Chú giải Pháp Cú · Kệ 57 · Dhp 57

Tích Đại Đức Cồ Điệt Viên Tịch

Godhikattheraparinibbānavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 57 Kinh Pháp Cú, phẩm Hoa, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 57)

“Tesaṃ sampannasīlānaṃ,
Appamādavihārinaṃ;
Sammadaññā vimuttānaṃ,
Māro maggaṃ na vindati.”

“Những người đủ Giới đức,
Vững tâm không phóng dật,
Chánh trí thoát lao lung,
Ma chẳng thấy hành tung.”

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài an ngự trong Veḷuvana (Trúc Lâm), gần thành Rājagaha (Vương Xá), đề cập đến sự viên tịch của Đại đức Godhika (Cồ Điệt).

Thời ấy, Đại đức Godhika an cư nơi làng Kālasilā (Hắc Nham) trên sườn núi Isigili (Ẩn Sĩ), nhờ chuyên cần tinh tấn hành đạo một mình, nên chứng đạt trên tâm giải thoát tạm thời (Sāmāyikaṃ cetovimuttiṃ). Nhưng bị một chứng bịnh kinh niên làm cho sa sút, mất pháp đã chứng.

Đại đức hành thiền lần thứ nhì, lần ba cho đến lần thứ sáu cũng không chứng đắc pháp thiền đã mất, đến lần thứ bảy, Đại đức bỗng phát khởi ý nghĩ: “Ta đã sáu lần rớt ra khỏi đề mục thiền. Hành giả mà rớt ra khỏi thiền thì cảnh giới tái sanh kể như bất định. Vậy bây giờ ta phải dùng đến lưỡi dao mới được.”.

Thế rồi, Đại đức lấy con dao cạo tóc lên, nằm trên giường định cắt đứt cuống họng.

Ma vương biết được tâm niệm của Đại đức, thì nghĩ rằng: “Tỳ khưu nầy có ý muốn lấy dao, lấy dao rồi lại muốn tận diệt mạng sống của mình. Ông ấy mà an tâm vào Minh sát tuệ thì chắc là phải đắc A La Hán quả. Nếu ta đứng ra cản ông ấy thì chắc ông ấy chẳng chịu nghe lời ta, chi bằng ta cậy mượn Đức Bổn Sư cản ngăn ông ấy.”.

Ma vương liền hóa thân thành một khách lạ, đến gần Đức Bổn Sư, đọc lên kệ ngôn như vầy:

“Mahāvīra mahāpaññā,
Iddhiyā yasasā jala;
Sabbaverabhayātīta,
Pāde vandāmi cakkhuma.
Sāvako te mahāvīra,
Maraṇaṃ maraṇābhibhū;
Ākaṅkhati cetayati,
Taṃ nisedha jutindhara.
Kathaṃ hi bhagavā tuyhaṃ,
Sāvako sāsane rato;
Appattamānaso sekho,
Kālaṃ kayirā janesutāti.
Tasmiṃ khaṇe therena,
Satthaṃ āharitaṃ hoti.”
Lược dịch:
“Kính bạch Đức Đại Hùng Đại Trí,
Bậc uy danh lừng lẫy khắp nơi,
Bậc đã qua oán cụ biển đời,
Bậc Hữu Nhãn, tôi thời đảnh lễ.
Bậc Đại Hùng, trong hàng môn đệ,
Của Ngài từng áp chế tử thần,
Có Thinh Văn muốn lìa trần,

Bạch Ngài tráng hệ, Ngài cần cản ngăn.
Trong đạo Ngài, Thinh Văn vui vẻ,
Bạch Thế Tôn, sao kẻ chán đời,
Không lo tu tập đến nơi,
Lại toan tự vận, Ngài thời biết cho.
Giây phút nầy tôi lo Đại đức,
Đã lấy dao để dứt mạng căn.”

Đức Bổn Sư biết rõ: “Người nầy là Ma vương”, nên Ngài đáp lời bằng bài kệ rằng:

“Evaṃ hi dhīrā kubbanti,
Nāvakaṅkhanti jīvitaṃ;
Samūlaṃ taṇhaṃ abbuyha,
Godhiko parinibbutoti.”
“Quả thật kẻ hiền năng làm thế,
Chẳng duy trì mạng sống để thừa,
Ái dục nhổ gốc chẳng chừa,
Cồ Điệt đã nhập Vô Dư Níp Bàn.”

Kế đó, Đức Thế Tôn cùng với nhiều Tỳ khưu ngự đến bên giường, chỗ Đại đức Godhika nằm với lưỡi dao cắt cổ.

Trong khi ấy, ác ma muốn biết: “Thức tái sanh của Đại đức nầy trú nơi đâu?” Nên liền hóa ra một luồng khói đen tỏa đi các hướng để tìm tâm thức của Đại đức.

Đức Thế Tôn chỉ làn khói đen cho chư Tỳ khưu thấy và bảo rằng:

- Nầy các Tỳ khưu, đó là ác ma đi tìm kiếm tâm thức của Godhika, nó tự hỏi: “Tâm thức của Ngài Godhika đang trú nơi đâu?”. Nầy các Tỳ khưu! Tỳ khưu Godhika đã Vô Dư Níp Bàn rồi, cho nên tâm thức không còn trú nơi đâu nữa vậy.

Dầu là Ma vương, y cũng không thể tìm thấy tâm thức của Ngài Godhika. Hắn liền hiện hình là một thanh niên, tay ôm cây đàn Tỳ bà vàng lợt, đến gần Đức Bổn Sư hỏi rằng:

“Uddhaṃ adho ca tiriyaṃ,
Disā anudisā svahaṃ;
Anvesaṃ nādhigacchāmi,
Godhiko so kuhiṃ gatoti.”
Lược dịch:
“Đường lên xuống bằng ngang hay dọc,
Khắp hướng phương, xó hóc gần xa,
Tôi tìm không gặp ông ta,
Chẳng hay Cồ Điệt đi qua cõi nào?”
Đức Bổn Sư đọc kệ đáp rằng:
“Yo dhīro dhitisampanno,
Jhāyī jhānarato sadā;
Ahorattaṃ anuyuñjaṃ,
Jīvitaṃ anikāmayaṃ.
Jetvāna maccuno senaṃ,
Anāgantvā punabbhavaṃ;
Samūlaṃ taṇhaṃ abbhuyha,
Godhiko parinibbutoti.”
Lược dịch:
“Người trí tuệ, hùng hào cương nghị,
Hằng vui thiền, mến vị vui thiền,

Đêm ngày mải miết cần chuyên,
Không tham mạng sống cần chuyên dài dòng
Thắng phục được binh ròng thần chết,
Đường tái sanh đã hết bước đi,
Ái dục bứng gốc còn chi,
Cồ Điệt đã nhập Vô Dư Níp Bàn.
Nghe vậy, Ác Ma đứng thở than tiếc rẻ,
Không vũng lầy, khỏi té xuống sâu,
Từ đây bất hạnh khổ sầu,
Dạ xoa vội biến đi đâu mất liền.”

Tuy nhiên, Đức Bổn Sư cũng còn nói tiếp rằng:

- Nầy ác ma, ngươi đừng luống công đi tìm chỗ tái sanh của Godhika làm chi vô ích. Quả thật, dầu có một trăm hay một ngàn kẻ như ngươi đi tìm kiếm nữa cũng chẳng thấy được.

Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết kệ Pháp Cú:
57. “Tesaṃ sampannasīlānaṃ,
Appamādavihārinaṃ;
Sammadaññā vimuttānaṃ,
Māro maggaṃ na vindati.”
57. “Những người Giới đức đủ điều,
Vững tâm những ngã theo chiều buông lung,
Chánh trí giải thoát tột cùng,
Ma vương có thấu hành tung bao giờ.”

CHÚ GIẢI:

Tiếng tesaṃ trên đây chỉ những người đã Vô Dư Níp Bàn, tâm thức chẳng còn trú vào chỗ nào nữa cả, y như Đại đức Godhika vậy.

Sampannasīlānaṃ: Nghĩa là đầy đủ Giới đức.
Appamādavihārinaṃ: Nghĩa là những người có tâm

an vui, trú trong sự chuyên cần, không phóng dật, tức là những người có pháp ghi nhớ (gọi là Chánh niệm) đến sự lợi ích to lớn là Níp Bàn.

Sammadaññā vimuttānaṃ: Chánh trí giải thoát, là có trí hiểu biết về nhân (hetu), pháp (naya), lý (kāraṇa) của sự giải thoát. Những người giải thoát lại được dứt trừ phiền não theo năm pháp:

1. Tadaṅgavimutti: Giải thoát tạm thời, do quán xét.

2. Vikkhambhanavimutti: Giải thoát năm pháp che

lấp (pháp cái) của thiền định, gọi là áp chế giải

thoát.

3. Samucchedavimutti: Giải thoát do đạo tuệ, gọi là

đoạn trừ giải thoát.

4. Paṭippassaddhivimutti: Giải thoát do đắc quả.

5. Nissaraṇavimutti: Giải thoát do Vô Dư Níp Bàn.

Māro maggaṃ na vindati: Đối với những bậc đại Lậu Tận như thế, thì tất cả các chỗ của các Ngài đi trên con đường đạo, Ma vương chẳng biết chẳng thấy, chẳng đến được giai đoạn nào cả.

Thời pháp vừa dứt, nhiều vị Tỳ khưu chứng đắc Thánh quả, nhất là Sơ quả. Đại chúng thính pháp cũng đều được hưởng nhiều lợi ích.

Tâm chứng từng cao, kế sụt liền,
Bởi Ngài Cồ Điệt bịnh kinh niên,
Sáu phen sức đẩy không vào định,
Một nhát dao đưa mới đắc thiền.
Quyết chí thân tàn thành quả Thánh,
Nguyện đi nước lớn rạng danh hiền,
Ma vương ngũ uẩn, Ma phiền não,
Hết biết đường theo phải lặng yên.

DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC GODHIKA VIÊN TỊCH

Godhikattheraparinibbānavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Tesaṃ sampannasīlānanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā rājagahaṃ upanissāya veḷuvane viharanto godhikattherassa parinibbānaṃ ārabbha kathesi.

So hi āyasmā isigilipasse kāḷasilāyaṃ viharanto appamatto ātāpī pahitatto sāmāyikaṃ cetovimuttiṃ phusitvā ekassa anussāyikassa rogassa vasena tato parihāyi. So dutiyampi tatiyampi chakkhattuṃ jhānaṃ nibbattetvā parihīno, sattame vāre uppādetvā cintesi – “ahaṃ chakkhattuṃ jhānā parihīno, parihīnajjhānassa kho pana aniyatā gati, idāneva satthaṃ āharissāmī”ti kesoropanasatthakaṃ gahetvā galanāḷiṃ chindituṃ pañcake nipajji. Māro tassa cittaṃ ñatvā “ayaṃ bhikkhu satthaṃ āharitukāmo, satthaṃ āharantā kho pana jīvite nirapekkhā honti, te vipassanaṃ paṭṭhapetvā arahattampi pāpuṇanti, sacāhaṃ etaṃ vāressāmi, na me vacanaṃ karissati, satthāraṃ vārāpessāmī”ti aññātakavesena satthāraṃ upasaṅkamitvā evamāha –

“Mahāvīra mahāpañña, iddhiyā yasasā jalaṃ;
Sabbaverabhayātīta, pāde vandāmi cakkhuma.

“Sāvako te mahāvīra, maraṇaṃ maraṇābhibhū;
Ākaṅkhati cetayati, taṃ nisedha jutindhara.

“Kathañhi bhagavā tuyhaṃ, sāvako sāsane rato;
Appattamānaso sekkho, kālaṃ kayirā jane sutā”ti. (saṃ. ni. 1.159);

Tasmiṃ khaṇe therena satthaṃ āharitaṃ hoti. Satthā “māro aya”nti viditvā imaṃ gāthamāha –

“Evañhi dhīrā kubbanti, nāvakaṅkhanti jīvitaṃ;
Samūlaṃ taṇhamabbuyha, godhiko parinibbuto”ti. (saṃ. ni. 1.159);

Atha kho bhagavā sambahulehi bhikkhūhi saddhiṃ therassa satthaṃ āharitvā nipannaṭṭhānaṃ agamāsi. Tasmiṃ khaṇe māro pāpimā “kattha nu kho imassa paṭisandhiviññāṇaṃ patiṭṭhita”nti dhūmarāsi viya timirapuñjo viya ca hutvā sabbadisāsu therassa viññāṇaṃ samanvesati. Bhagavā taṃ dhūmatimirabhāvaṃ bhikkhūnaṃ dassetvā “eso kho, bhikkhave, māro pāpimā godhikassa kulaputtassa viññāṇaṃ samanvesati ‘kattha godhikassa kulaputtassa viññāṇaṃ patiṭṭhita’nti. Apatiṭṭhitena ca, bhikkhave, viññāṇena godhiko kulaputto parinibbuto”ti āha. Māropi tassa viññāṇaṭṭhānaṃ daṭṭhuṃ asakkonto kumārakavaṇṇo hutvā beluvapaṇḍuvīṇaṃ ādāya satthāraṃ upasaṅkamitvā pucchi –

“Uddhaṃ adho ca tiriyaṃ, disā anudisā svahaṃ;
Anvesaṃ nādhigacchāmi, godhiko so kuhiṃ gato”ti. (saṃ. ni. 1.159);

Atha naṃ satthā āha –

“Yo dhīro dhitisampanno, jhāyī jhānarato sadā;
Ahorattaṃ anuyuñjaṃ, jīvitaṃ anikāmayaṃ.

“Jetvāna maccuno senaṃ, anāgantvā punabbhavaṃ;
Samūlaṃ taṇhamabbuyha, godhiko parinibbuto”ti. (saṃ. ni. 1.159);

Evaṃ vutte māro pāpimā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

“Tassa sokaparetassa, vīṇā kacchā abhassatha;
Tato so dummano yakkho, tatthevantaradhāyathā”ti. (saṃ. ni. 1.159);

Satthāpi “kiṃ te, pāpima, godhikassa kulaputtassa nibbattaṭṭhānena? Tassa hi nibbattaṭṭhānaṃ tumhādisānaṃ satampi sahassampi daṭṭhuṃ na sakkotī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Tesaṃ sampannasīlānaṃ, appamādavihārinaṃ;
Sammadaññā vimuttānaṃ, māro maggaṃ na vindatī”ti.

Tattha tesanti yathā appatiṭṭhitena viññāṇena godhiko kulaputto parinibbuto, ye ca evaṃ parinibbāyanti, tesaṃ sampannasīlānanti paripuṇṇasīlānaṃ. Appamādavihārinanti satiavippavāsasaṅkhātena appamādena viharantānaṃ. Sammadaññā vimuttānanti hetunā ñāyena kāraṇena jānitvā “tadaṅgavimuttiyā, vikkhambhanavimuttiyā, samucchedavimuttiyā, paṭippassaddhivimuttiyā, nissaraṇavimuttiyā”ti imāhi pañcahi vimuttīhi vimuttānaṃ. Māro maggaṃ na vindatīti evarūpānaṃ mahākhīṇāsavānaṃ sabbathāmena maggantopi māro gatamaggaṃ na vindati na labhati na passatīti.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pattā. Desanā mahājanassa sātthikā jātāti.

Godhikattheraparinibbānavatthu ekādasamaṃ.

IV. 11. Godhika Attains Nibbāna

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

57. If men are endowed with the virtues, live the life of Heedfulness,
Are emancipated through perfect knowledge, Māra can never find the way to them.

This religious instruction was given by the Teacher while in residence at Veḷuvana near Rājagaha with reference to the attainment of Nibbāna by Elder Godhika.

For while this Venerable Elder was in residence at Black Rock on Mount Isigili, heedful, ardent, resolute, having attained emancipation of the mind by the practice of meditation, he was attacked by a certain disease brought on by diligent application to duty, and fell away from a state of trance. A second time and a third time, and unto six times, did he enter into a state of trance and fall away therefrom. As he entered into a state of trance for the seventh time, he thought to himself, “Six times I have fallen away from a state of trance. Doubtful is the future state of him who falls away from a state of trance. Now is the time for me to use the razor.”

Accordingly he took the razor with which he shaved his hair, and lay down on his bed, intending to sever his windpipe. Māra perceived his intention and thought to himself, “This monk intends to use the razor. Those who use the razor are indifferent to life. Such men, having attained Insight, win Arahatship. But if I try to prevent him from carrying out his intention, he will pay no attention to my words. I will therefore induce the Teacher to prevent him.” So in the guise of an unknown he approached the Teacher and spoke thus,

Mighty hero, mighty in wisdom, resplendent with mystic power and glory,
Thou that hast overcome all hatred and fear, I bow myself before thy feet, all-seeing one.

Mighty hero, thy disciple, though he has overcome death,
Desires and meditates death. Dissuade him, thou giver of light.

Exalted One, renowned among men, how shall thy disciple who delights in the Law
Come to his end without accomplishing his desire, while yet untrained?

At that moment the Elder drew his knife. The Teacher, perceiving that it was Māra, pronounced the following Stanza,

Thus do those that are steadfast, nor do they yearn for life.
Godhika has uprooted Craving and has attained Nibbāna.

Now the Exalted One, accompanied by a large number of monks, entered the place where the Elder had lain down and used his knife. At that moment Māra, the Evil One, like a pillar of smoke or a mass of darkness, was searching in all directions for the Elder’s consciousness. Thought he, “Where has his rebirth-consciousness fixed itself?” The Exalted One pointed out to the monks the pillar of smoke and the mass of darkness and said to them, “Monks, that is Māra, the Evil One, searching for the consciousness of the goodly youth Godhika. Thinks he, ‘Where has the consciousness of the goodly youth Godhika fixed itself?’ But, monks, the consciousness of the goodly youth Godhika has not fixed itself. For, monks, the goodly youth Godhika has passed into Nibbāna.” Māra, unable to find the place where the consciousness of the Elder had fixed itself, assumed the form of a prince, and taking in his hand a lute made of the light yellow wood of the vilva-tree, approached the Teacher and asked him,

Above, below, across, to all the points and intermediate points
Have I searched, but I cannot find him. Where has Godhika gone?

Said the Teacher to Māra,

This steadfast man, endowed with resolution, given to meditation, delighting ever in meditation.
Exerting himself by day and by night, longing not to live.

Has overcome the host of Māra and will return no more to be bom again.
Godhika has uprooted Craving and has attained Nibbāna.

When the Teacher had thus spoken, Māra, the Evil One, addressed the Exalted One with a Stanza.

Overwhelmed with disappointment, he dropped the girdle of his lute,
And with heavy heart that demon straightway disappeared.

Then said the Teacher, “Evil One, what have you to do with the place where the consciousness of the goodly youth Godhika has fixed itself? A hundred or a thousand like you could never find it.” So saying, he pronounced the following Stanza,

57. If men are endowed with the virtues, live the life of Heedfulness,
Are emancipated through perfect knowledge, Māra can never find the way to them.

  1. This story is almost word for word the same as Saṁyutta, iv. 3. 3: i. 120-122. Cf. E. Windisch, Māra und Buddha, pp. 113-116. Text: N i. 431-434.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.