn Gotama làm chi? Theo ông ấy bạn có lợi ích gì? Sao bạn không tìm đến cúng dường các Đại đức của tôi?
Mặc dầu nghe bạn nhắc nhở như thế trong nhiều ngày, ông Sirigutta vẫn làm thinh bỏ qua.
Nhưng một hôm, ông Sirigutta hỏi ông Garahadinna:
- Nầy bạn, bạn thường đến chơi với tôi, trong lúc đứng hoặc ngồi chung, bạn hay nhắc nhở tôi rằng: “Theo đạo của Sa môn Gotama bạn sẽ được lợi ích gì? Bạn hãy đến cúng dường chư Đại đức của tôi.”. Thưa bạn, xin lỗi bạn đừng buồn. Đối với tôi các Đại đức của bạn nào có biết chi đâu.
- Thôi thôi bạn ơi, bạn đừng có nói vậy. Chư Đại đức của tôi thì có gì mà chẳng hiểu biết. Các Ngài thông suốt tất cả nghiệp do thân, khẩu, ý trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Các Ngài biết trước việc nào sẽ xảy ra cùng không xảy ra, việc nào có thể cùng không thể được.
- Bạn nói chắc không?
- Dạ thưa bạn, chắc chớ.
- Nếu quả vậy thì bạn tệ thật. Từ bấy lâu nay sao bạn không chỉ rõ giùm tôi việc đó. Đến hôm nay tôi mới biết oai lực tuệ giác của các Đại đức bạn à, tôi nhờ bạn thay mặt tôi đi thỉnh giùm chư Đại đức đến đây để tôi cúng dường.
Ông Garahadinna bèn đến chùa của nhóm Nigantha, đảnh lễ các thầy và bạch rằng: “Bạn tôi là Sirigutta xin thỉnh chư Đại đức ngày mai đến nhà ông ấy.”.
- Chính ông Sirigutta nói với ông phải không?
- Dạ phải, bạch chư Đại đức.
Nhóm ngoại đạo vui mừng hớn hở bảo nhau:
- Chúng ta bây giờ thấy khỏe rồi, chỉ có việc nằm ngủ mà thôi. Hễ được Sirigutta tin tưởng nơi chúng ta rồi, thì từ này về sau có thứ lễ vật nào mà chúng ta chẳng có được.
Chỗ ở của ông Sirigutta rất lớn và rộng, trong khuôn đất đó nơi có khoảng trống giữa hai ngôi nhà, ông cho đào một cái mương dài rồi lấy sình non và phân lấp đầy mương bằng mặt đất. Ngoài hai đầu mương, ông cho đóng hai cây cừ ló đầu lên, cột dây giăng dài trên đường mương, đoạn ông cho sắp ghế thành một hàng, chân trước ghế nằm trên mép mương trước, chân ghế sau nằm gá lên đường dây, như thế, người ngồi trên ghế sẽ bật ngửa ra sau, té chỏng gọng, muốn che giấu cái đường mương, ông cho trải thảm phủ lên hàng ghế. Phía sau nhà, ông cho sắp nhiều cái khạp không, lấy lá chuối và vải cũ bịt miệng khạp, đoạn lấy cháo, cơm, bơ, đường, bánh vụn trây trét bên ngoài. Sáng hôm sau, ông Garahadinna lật đật đến nhà bạn thật sớm và hỏi:
- Lễ vật cúng chư Đại đức đã sẵn sàng chưa?
- Đàng hoàng hết cả rồi bạn à.
- Đâu để tôi coi thử coi.
- Trong mấy cái khạp đó, đây là khạp đựng cháo, kia là khạp đựng cơm, những khạp đó bơ, khạp đường, khạp bánh đủ thứ…Ghế ngồi cũng đã sắp sẵn cả rồi.
Ông Garahadinna nói: “Lành thay”, rồi ông ra đi, khi ông vừa đi ra thì năm trăm du sĩ Nigantha cũng vừa đi đến.
Ông Sirigutta ra khỏi nhà, gieo năm vóc xuống lễ chào các Nigantha, đứng dậy chắp tay nguyện thầm rằng: “Nghe nói quí Ngài quán trí quá khứ, vị lai, việc gì cũng biết, chính người hộ độ cho quí Ngài đã nói với tôi như thế. Nếu quả thật quí Ngài toàn tri thì quí Ngài đừng vào nhà tôi, vì khi quí Ngài vào nhà tôi, Ngài nào té xuống mương phẩn thì sẽ lấy cây khệnh.”.
Nguyện rồi, ông Sirigutta dặn nhỏ các gia đinh: “Các ngươi biết cách sắp đặt ghế ngồi như thế nào rồi. Vậy các người hãy chực chờ bên mép mương phía sau ghế đặng rút mấy tấm thảm, đừng cho dính đồ dơ.”.
Đoạn ông lên tiến thỉnh Nigantha:
- Bạch Ngài, xin thỉnh quí Ngài vào trong nầy.
Nhóm Nigantha vào tới trong sân, định ngồi lên ghế đã được trải sẵn tọa cụ. Nhưng các gia đinh ngăn lại rằng:
- Bạch các Ngài chậm lại một chút, xin đừng ngồi liền như thế.
- Tại sao vậy?
- Vào nhà chúng tôi, các Ngài nên biết phận sự của mình trước rồi hãy ngồi sau.
- Phải làm phận sự chi ạ, hỡi đạo hữu?
- Mỗi Ngài nên vào đứng trước chỗ của mình đều đủ hết cả rồi, chừng ấy mới ngồi xuống một lượt.
Đây là các gia đinh nghe lời dặn của chủ, cho họ lọt xuống mương đồng loạt, đừng cho họ ngồi lẻ tẻ.
Các Nigantha đáp: “Lành thay!”, trong tâm họ nghĩ rằng: “Chúng ta nên làm y theo lời chỉ dẫn của các nhân viên nầy.”.
Khi ấy, các gia đinh bảo họ:
- Bạch Ngài, xin các Ngài hãy ngồi xuống cho thật lẹ.
Khi nhóm Nigantha vừa dợm ngồi xuống cho thì các gia đinh rút hết tấm thảm lót, trước khi đít các tu sĩ đụng tới ghế, mấy vị ấy vô tình đồng ngồi xuống một lượt, những chân ghế trên sợi dây tuột ra lún xuống, nhóm ngoại đạo ngồi không vững té ngửa ra sau, lọt xuống mương phẩn. Thấy họ té xuống mương sình trộn phẩn, ông Sirigutta khiến gia đinh:
- Bây đóng cửa lại, hễ ông nào dưới mương bò lên thì hỏi: “Tại sao ông không tiên tri quá khứ, vị lai?” Và khệnh cho ông ta mấy hèo.
Sau khi cho các Nigantha một trận no đòn, chủ nhà mới bảo gia đinh mở cổng thả họ ra. Họ tranh nhau chạy thoát thân, không dè Sirigutta đã khiến gia đinh tráng một lớp phẩn bẩy lầy trên mặt đường đi làm cho đường trở nên trơn trợt. Thành ra bọn ngoại đạo còn té lên té xuống nhiều keo, chủ nhà còn nói đưa đẩy họ đi: “Thôi bấy nhiêu đó đã đủ cho các ông rồi nhé.”. Bị một vố quá đau, các Nigantha kéo nhau đến trước nhà Garahadinna, vừa đi vừa khóc:
- Ông ám hại chúng tôi, ông ám hại chúng tôi.
Nhìn thấy sự thảm hại nhục nhã của các thầy mình, ông Garahadinna nổi giận, nguyền rủa Sirigutta: “Ông nầy tới số rồi, cho nên mới dám đánh đập làm hại các vị Đại đức của ta, là những bậc Ứng Cúng, là những phước điền mà chư Thiên trên sáu cõi trời cùng hoan hỷ lễ bái cúng dường.”.
Kế đến, ông Garahadinna đệ sớ lên đức vua, xin Ngài phạt vạ ông Sirigutta một ngàn đồng vàng. Đức vua hạ chiếu cho vời Sirigutta đến, ông vào triều đảnh lễ Đức vua, xong tâu rằng: “Tâu bệ hạ, thần mong ân bệ hạ xét đoán công minh rồi hãy phạt, để tránh sự võ đoán bất công.”.
- Trẫm sẽ xét xử rồi mới kết án.
- Lành thay, tâu bệ hạ, xin bệ hạ xử án.
- Vậy thì sự việc thế nào, khanh hãy tâu ngay đi.
- Tâu bệ hạ! Bạn của tôi là đệ tử nhóm Nigantha, thường ngày đến nhà tôi, thừa dịp đứng hay ngồi chung dụ rằng, như nói: “Bạn ơi, bạn theo Sa môn Gotama làm chi, bạn nào có được lợi ích gì?”.
Và ông Sirigutta đem mọi sự việc đã qua trình tấu một hồi, đoạn nói tiếp:
- Tâu bệ hạ, nếu trong việc nầy, bệ hạ thấy kẻ hạ thần đáng tội, thì bệ hạ hãy xử phạt đúng theo luật nước.
Quốc vương nhìn ông Garahadinna và phán hỏi:
- Lời khai của bạn ông, khanh nghe có đúng sự thật không ?
- Tâu bệ hạ, đúng sự thật.
- Mấy ông ngu dốt, vô minh như thế mà khanh tôn xưng là sư phụ, đi tới đâu cũng ca ngợi các Ngài biết hết tất cả. Tại sao khanh lại còn mong dụ hoặc Thinh Văn của đấng Như Lai, khanh đã kêu nài đòi xử phạt thì khanh phải chịu hình phạt.
Thế là, ông Garahadinna bị thất kiện mất cả tiền ký quỹ một ngàn đồng. Chẳng khác nào bị đánh đòn, đuổi đi như các Đại đức của ông ta. (Ông Burlinhgame dịch là: Ông ấy bị vua hành phạt, còn các Đại đức của ông bị đánh đòn trục xuất.)
Căm tức vì thua bạn, từ ngày ấy cho đến nửa tháng sau, ông ta lánh mặt không chuyện vãn với ông Sirigutta, ông nói thầm: “Hành động như thế thì ta không hợp lý. Ta nên báo hại các thầy tổ của ông ấy mà trả đũa thì hơn.”.
Ông nhân buổi bãi triều, đến giả lả với Sirigutta và kêu: “Bạn Sirigutta ơi!”
- Dạ, có chuyện chi đó bạn?
- Thân bằng quyến thuộc cũng có khi cãi lẫy tranh chấp nhau. Sao gặp tôi bạn chẳng nói năng chi cả. Tại sao bạn lại đối xử với tôi như thế?
- Nầy bạn, tại vì bạn không chuyện trò cùng tôi, thì tôi mới không nói chuyện. Nhưng dầu giữa hai ta có điều chi xích mích, chúng ta không lẽ đoạn giao tình nghĩa bạn bè.
Từ đó về sau, hai người lân la, thân mật, cùng ngồi và đứng gần bên nhau.
Cho đến
Garahadinna:
một hôm, ông Sirigutta bảo ông
- Bạn theo nhóm Nigantha nào có được lợi ích gì? Sao bạn không Quy y với Đức Bổn Sư, hoặc là để bát cúng dường Đại đức Tăng có phải là quý hơn không?
Ông Garahadinna chỉ chờ mong có thế, nên khi nghe bạn mở lời, chẳng khác nào gãi nhằm chỗ ngứa của mình. Ông bèn hỏi Sirigutta: “Chẳng hay Lịnh Tôn Sư Ngài biết được cái gì?”.
- Nầy bạn ơi! Bạn đừng nên hỏi như thế, Đức Bổn Sư chẳng có cái gì mà Ngài chẳng biết. Ngài thông suốt cả quá khứ, hiện tại, vị lai, Ngài phân tích tâm của tất cả các chúng sanh ra làm mười sáu chập liên tiếp.
- Vậy mà tôi không được biết. Tại sao bấy lâu nay bạn không tỏ thật cho tôi hay. Thôi thì, bạn làm ơn đi thỉnh Đức Bổn Sư giùm tôi, ngày mai tôi sẽ để bát. Xin Đức Tôn Sư cùng với năm trăm vị Tỳ khưu đến nhà tôi thọ thực.
Ông Sirigutta đi đến chỗ ngụ của Đức Bổn Sư đảnh lễ Ngài rồi bạch rằng:
- Bạch Ngài, bạn con là ông Garahadinna nhờ con đến thỉnh Ngài và năm trăm vị Tỳ khưu, ngày mai đến thọ bát cơm của ông ta. Hôm trước con có trác các vị Đại đức của ông ta một vố nặng, hôm nay con không biết có phải ông ta định trả đũa hay là ông ta thật tâm trong sạch đặt bát chư Tăng. Xin Ngài hãy minh xét, nếu hợp lẽ đạo thì Ngài nhận, còn bằng không thì thôi.
Đức Bổn Sư quán xét: “Garahadinna định làm gì Như Lai đây?”, Ngài thấy rằng: “Ở chỗ sân trống giữa hai ngôi nhà, ông cho đào một hầm rộng lớn, cho đem độ tám mươi cỗ xe bò củi khô chất đầy hố, rồi châm lửa đốt. Định tâm rằng: “ Khi Như Lai rơi xuống hầm lửa thì ông sẽ chỉ trích.”. Rồi Đức Bổn Sư quán thêm nữa rằng: “Do nhân duyên như thế, Như Lai có cần ngự đến hay không?”, Ngài thấy rằng: “Như Lai sẽ bước chân lên hầm lửa, tấm đệm che giấu miệng hố sẽ biến mất, lộ ra hầm lửa, từ đó lộ ra đóa liên hoa lớn bằng bánh xe. Khi ấy, Như Lai bước lên cánh sen đi trên hầm lửa vào ngự lên Bảo tọa, các Tỳ khưu cũng theo lối ấy mà đến chỗ ngồi. Đại chúng sẽ tụ tập đông đảo, giữa hội trường Như Lai đọc kệ phúc chúc. Dứt bài kệ sẽ có tám mươi lẻ bốn ngàn chúng sanh sẽ giác ngộ Chánh Pháp. Cả Sirigutta và Garahadinna cũng đạt được Thánh quả đầu tiên, mỗi người sẽ xuất kho vàng của mình ra mà gieo vào giáo pháp. Như Lai nên đi đến tế độ ông Garahadinna vậy.”.
Quán xét xong rồi, Đức Bổn Sư nhận lời đi thọ bát. Khi biết Đức Bổn Sư đã nhận lời, Sirigutta trở về báo tin cho Garahadinna biết và dặn rằng: “Bạn hãy lo sắp đặt những lễ vật thượng phẩm đế cúng dường đấng Như Lai.”.
Garahadinna đáp: “Cảm ơn bạn, tôi bây giờ phải biết làm thế nào coi cho được chứ.”.
Chờ bạn ra về rồi, ông lập tức bảo gia nhân đào một cái hầm rộng lớn, đem tám mươi xe bò củi chất đầy hầm, châm lửa đốt, gắn ống thổi bể (bhasitā) thổi suốt đêm cho củi cháy thành than đỏ. Trên miệng hầm, ông lót ván mỏng, rồi phủ đệm lên che kín, lấy phân bò thoa trét coi như nền tráng. Ở một phía ông bảo làm một lối đi, trên mặt hầm, ông cho gác những đòn tay nhỏ yếu và cũng che đậy không cho thấy dấu. Ông tưởng tượng rằng: “Làm vậy, khi họ bước chân lên để đi qua, thế nào mấy cây đòn tay cũng gãy và họ cũng té lộn nhào xuống dưới hầm lửa.”.
Phía sau nhà ông, ông cũng sắp nhiều khạp không, làm theo cách của Sirigutta lúc trước, các chỗ ngồi ông cũng bảo sửa soạn như thế.
Sáng hôm sau, Sirigutta đến nhà bạn thật sớm, nói rằng:
- Bạn ơi! Lễ vật bạn lo đã xong chưa?
- Xong cả rồi bạn à.
- Bạn để đâu?
- Mời bạn vào đây coi với tôi.
Ông Garahadinna chỉ cho bạn coi các lễ vật mình đã sắp đặt theo cách của Sirigutta bữa trước. Sirigutta tán thành: “Lành thay!”. Lúc dấy, dân chúng tụ hội rất đông, người tà kiến mà phát tâm thỉnh Đức Bổn Sư thì bao giờ thiên hạ cũng tụ hội đông đảo như thế. Nhóm tà kiến rủ nhau đi cho đông, để xem: “Sa môn sẽ bị mất mặt.”
(vippakra), còn nhóm chánh kiến cũng rủ nhau đi cho đông, vì “Hôm nay Đức Bổn Sư sẽ thuyết một thời pháp lớn. Chúng ta sẽ được chứng kiến thần oai đại lực của Đức Phật.”.
Ngày ấy, Đức Bổn Sư cùng với năm trăm Tỳ khưu ngự đến trước cổng nhà ông Garahadinna. Ông nầy ra khỏi nhà, gieo năm vóc xuống đảnh lễ Ngài, đoạn đứng trước mặt Ngài chấp tay nguyện thầm rằng: “Bạch Ngài, nghe đồn rằng Ngài biết việc quá khứ, hiện tại, vị lai, phân tích được tâm chúng sanh ra làm mười sáu chập. Chính Thiện tín ruột của Ngài đã khoe với tôi như thế. Nếu quả thật Ngài tiên tri thì Ngài không vào nhà tôi. Vì Ngài vào nhà tôi chẳng có cơm cháo chi ráo… Tất cả các Ngài lọt xuống hầm lửa rồi thì tôi sẽ chỉ trích cho mà coi…”.
Nguyện thầm rồi, Garahadinna rước lấy bát của Đức Bổn Sư miệng nói: “Xin thỉnh Thế Tôn vào.”, nhưng ông ta tiếp theo liền: “Bạch Ngài, Ngài nên biết trước cách thức vào nhà tôi rồi hãy vào.”.
- Cách thức sao đạo hữu?
- Các Ngài đi vào từng vị một, vị trước vào chỗ ngồi, vị sau mới nên tiếp theo.
Trong thâm tâm ông Garahadinna tính như vậy: “Hễ cùng đi vào một lượt, người đi đầu lọt xuống hầm lửa, rồi thì mấy vị sau thấy sẽ không đi tới nữa. Đi riêng lẻ từng người, họ sẽ sa đọa hết và ta sẽ chê trách họ.”.
Đức Bổn Sư đáp: “Lành thay!”, đoạn Ngài cùng đi vào một lượt với Garahadinna. Đi đến chỗ hầm lửa, Garahadinna đứng tránh qua một bên, nói: “Xin thỉnh Ngài đi trước.”.
Đức Bổn Sư đưa chân lên ngay miệng hầm lửa, chiếc đệm phủ trên mặt biến mất, ván lót nứt ra, để lộ ra một hầm lửa đỏ, rồi từ bên dưới mọc ra những đóa hoa sen to như bánh xe, Đức Thế Tôn bước lên những cánh hoa sen đi qua hầm lửa, vào ngự lên Phật bảo tọa đã được soạn sẵn. Chư Tăng cũng theo lối ấy vào, ngồi lên các ghế ngồi.
Garahadinna tự nhiên nghe trong mình nóng nảy như bị lửa thiêu đốt, ông liền chạy tìm Sirigutta và kêu cứu:
- Ngài ơi! Ngài làm ơn cứu giùm tôi.
- Cái chi vậy?
- Năm trăm Tỳ khưu đã vào trong nhà mà cháo cơm gì chẳng có chi ráo. Tôi biết làm sao bây giờ?
- Chớ hôm qua đến nay bạn đã làm gì?
- Ở khoảng giữa hai ngôi nhà, tôi đã cho đào một cái hầm chứa đầy than đỏ, chờ mấy Ngài té xuống đó thì tôi sẽ chê trách. Cái hầm lửa giờ đây mọc lên toàn những cánh hoa sen. Tất cả Tỳ khưu đều bước lên những cánh hoa sen đi vào, ngồi trên những chỗ ngồi được soạn sẵn. Bây giờ, tôi làm gì đây?
- Ủa! Tôi nhớ ban sáng bạn đã chỉ cho tôi thấy, đây là những khạp cháo, kia là những khạp cơm… Đủ cả rồi mà.
- Thưa bạn, tôi nói dối đấy, mấy khạp ấy đều trống trơn cả.
- Không sao, bạn ra giở mấy khạp cháo, khạp cơm ấy ra coi lại đi.
Ngay lúc ấy, những khạp nào mà Garahadinna nói dối là khạp cháo thì đều đầy cháo, những khạp nào mà ông nói là cơm thì đầy cơm… Thấy oai lực đặc biệt hiển nhiên của Đấng Bổn Sư, Garahadinna phát sanh phỉ lạc khắp mình. Trong tâm hết sức trong sạch tin tưởng, ông cung kính sớt bát hộ độ chư Đại đức Tăng có Đức Phật là vị Tăng trưởng, khi các Ngài dùng xong bữa, ông ta thỉnh bát của Đức Bổn Sư để yêu cầu Ngài thuyết kinh phúc chúc.
Sau bài kinh hoan hỷ phước báu của thí chủ, Đức Bổn Sư dạy rằng: “Những chúng sanh nầy do không có pháp nhãn nên không nhận thức được ân đức của Phật Pháp và chư Tăng đệ tử của Ta. Người không có tuệ nhãn, Ta gọi là kẻ mù, người có trí tuệ, Ta gọi kẻ ấy là người sáng mắt.
Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết lên hai bài kệ:
58. “Yathā saṅkāradhānasmiṃ,
Ujjhitasmiṃ mahāpathe;
Padumaṃ tattha jāyetha,
Sucigandhaṃ manoramaṃ.”
“Như từ đống rác bùn nhơ,
Vứt lên đại lộ không ngờ mọc ra,
Đóa sen thanh khiết nõn nà,
Mùi hương thơm ngát, trẻ già cũng ham.”
59. “Evaṃ saṅkārabhūtesu,
Andhabhūte puthujjane;
Atirocati paññāya,
Sammāsambuddhasāvako.”
“Từ nơi nhân chứng tục phàm,
Tối tăm mê muội như giam dưới bùn
Thinh Văn của đấng Đại hùng,
Nêu cao đuốc tuệ, soi cùng thế gian.”
CHÚ GIẢI:
Trong bài kệ, Phạn ngữ saṅkāradhānasmiṃ: Nghĩa là trong đống rác dơ.
Ujjhitasmiṃ mahāpathe: Nghĩa là đồ bỏ trên đại lộ.
Sucigandhaṃ: tức là surabhigandhaṃ, nghĩa là hương thơm ngào ngạt.
Manoramaṃ: là có ý ưa thích nơi đó.
Saṅkārabhūtesu: nghĩa là những chúng sinh cặn
bả cũng như rác vậy.
Puthujjane: Là phàm phu ám chỉ cho những người còn bị phiền não chi phối là phần đông nhân loại trên thế gian.
Bài này Đức Phật dạy rằng: Cũng như đống rác dơ dáy vứt trên đại lộ, tuy là đáng kinh tởm, gớm ghê nhưng đóa hoa sen từ đó mọc lên, lại thơm tho, thanh khiết, dầu cho quan quyền, vua chúa cũng ưa thích, mến chuộng, ai cũng đẹp ý muốn cài, giắt nó lên đầu của mình. Cũng như thế, đám chúng sanh phàm phu xuất thân từ nơi bần tiện như nơi đống rác, trong đại chúng vô trí tuệ, mù quáng có những người nhờ tuệ lực của mình, thấy tội lỗi ngũ trần dục lạc và phước báu của hạnh xuất gia, bèn lìa nhà đi tu theo hạnh không nhà, cố gắng hành đạo theo Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến, trở nên bậc Tỳ khưu lậu tận. Thánh đệ tử của Đức Chánh Biến Tri vượt qua khỏi đám chúng sanh phàm phu ngu muội chói sáng rực rỡ.
Bài pháp chấm dứt thì tám muôn bốn ngàn chúng sanh giác ngộ chánh pháp, Garahadinna và Sirigutta đều chứng đắc Tu Đà Hườn quả. Hai người, về sau mang hết của cải của mình, xuất ra để phục vụ đạo pháp.
Đức Bổn Sư từ Phật bảo tọa đứng dậy, ngự về chùa. Lúc xế chiều, chư Tỳ khưu câu hội tại giảng đường, đề khởi pháp luận như vậy: “Ôi! Huyền diệu thay là oai lực của chư Phật. Sức nóng như hầm lửa đầy than nóng, lửa đỏ đến thế, phải nhường chỗ cho những cánh hoa sen mọc lên.”.
Đức Bổn Sư ngự đến phán hỏi: “Nầy các Tỳ khưu, hôm nay các ông câu hội thảo luận đề tài gì thế?”.
- Bạch Ngài, việc nầy đây…
Nghe đáp, Đức Bổn Sư dạy rằng: “Nầy chư Tỳ khưu! Việc hôm nay Ta khiến được hoa sen mọc lên từ trong hầm lửa đỏ, không có chi là huyền diệu vì Ta đã thành Phật. Trước kia còn là Bồ tát, Ta cũng đã từng khiến cho cánh sen mọc như thế rồi.”.
Chư Tỳ khưu yêu cầu:
- Bạch Ngài, việc ấy có từ bao giờ, xin Ngài chỉ dạy cho chúng con.
Theo lời cầu xin của chư Tăng, Đức Bổn Sư thuyết giảng Kinh Bổn Sanh “Hầm lửa đỏ” (Khadīraṅgārajātaka), rồi Ngài ngâm kệ:
“Kāmaṃ patāmi nirayaṃ,
Uddhaṃpādo avaṃsiro,
Nānariyaṃ karissāmi
Handa piṇḍaṃ paṭiggahā'ti.”
“Ta sa địa ngục ngũ trần,
Thất điên bát đảo, giở chân chẳng rồi,
Ta quyết không như kẻ tồi,
Lấy cái ống nhổ làm nồi đựng cơm.”
Trách Thí đề cao phái ngoại môn,
Thủ Danh vì bạn phá “mê hồn”,
Một mương phẩn, đợi người thiếu trí,
Vài miếng đòn, đưa kẻ đại ngôn.
Chẳng cọp sao ham kêu tiếng cọp,
Là chồn phải chịu ló đuôi chồn,
Từ đây thêm rạng đèn Chánh giác,
Đại chúng qui đầu Đức Thế Tôn.
DỨT TÍCH ÔNG GARAHADINNA
Garahadinnavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Yathā saṅkāraṭṭhānasminti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto garahadinnaṃ nāma nigaṇṭhasāvakaṃ ārabbha kathesi.
Sāvatthiyañhi sirigutto ca garahadinno cāti dve sahāyakā ahesuṃ. Tesu sirigutto upāsako buddhasāvako, garahadinno nigaṇṭhasāvako. Taṃ nigaṇṭhā abhikkhaṇaṃ evaṃ vadanti – “tava sahāyakaṃ siriguttaṃ ‘kiṃ tvaṃ samaṇaṃ gotamaṃ upasaṅkamasi, tassa santike kiṃ labhissasī’ti vatvā yathā amhe upasaṅkamitvā amhākañca deyyadhammaṃ dassati, kiṃ evaṃ ovadituṃ na vaṭṭatī”ti. Garahadinno tesaṃ vacanaṃ sutvā abhikkhaṇaṃ gantvā ṭhitanisinnaṭṭhānādīsu siriguttaṃ evaṃ ovadati – “samma, kiṃ te samaṇena gotamena, taṃ upasaṅkamitvā kiṃ labhissasi, kiṃ te mama, ayye, upasaṅkamitvā tesaṃ dānaṃ dātuṃ na vaṭṭatī”ti? Sirigutto tassa kathaṃ sutvāpi bahū divase tuṇhī hutvā nibbijjitvā ekadivasaṃ, “samma, tvaṃ abhikkhaṇaṃ āgantvā maṃ ṭhitaṭṭhānādīsu evaṃ vadesi, ‘samaṇaṃ gotamaṃ upasaṅkamitvā kiṃ labhissasi, mama, ayye, upasaṅkamitvā tesaṃ dānaṃ dehī’ti, kathehi tāva me, tava, ayyā, kiṃ jānantī”ti? “‘Aho, sāmi, mā evaṃ vada, mama ayyānaṃ aññātaṃ nāma natthi, sabbaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ sabbaṃ kāyavacīmanokammaṃ idaṃ bhavissati, idaṃ na bhavissatī’ti sabbaṃ bhabbābhabbaṃ jānantī”ti? “Evaṃ vadesī”ti. “Āma, vademī”ti. “Yadi evaṃ, atibhāriyaṃ te kataṃ, ettakaṃ kālaṃ mayhaṃ etamatthaṃ anācikkhantena, ajja mayā ayyānaṃ ñāṇānubhāvo ñāto, gaccha, samma, ayye, mama vacanena nimantehī”ti. So nigaṇṭhānaṃ santikaṃ gantvā te vanditvā “mayhaṃ sahāyako sirigutto svātanāya tumhe nimantetī”ti āha. “Siriguttena sāmaṃ tvaṃ vutto”ti? “Āma, ayyā”ti. Te haṭṭhatuṭṭhā hutvā “nipphannaṃ no kiccaṃ, siriguttassa amhesu pasannakālato paṭṭhāya kā nāma sampatti amhākaṃ na bhavissatī”ti vadiṃsu.
Siriguttassāpi mahantaṃ nivesanaṃ. So tasmiṃ dvinnaṃ gehānaṃ antare ubhato dīghaṃ āvāṭaṃ khaṇāpetvā gūthakalalassa pūrāpesi. Bahiāvāṭe dvīsu pariyantesu khāṇuke koṭṭāpetvā tesu rajjuyo bandhāpetvā āsanānaṃ purimapāde āvāṭassa purimapasse ṭhapāpetvā pacchimapāde rajjukesu ṭhapāpesi. “Evaṃ nisinnakāle evaṃ avaṃsirā patissantī”ti maññamāno yathā āvāṭo na paññāyati, evaṃ āsanānaṃ upari paccattharaṇāni dāpesi. Mahantā mahantā cāṭiyo ṭhapāpetvā kadalipaṇṇehi ca setapilotikāhi ca mukhāni bandhāpetvā tā tucchā eva gehassa pacchimabhāge bahi yāgubhattasitthasappitelamadhuphāṇitapūvacuṇṇamakkhitā katvā ṭhapāpesi. Garahadinno pātova tassa gharaṃ vegena gantvā, “ayyānaṃ sakkāro sajjito”ti pucchi. “Āma, samma, sajjito”ti. “Kahaṃ pana eso”ti. “Etāsu ettikāsu cāṭīsu yāgu, ettikāsu bhattaṃ, ettikāsu sappiphāṇitapūvādīni pūritāni, āsanāni paññattānī”ti. So “sādhū”ti vatvā gato tassa gatakāle pañcasatā nigaṇṭhā āgamiṃsu. Sirigutto gehā nikkhamitvā pañcapatiṭṭhitena nigaṇṭhe vanditvā tesaṃ purato añjaliṃ paggayha ṭhito evaṃ cintesi – “tumhe kira atītādibhedaṃ sabbaṃ jānātha, evaṃ tumhākaṃ upaṭṭhākena mayhaṃ kathitaṃ. Sace sabbaṃ tumhe jānātha, mayhaṃ gehaṃ mā pavisittha. Mama gehaṃ paviṭṭhānañhi vo neva yāgu atthi, na bhattādīni. Sace ajānitvā pavisissatha, gūthaāvāṭe vo pātetvā pothessāmī”ti evaṃ cintetvā purisānaṃ saññaṃ adāsi. Evaṃ tesaṃ nisīdanabhāvaṃ ñatvā pacchimapasse ṭhatvā āsanānaṃ upari paccattharaṇāni apaneyyātha, mā tāni asucinā makkhayiṃsūti.
Atha nigaṇṭhe “ito etha, bhante”ti āha. Nigaṇṭhā pavisitvā paññattāsanesu nisīdituṃ ārabhiṃsu. Atha ne manussā vadiṃsu – “āgametha, bhante, mā tāva nisīdathā”ti. “Kiṃ kāraṇā”ti? “Amhākaṃ gehaṃ paviṭṭhānaṃ ayyānaṃ vattaṃ ñatvā nisīdituṃ vaṭṭatī”ti. “Kiṃ kātuṃ vaṭṭati, āvuso”ti? “Attano attano pattāsanamūlesu ṭhatvā sabbepi ekappahāreneva nisīdituṃ vaṭṭatī”ti. Idaṃ kirassa adhippāyo – “ekasmiṃ āvāṭe patite ‘mā, āvuso, avasesā āsane nisīdantū’ti vattuṃ mā labhatū”ti. Te “sādhū”ti vatvā “imehi kathitakathaṃ amhehi kātuṃ vaṭṭatī”ti cintayiṃsu. Atha sabbe attano attano pattāsanamūle paṭipāṭiyā aṭṭhaṃsu. Atha ne, “bhante, khippaṃ ekappahāreneva nisīdathā”ti vatvā tesaṃ nisinnabhāvaṃ ñatvā āsanānaṃ upari paccattharaṇāni nīhariṃsu. Nigaṇṭhā ekappahāreneva nisinnā, rajjūnaṃ upari ṭhapitā āsanapādā bhaṭṭhā, nigaṇṭhā avaṃsirā āvāṭe patiṃsu. Sirigutto tesu patitesu dvāraṃ pidahitvā te uttiṇṇuttiṇṇe “atītānāgatapaccuppannaṃ kasmā na jānāthā”ti daṇḍehi pāthetvā “ettakaṃ etesaṃ vaṭṭissatī”ti dvāraṃ vivarāpesi. Te nikkhamitvā palāyituṃ ārabhiṃsu. Gamanamagge pana tesaṃ sudhāparikammakataṃ bhūmiṃ picchilaṃ kārāpesi. Te tattha asaṇṭhahitvā patite patite puna pothāpetvā “alaṃ ettakaṃ tumhāka”nti uyyojesi. Te “nāsitamhā tayā, nāsitamhā tayā”ti kandantā upaṭṭhākassa gehadvāraṃ agamaṃsu.
Garahadinno taṃ vippakāraṃ disvā kuddho “nāsitamhi siriguttena, hatthaṃ pasāretvā vandantānaṃ sadevake loke yathāruciyā dātuṃ samatthe nāma puññakkhettabhūte mama, ayye, pothāpetvā byasanaṃ pāpesī”ti rājakulaṃ gantvā tassa kahāpaṇasahassaṃ daṇḍaṃ kāresi. Athassa rājā sāsanaṃ pesesi. So gantvā rājānaṃ vanditvā, “deva, upaparikkhitvā daṇḍaṃ gaṇhatha, mā anupaparikkhitvā”ti āha. “Upaparikkhitvā gaṇhissāmī”ti. “Sādhu, devā”ti. “Tena hi gaṇhāhī”ti. Deva, mayhaṃ sahāyako nigaṇṭhasāvako maṃ upasaṅkamitvā ṭhitanisinnaṭṭhānādīsu abhiṇhaṃ evaṃ vadesi – “samma, kiṃ te samaṇena gotamena, taṃ upasaṅkamitvā kiṃ labhissasī”ti idaṃ ādiṃ katvā sirigutto sabbaṃ taṃ pavattiṃ ārocetvā “deva, sace imasmiṃ kāraṇe daṇḍaṃ gahetuṃ yuttaṃ, gaṇhathā”ti. Rājā garahadinnaṃ oloketvā “saccaṃ kira te evaṃ vutta”nti āha. “Saccaṃ, devā”ti. Tvaṃ ettakampi ajānante satthāroti gahetvā vicaranto “sabbaṃ jānantī”ti kiṃ kāraṇā tathāgatasāvakassa kathesi. “Tayā āropitadaṇḍo tuyhameva hotū”ti evaṃ sveva daṇḍaṃ pāpito, tasseva kulūpakā pothetvā nīhaṭā.
So taṃ kujjhitvā tato paṭṭhāya aḍḍhamāsamattampi siriguttena saddhiṃ akathetvā cintesi – “evaṃ vicarituṃ mayhaṃ ayuttaṃ, etassa kulūpakānampi mayā byasanaṃ kātuṃ vaṭṭatī”ti siriguttaṃ upasaṅkamitvā āha – “sahāya siriguttā”ti. “Kiṃ, sammā”ti? “Ñātisuhajjānaṃ nāma kalahopi hoti vivādopi, kiṃ tvaṃ kiñci na kathesi, kasmā evaṃ karosī”ti? “Samma, tava mayā saddhiṃ akathanato na kathemī”ti. “Yaṃ, samma, kataṃ, katameva taṃ na mayaṃ mettiṃ bhindissāmā”ti. Tato paṭṭhāya ubhopi ekaṭṭhāne tiṭṭhanti nisīdanti. Athekadivasaṃ sirigutto garahadinnaṃ āha – “kiṃ te nigaṇṭhehi, te upasaṅkamitvā kiṃ labhissasi, mama satthāraṃ upasaṅkamituṃ vā ayyānaṃ dānaṃ dātuṃ vā kiṃ te na vaṭṭatī”ti? Sopi etameva paccāsīsati, tenassa kaṇḍuvanaṭṭhāne nakhena vilekhitaṃ viya ahosi. So, “sirigutta, tava satthā kiṃ jānātī”ti pucchi. “Ambho, mā evaṃ vada, satthu me ajānitabbaṃ nāma natthi, atītādibhedaṃ sabbaṃ jānāti, soḷasahākārehi sattānaṃ cittaṃ paricchindatī”ti. “Ahaṃ evaṃ na jānāmi, kasmā mayhaṃ ettakaṃ kālaṃ na kathesi, tena hi tvaṃ gaccha, tava satthāraṃ svātanāya nimantehi, bhojessāmi, pañcahi bhikkhusatehi saddhiṃ mama bhikkhaṃ gaṇhituṃ vadehī”ti.
Sirigutto satthāraṃ upasaṅkamitvā vanditvā evamāha – “bhante, mama sahāyako garahadinno tumhe nimantāpeti, pañcahi kira bhikkhusatehi saddhiṃ sve tassa bhikkhaṃ gaṇhatha, purimadivase kho pana tassa kulūpakānaṃ mayā idaṃ nāma kataṃ, mayā katassa paṭikaraṇampi na jānāmi, tumhākaṃ suddhacittena bhikkhaṃ dātukāmatampi na jānāmi, āvajjetvā yuttaṃ ce, adhivāsetha. No ce, mā adhivāsayitthā”ti. Satthā “kiṃ nu kho so amhākaṃ kātu kāmo”ti āvajjetvā addasa “dvinnaṃ gehānaṃ antare mahantaṃ āvāṭaṃ khaṇāpetvā asītisakaṭamattāni khadiradārūni āharāpetvā pūrāpetvā aggiṃ datvā amhe aṅgāraāvāṭe pātetvā niggaṇhitukāmo”ti. Puna āvajjesi – “kiṃ nu kho tattha gatapaccayā attho atthi, natthī”ti. Tato idaṃ addasa – “ahaṃ aṅgāraāvāṭe pādaṃ pasāressāmi, taṃ paṭicchādetvā ṭhapitakilañjaṃ antaradhāyissati, aṅgārakāsuṃ bhinditvā cakkamattaṃ mahāpadumaṃ uṭṭhahissati, athāhaṃ padumakaṇṇikā akkamanto āsane nisīdissāmi, pañcasatā bhikkhūpi tatheva gantvā nisīdissanti, mahājano sannipatissati, ahaṃ tasmiṃ samāgame dvīhi gāthāhi anumodanaṃ karissāmi, anumodanapariyosāne caturāsītiyā pāṇasahassānaṃ dhammābhisamayo bhavissati, sirigutto ca garahadinno ca sotāpannā bhavissanti, attano ca dhanarāsiṃ sāsane vikirissanti, imaṃ kulaputtaṃ nissāya mayā gantuṃ vaṭṭatī”ti bhikkhaṃ adhivāsesi.
Sirigutto gantvā satthu adhivāsanaṃ garahadinnassa ārocetvā “lokajeṭṭhassa sakkāraṃ karohī”ti āha. Garahadinno “idānissa kattabbayuttakaṃ jānissāmī”ti dvinnaṃ gehānaṃ antare mahantaṃ āvāṭaṃ khaṇāpetvā asītisakaṭamattāni khadiradārūni āharāpetvā pūrāpetvā aggiṃ datvā khadiraṅgārarāsīnaṃ yojāpetvā sabbarattiṃ dhamāpetvā khadiraṅgārarāsiṃ kārāpetvā āvāṭamatthake rukkhapadarāni ṭhapāpetvā kilañjena paṭicchādetvā gomayena limpāpetvā ekena passena dubbaladaṇḍake attharitvā gamanamaggaṃ kāresi, “evaṃ akkantaakkantakāle daṇḍakesu bhaggesu parivaṭṭetvā aṅgārakāsuyaṃ patissantī”ti maññamāno gehapacchābhāge siriguttena ṭhapitaniyāmeneva cāṭiyo ṭhapāpesi, āsanānipi tatheva paññāpesi. Sirigutto pātova tassa gehaṃ gantvā “kato te, samma, sakkāro”ti āha. “Āma, sammā”ti. “Kahaṃ pana so”ti? “Ehi, passāmā”ti sabbaṃ siriguttena dassitanayeneva dassesi. Sirigutto “sādhu, sammā”ti āha. Mahājano sannipati. Micchādiṭṭhikena hi nimantite mahanto sannipāto ahosi. Micchādiṭṭhikāpi “samaṇassa gotamassa vippakāraṃ passissāmā”ti sannipatanti, sammādiṭṭhikāpi “ajja satthā mahādhammadesanaṃ desessati, buddhavisayaṃ buddhalīlaṃ upadhāressāmā”ti sannipatanti.
Punadivase satthā pañcahi bhikkhusatehi saddhiṃ garahadinnassa gehadvāraṃ agamāsi. So gehā nikkhamitvā pañcapatiṭṭhitena vanditvā purato añjaliṃ paggayha ṭhito cintesi – “bhante, ‘tumhe kira atītādibhedaṃ sabbaṃ jānātha, sattānaṃ soḷasahākārehi cittaṃ paricchindathā’ti evaṃ tumhākaṃ upaṭṭhākena mayhaṃ kathitaṃ. Sace jānātha, mayhaṃ gehaṃ mā pavisittha. Paviṭṭhānañhi vo neva yāgu atthi, na bhattādīni, sabbe kho pana tumhe aṅgārakāsuyaṃ pātetvā niggaṇhissāmī”ti. Evaṃ cintetvā satthu pattaṃ gahetvā “ito etha bhagavā”ti vatvā, “bhante, amhākaṃ gehaṃ āgatānaṃ vattaṃ ñatvā āgantuṃ vaṭṭatī”ti āha. “Kiṃ kātuṃ vaṭṭati, āvuso”ti? “Ekekassa pavisitvā purato gantvā nisinnakāle pacchā aññena āgantuṃ vaṭṭatī”ti. Evaṃ kirassa ahosi – “purato gacchantaṃ aṅgārakāsuyaṃ patitaṃ disvā avasesā na āgacchissanti, ekekameva pātetvā niggaṇhissāmī”ti. Satthā “sādhū”ti vatvā ekakova pāyāsi. Garahadinno aṅgārakāsuṃ patvā apasakkitvā ṭhito “purato yātha, bhante”ti āha. Atha satthā aṅgārakāsumatthake pādaṃ pasāresi, kilañjaṃ antaradhāyi, aṅgārakāsuṃ bhinditvā cakkamattāni padumāni uṭṭhahiṃsu. Satthā padumakaṇṇikā akkamanto gantvā paññatte buddhāsane nisīdi, bhikkhūpi tatheva gantvā nisīdiṃsu. Garahadinnassa kāyato ḍāho uṭṭhahi.
So vegena gantvā siriguttaṃ upasaṅkamitvā, “sāmi, me tāṇaṃ hohī”ti āha. “Kiṃ eta”nti? “Pañcannaṃ bhikkhusatānaṃ gehe yāgu vā bhattādīni vā natthi, kiṃ nu kho karomī”ti? “Kiṃ pana tayā kata”nti āha. Ahaṃ dvinnaṃ gehānaṃ antare mahantaṃ āvāṭaṃ aṅgārassa pūraṃ kāresiṃ – “tattha pātetvā niggaṇhissāmī”ti. “Atha naṃ bhinditvā mahāpadumāni uṭṭhahiṃsu. Sabbe padumakaṇṇikā akkamitvā gantvā paññattāsanesu nisinnā, idāni kiṃ karomi, sāmī”ti? Nanu tvaṃ idāneva mayhaṃ “‘ettikā cāṭiyo, ettikā yāgu, ettakāni sattādīnī’ti dassesī”ti. “Musā taṃ, sāmi, tucchāva cāṭiyo”ti. Hotu, “gaccha, tāsu cāṭīsu yāguādīni olokehī”ti. Taṃ khaṇaññeva tena yāsu cāṭīsu “yāgū”ti vuttaṃ, tā yāguyā pūrayiṃsu, yāsu “bhattādīnī”ti vuttaṃ, tā bhattādīnaṃ paripuṇṇāva ahesuṃ. Taṃ sampattiṃ disvāva garahadinnassa sarīraṃ pītipāmojjena paripūritaṃ, cittaṃ pasannaṃ. So sakkaccaṃ buddhappamukhaṃ bhikkhusaṅghaṃ parivisitvā katabhattakiccassa satthuno anumodanaṃ kāretukāmo pattaṃ gaṇhi. Satthā anumodanaṃ karonto “ime sattā paññācakkhuno abhāveneva mama sāvakānaṃ buddhasāsanassa guṇaṃ na jānanti. Paññācakkhuvirahitā hi andhā nāma, paññavanto sacakkhukā nāmā”ti vatvā imā gāthā abhāsi –
“Yathā saṅkāradhānasmiṃ, ujjhitasmiṃ mahāpathe;
Padumaṃ tattha jāyetha, sucigandhaṃ manoramaṃ.
“Evaṃ saṅkārabhūtesu, andhabhūte puthujjane;
Atirocati paññāya, sammāsambuddhasāvako”ti.
Tattha saṅkāradhānasminti saṅkāraṭhānasmiṃ, kacavararāsimhīti attho. Ujjhitasmiṃ mahāpatheti mahāmagge chaḍḍitasmiṃ. Sucigandhanti surabhigandhaṃ. Mano ettha ramatīti manoramaṃ. Saṅkārabhūtesūti saṅkāramiva bhūtesu. Puthujjaneti puthūnaṃ kilesānaṃ jananato evaṃladdhanāme lokiyamahājane. Idaṃ vuttaṃ hoti – yathā nāma mahāpathe chaḍḍite saṅkārarāsimhi asucijegucchiyapaṭikūlepi sucigandhaṃ padumaṃ jāyetha, taṃ rājarājamahāmattādīnaṃ manoramaṃ piyaṃ manāpaṃ uparimatthake patiṭṭhānārahameva bhaveyya, evameva saṅkārabhūtesupi puthujjanesu jāto nippaññassa mahājanassa acakkhukassa antare nibbattopi attano paññābalena kāmesu ādīnavaṃ, nekkhamme ca ānisaṃsaṃ disvā nikkhamitvā pabbajito pabbajjāmattenapi, kato uttariṃ sīlasamādhipaññāvimuttivimuttiñāṇadassanāni ārādhetvāpi atirocati. Sammāsambuddhasāvako hi khīṇāsavo bhikkhu andhabhūte puthujjane atikkamitvā rocati virocati sobhatīti.
Desanāvasāne caturāsītiyā pāṇasahassānaṃ dhammābhisamayo ahosi. Garahadinno ca sirigutto ca sotāpattiphalaṃ pāpuṇiṃsu. Te sabbaṃ attano dhanaṃ buddhasāsane vippakiriṃsu. Satthā uṭṭhāyāsanā vihāramagamāsi. Bhikkhū sāyanhasamaye dhammasabhāyaṃ kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ – “aho acchariyā buddhaguṇā nāma, tathārūpaṃ nāma khadiraṅgārarāsiṃ bhinditvā padumāni uṭṭhahiṃsū”ti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā, “imāya nāmā”ti vutte – “anacchariyaṃ, bhikkhave, yaṃ mama etarahi buddhabhūtassa aṅgārarāsimhā padumāni uṭṭhitāni, aparipakke ñāṇe vattamānassa bodhisattabhūtassapi me uṭṭhahiṃsū”ti vatvā, “kadā, bhante, ācikkhatha no”ti yācito atītaṃ āharitvā –
“Kāmaṃ patāmi nirayaṃ, uddhaṃpādo avaṃsiro;
Nānariyaṃ karissāmi, handa piṇḍaṃ paṭiggahā”ti. (jā. 1.1.40) –
Idaṃ khadiraṅgārajātakaṃ vitthāretvā kathesīti.
Garahadinnavatthu dvādasamaṃ.
Pupphavaggavaṇṇanā niṭṭhitā.
Catuttho vaggo.
IV. 12. Sirigutta And Garahadinna
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
58. As upon a heap of rubbish cast out on the highway,
The lotus will grow, sweetly fragrant, delighting the heart,
59. Even so, among them that are as rubbish, blind folk, unconverted,
The disciple of the Supremely Enlightened shines with exceeding glory because of wisdom.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Garahadinna.
For at Sāvatthi once lived two friends, Sirigutta and Garahadinna. The former was a lay disciple of the Buddha, the latter an adherent of the Naked Ascetics, the Niganthas. The Naked Ascetics used to say repeatedly to Garahadinna, “Go to your friend Sirigutta and say, ‘Why do you visit the monk Gotama? What do you expect to get from him?’ Why not admonish him thus, that he may visit us and give us alms?” Garahadinna listened to what they said, went repeatedly to Sirigutta, and wherever he found him, standing or sitting, spoke thus to him, “Friend, of what use to you is the monk Gotama? What do you expect to get by visiting him? Should you not visit my own noble teachers instead and give alms to them?”
Sirigutta listened to his friend’s talk and despite it kept silence for several days. One day, however, he lost his patience and said to Garahadinna, “Friend, you constantly come to me, and wherever you find me, standing or sitting, speak thus to me, ‘What do you expect to gain by visiting the monk Gotama? Visit my noble teachers instead and give alms to them.’ Now just answer me this question, ‘What do your noble teachers know?’ ” “Oh, sir, do not speak thus! There is nothing my noble teachers do not know. They know all about the past, the present, and the future. They know everybody’s thoughts, words, and actions. They know everything that can happen and everything that cannot happen.” “You don’t say so.” “Indeed I do.” “If this be true, you have committed a grievous fault in allowing me to remain ignorant of it all this time. Not until to-day did I learn of the supernatural power of knowledge possessed by your noble teachers. Go, sir, and invite your noble teachers in my name.”
Garahadinna went to the Naked Ascetics, paid obeisance to them, and said, “My friend Sirigutta invites you for to-morrow.” “Did Sirigutta speak to you of himself?” “Yes, noble sirs.” They were pleased and delighted. Said they, “Our work is done. What gain will not accrue to us from the moment Sirigutta reposes faith in us?”
Now Sirigutta’s place of residence was a large one, and in one place there was a long empty space between two houses. Here, therefore, he caused a long ditch to be dug, and this ditch he caused to be filled with dung and slime. Beyond the ditch, at both ends, he caused posts to be driven into the ground, and to these posts he caused ropes to be attached. He caused the seats to be so placed, with the front legs resting on the ground and the back legs resting on the ropes, that the instant the heretics sat down they would be tipped over backwards and flung head first into the ditch. In order that no sign of a ditch might be visible, he had coverlets spread over the seats. He caused several large earthenware vessels to be washed clean, and their mouths to be covered with plaintain-leaves and pieces of cloth. And these vessels, empty though they were, he caused to be placed behind the house, smeared on the outside with rice-porridge, lumps of boiled rice, ghee, jaggery, and cake-crumbs.
Early in the morning Garahadinna went quickly to the house of Sirigutta and asked him, “Has food been prepared for my noble teachers?” “Yes, friend, food has been prepared.” “But where is it?” “In all these earthenware vessels is rice-porridge, in all these is boiled rice, in all these are ghee, jaggery, cakes, and other kinds of food. Likewise have seats been prepared.” “Very well,” said Garahadinna, and went his way.
As soon as Garahadinna had departed, five hundred Naked Ascetics arrived. Sirigutta came forth from the house, paid obeisance to the Naked Ascetics with the Five Rests, and taking his stand before them and raising his clasped hands in an attitude of reverent salutation, thought to himself, “So you know all about the past, the present, and the future! So at least your supporter tells me. If you really do know all this, do not enter my house. For even if you enter my house, there is no rice-porridge prepared for you, nor boiled rice, nor any other kind of food. If you do not know all this and still enter my house, I will cause you to be flung into a ditch filled with dung, and will then cause you to be beaten with sticks.” Having thus reflected, he gave the following order to his men, “When you observe that they are about to sit down, take your places in the rear and pull the coverlets which are spread over the seats out from under, lest the coverlets be smeared with filth.”
Then said Sirigutta to the Naked Ascetics, “Come hither, Reverend Sirs.” The Naked Ascetics entered. They were about to sit down on the seats which had been prepared, when Sirigutta’s men called out to them, “Wait, Reverend Sirs. Do not sit down yet.” “For what reason?” “When your reverences enter our house, you must observe a certain etiquette in taking your seats.” “What must we do, brother?” “Each one of you must take his stand at the foot of the seat which has been prepared for him, and then you must all sit down at once.” We are told that Sirigutta had this done in order that no one of the Naked Ascetics should fall into the ditch by himself, and thus be able to warn the rest of his brethren not to sit down on the seats.
“Very well,” said the Naked Ascetics. For they thought, “We ought to do whatever these men tell us to do.” So all of them took their places in order, each at the foot of the seat which had been prepared for him. Then Sirigutta’s men said to them, “Reverend Sirs, sit down quickly, all at once.” When Sirigutta’s men observed that they were about to sit down, they pulled the coverlets which were spread over the seats out from under. The Naked Ascetics sat down all at once. Thereupon the legs of the seats which rested on the ropes gave way, and the Naked Ascetics were immediately tipped over backwards and flung head first into the ditch. When the Naked Ascetics fell into the ditch, Sirigutta closed the door. As fast as they crawled out of the slime, he caused them to be beaten with sticks, calling out to them, “So you know all about the past, the present, and the future!” Finally he said, “This will suffice to teach them a lesson,” and caused the door to be opened. They escaped through the door and began to run away. But Sirigutta had previously made slippery the ground along the road they would have to take, by covering it with whitewash. The result was that they lost their foothold and fell again and again. Here again he caused them to be beaten with sticks. Finally he said, “This will suffice for you,” and let them go. “You have ruined us!” they wailed; “you have ruined us!” So saying, they went to the door of their supporter’s house.
When Garahadinna saw the sorry plight of the Naked Ascetics, he became very angry and said, “Sirigutta has ruined me. Even as they stretched out their hands and paid obeisance to him, he has beaten with sticks and brought humiliation upon my noble teachers, my Field of Merit, who are able to bestow the Six Worlds of the Gods at their own good pleasure.” Forthwith he went to the royal palace and caused a fine of a thousand pieces of money to be inflicted upon Sirigutta. The king sent Sirigutta a summons. Sirigutta immediately went to the king, paid obeisance to him, and said, “Your majesty, will you wait until you have first investigated the matter, before inflicting punishment, or is it your intention to inflict punishment without an investigation?” “I intend to investigate the matter before I inflict punishment.” “Very well, your majesty. First investigate the matter, and then do as you think proper.”
Sirigutta then told the king the whole story from the beginning, saying, “Your majesty, my friend is an adherent of the Naked Ascetics. He used to come to me repeatedly, and wherever he found me, standing or sitting, used to say to me, ‘Friend, of what use to you is the monk Gotama? What do you expect to gain by visiting him?’ ” Sirigutta told the whole story, and having so done, said to the king, “Your majesty, if you think it right to inflict punishment in this case, do so.” Looking at Garahadinna, the king said, “Is what you have just told me the truth?” “It is the truth, your majesty.” Then said the king to Garahadinna, “Why did you take to yourself teachers who knew so little, and go about and say of your teachers to the disciple of the Tathāgata, ‘They know everything’? You have brought punishment on your own head, and on your own head only shall it descend.” So saying, the king ordered punishment to be inflicted upon Garahadinna. Likewise he caused the Naked Ascetics who resorted to his house to be beaten with sticks and expelled.
Garahadinna was very angry about this and for a fortnight afterwards refused to speak to Sirigutta. Finally he thought to himself, “It isn’t worth while for me to go about acting thus. What I should do is to bring humiliation upon the monks who resort to Sirigutta’s house.” Accordingly he went to Sirigutta and said to him, “Friend Sirigutta!” “What is it, friend?” “There is quarrel, there is strife, between those that are called kinsmen and friends. You do not speak. Why do you act in this way?” “Friend, I do not speak to you because you do not speak to me. But, friend, whatever is done is done, and I will not on that account break off our friendship.” From that time on both stood in one place and sat in one place.
Now one day Sirigutta said to Garahadinna, “Of what use to you are the Naked Ascetics? What do you expect to gain by visiting them? Should you not approach my Teacher instead and give alms to my own noble monks?” That was the very thing Garahadinna longed to do. It was as though Sirigutta had scratched him on a spot that itched. Garahadinna asked Sirigutta, “What does your Teacher know?” “Oh, sir, do not speak thus! There is nothing beyond the range of my Teacher’s knowledge. He knows all about the past, the present, and the future. In sixteen different ways he comprehends the thoughts of all living beings.” “If this be true, I know not why you have not told me about it all this time. Very well. Go to your Teacher and invite him for to-morrow. I should like to entertain him. Beg him, with his five hundred monks, to accept my hospitality.”
Sirigutta approached the Teacher, paid obeisance to him, and said, “Reverend Sir, my friend Garahadinna asks me to invite you to his house. He asks me to beg you, with your five hundred monks, to accept his hospitality for to-morrow. Several days ago, however, I did such and such to the Naked Ascetics who resort to his house. I am not sure that he intends to seek revenge for what I did. But I am by no means certain that it is with a pure motive that he desires to give you alms. Consider the matter well. If you think proper, accept; if not, decline.” The Teacher considered within himself, “What does he intend to do to us?” Immediately he became aware of the following, “He will cause a great pit to be dug between two houses and will cause eighty cartloads of acacia-wood to be brought and dumped into the pit, completely filling it. Then he will set the wood on fire and seek to humiliate us by causing us to be thrown into this charcoal-pit.”
Again considering within himself, “Have I sufficient reason for going there or have I not?” the Teacher saw the following, “I will extend my foot and place it upon the charcoal-pit. Thereupon the matting, so placed as to cover the pit, will disappear, and a gigantic lotus as big as a wheel will spring up, rending the charcoal-pit asunder. Then I will set foot upon the pericarp of the lotus and will sit down in a seat, and my five hundred monks will likewise mount the lotus and sit down. A great multitude will assemble, and in this assemblage I will pronounce a discourse of thanksgiving consisting of two Stanzas. At the conclusion of the Stanzas eighty thousand living beings will obtain Comprehension of the Law, Sirigutta and Garahadinna will attain the Fruit of Conversion and will spend their great wealth in my Religion. For the sake of this goodly youth it is my duty to go there.” Accordingly the Teacher accepted the invitation.
Sirigutta went and informed Garahadinna that the Teacher had accepted his invitation. Said he, “Prepare hospitality for the Prince of the World.” Garahadinna thought to himself, “Now I shall know what ought to be done to him.” So he caused a great pit to be dug between two houses and caused eighty cartloads of acacia-wood to be brought and dumped into the pit, completely filling it. Then he set the wood on fire, and putting bellows in position, caused them to be blown all night long, until the pile of acacia-wood was a mass of blazing charcoal. Across the top of the pit he caused unhewn logs to be laid and caused them to be covered with matting and smeared with cow-dung. On one side he caused a gangway to be built of the flimsiest kind of sticks. Thought he, “The moment they set foot on this framework the sticks will break, and they will topple over and fall into the charcoal-pit.” Behind the house he caused earthenware vessels to be placed, precisely as Sirigutta had done, and there also caused seats to be prepared.
Early in the morning Sirigutta went to Garahadinna’s house and said to him, “Friend, have you provided food?” “Yes, friend, I have.” “But where is it?” “Come and see,” said Garahadinna. And he took him and showed him the earthenware vessels, precisely as Sirigutta had done. “Very well, sir,” said Sirigutta. A great multitude assembled. When heretics invite the Buddha, a great multitude always assembles. The heretics assemble, saying to themselves, “We shall witness the discomfiture of the monk Gotama.” The orthodox assemble, saying to themselves, “To-day the Teacher will preach the Law with might, and we shall see for ourselves the power of a Buddha and the grace of a Buddha.”
On the following day the Teacher, accompanied by five hundred monks, went to the house of Garahadinna and stood before the door. Garahadinna came forth from the house, paid obeisance to the monks with the Five Rests, and taking his stand before them and raising his clasped hands in an attitude of reverent salutation, thought to himself, “So, Reverend Sir, you know all about the past, the present, and the future! In sixteen different ways you comprehend the thoughts of all living beings! So at least your supporter tells me. If you really do know all this, do not enter my house. For even if you enter my house, you will find no rice-porridge or boiled rice or any other kind of food. Instead I will cause you to be flung into a charcoal-pit and will bring humiliation upon you.”
Having thus reflected, he took the Teacher’s bowl and said to him, “Come hither, Exalted One.” Then he said to the Teacher, “Reverend Sir, when you come to our house, you must observe a certain etiquette in coming.” “What must we do, brother?” “You must enter the house all by yourself, preceding the rest. After you have sat down, the rest may come in.” This, we are told, was the thought that occurred to him, “If the rest see him go in first and fall into the charcoal-pit, they will not venture near it. I will cause him alone to fall therein, and thereby confound him.” “Very well,” said the Teacher, and advanced to the pit all by himself. Garahadinna went as far as the charcoal-pit, then stepped back, and standing at a distance, said, “Go forward, Reverend Sir.”
The Teacher extended his foot and placed it over the charcoal-pit. Thereupon the matting disappeared, and lotus flowers as big as wheels sprang up, rending the charcoal-pit asunder. The Teacher set foot on the pericarp of the lotus, and going forward, sat down on the Seat of the Buddha, miraculously prepared. The monks likewise went thereon and sat down. Fire, as it were, arose in the belly of Garahadinna. He approached the Teacher and said to him, “Reverend Sir, be unto me a refuge.” “What does this mean?” “There is no rice-porridge or boiled rice or any other kind of food in the house for the five hundred monks. What am I to do?” “But what have you done?” “Between two houses I caused a great pit to be dug, and this pit I caused to be filled with charcoal, thinking to myself, ‘I will cause the Teacher to fall therein and thus confound him.’ But instead of this, great lotus flowers have sprung up, rending the charcoal-pit asunder. And all the monks have set foot on the pericarp of the lotus and have gone forward and sat down on seats miraculously prepared. What am I to do?”
“Did you not just now point out to me certain earthenware vessels and say, ‘All these vessels are filled with rice-porridge; all these are filled with boiled rice,’ and so forth?” “What I said was false, master. The vessels are empty.” “Never mind. Go look at the rice-porridge and other kinds of food in those vessels.” At that instant the vessels over which he spoke the word “rice-porridge” were filled with rice-porridge, the vessels over which he spoke the words “boiled rice” were filled with boiled rice, and so it happened likewise with the other vessels.
When Garahadinna beheld this miracle, his body was suffused with joy and happiness and his heart believed. With profound reverence he waited on the Congregation of Monks presided over by the Buddha. The meal over, Garahadinna, indicating that he wished the Buddha to pronounce the words of thanksgiving, took his bowl. Said the Teacher in pronouncing the words of thanksgiving, “These beings, because they are without the Eye of Knowledge, know neither my merits, nor the merits of my disciples, nor the merits of the Religion of the Buddha. Inasmuch as they are without the Eye of Knowledge, they are blind. Only the wise have eyes.”
So saying, he pronounced the following Stanzas,
58. As upon a heap of rubbish cast out on the highway,
The lotus will grow, sweetly fragrant, delighting the heart,
59. Even so, among them that are as rubbish, blind folk, unconverted,
The disciple of the Supremely Enlightened shines with exceeding glory because of wisdom.
At the conclusion of the religious instruction eighty thousand living beings obtained Comprehension of the Law. Both Garahadinna and Sirigutta attained the Fruit of Conversion and thereafter dispensed all of their wealth in alms in the Religion of the Buddha.
The Teacher rose from his seat and went to the monastery. In the evening the monks began a discussion in the Hall of Truth, “Oh, how wonderful are the virtues of the Buddhas! To think that lotus flowers should spring up and rend asunder a blazing mass of acacia-coals!” The Teacher came in and asked them, “Monks, what is it you are sitting here now talking about?” When they told him, he said, “Monks, it is not at all wonderful that just now, when I, who am now a Buddha, was present, lotus flowers sprang up from a bed of coals. When my knowledge was not yet ripe and I was merely a Future Buddha, they sprang up also.” “At what time was that, Reverend Sir? Pray tell us the story.” In response to their requests, the Teacher related a Story of the Past.
I would gladly fall into Hell, heels up, head down.
I will do naught that is not honorable. Here, take alms!
And the Teacher related in detail the Khadiraṅgāra Jātaka.
- This story is referred to at Thera-Gāthā Commentary, ccxxx, and at Milinda-pañha 35010. Text: N i. 434-447.
- Jātaka 40: i. 226-234. Ed. note: Māra, seeking to stop the Bodhisatta giving alms to a Pacceka Buddha, has a pit built, like the one in the story above. But the Bodhisatta traversed it, with a lotus springing up under his feet at each step, and gave his dāna anyway.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.