Chú giải Pháp Cú · Kệ 152 · Dhp 152

Tích Trưởng Lão Lô Lưu Đà Di Lẩn Thẩn

Lāḷudāyittheravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 152 Kinh Pháp Cú, phẩm Già, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 152)

“Appassutāyaṃ puriso,
Balibaddova jīrati;
Maṃsāni tassa vaḍḍhanti,
Paññā tassa na vaḍḍhati.”

“Người ít nghe kém học,
Lớn già như trâu đực,
Thịt nó tuy lớn lên,
Nhưng Tuệ không
Tăng trưởng.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết, khi ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến Trưởng lão Loḷudāyi (Lô Lưu Đà Di).

Tương truyền rằng: Trưởng lão Loḷudāyi có tật thuyết pháp, tụng kinh không đúng chỗ. Khi đến nhà gia chủ thỉnh tụng kinh Cầu An (Maṅgala) thì vị ấy lại tụng kinh Cầu Siêu, như kinh: Tirokuḍḍesu tiṭṭhanti (Các hàng Ngạ quỉ đã đến nhà quyến thuộc rồi…). Trái lại, khi thí chủ đang làm lễ Cầu Siêu (avamaṅgala), đáng lẽ phải tụng bài kinh trên đây và các kinh phù hợp thì vị ấy lại tụng những kinh giải về Bố thí, Trì giới, Tham thiền, chẳng hạn như Hạnh phúc kệ, hoặc kệ tụng Tam Bảo dài (Ratanasutta). Vì kém trí nhớ, khi đi đến chỗ nầy, chỗ nọ để tụng kinh, vị ấy lập tâm: “Ta sẽ tụng bài kinh nầy, kinh nọ”, nhưng lúc đến nơi rồi, Trưởng lão lại tụng bài kinh khác mà không tự biết.

Chư Tỳ khưu biết được việc tụng Pháp phi thời của Trưởng lão Loḷudāyi như thế, bạch trình với Đức Thế Tôn rằng:

- Bạch Thế Tôn! Vì sao Trưởng lão Loḷudāyi trong chỗ cần tụng kinh Cầu An thì lại tụng kinh Cầu Siêu. Và ngược lại, trong chỗ cần tụng kinh Cẩu Siêu thì lại tụng kinh Cầu An như vậy?

- Nầy chư Tỳ khưu! Chẳng phải trong kiếp nầy đâu, cho đến thời trước, Loḷudāyi cũng đã từng tụng như thế.

Chư Tỳ khưu cung thỉnh Đức Đạo Sư thuyết lên Bổn sanh. Đức Thế Tôn giảng rằng:

Thuở quá khứ, Bồ Tá Somadatta (Xô Má Đát Tá) là con của một vị Bà la môn Aggidatta (Ắc Gí Đát Tá) trong thành Bārāṇasī (Ba La Nại). Bồ Tát Somadatta phục vụ Đức vua rất chu đáo, nên được Đức vua yêu mến. Riêng Bà la môn Aggidatta vẫn sống bằng nghề nông.

Bà la môn Aggidatta có được hai con bò, chẳng may bị chết một con, ông nói với con trai rằng:

- Nầy Somadatta thân yêu! Con hãy xin Vua cho cha con bò đi.

Đại thần Somadatta suy nghĩ: “Nếu ta xin Đức vua ban thưởng cho mình, thì sự tình nầy không xứng đáng như vậy!”. Ngài bảo với cha rằng:

- Thưa cha! Cha hãy tự mình đến xin Đức vua đi.

- Con ơi! Nếu thế, con hãy đưa cha đến triều đình đi.

Đại thần Somadatta suy nghĩ: “Vị Bà la môn nầy là người kém trí, hằng nói phi thời, dù chỉ một câu “Hãy tiến lên phía trước, hãy lui về phía sau” cũng nói chẳng hợp thời. Những câu đáng nói thì không nói, trái lại những câu không đáng nói thì lại nói. Ta hãy làm cho vị ấy ý thức trước, rồi hãy đưa đến triều.”.

Bồ Tát Somadatta đưa cha đến mộ địa có tên là Vīraṇatthambhaka (Qui Ra Nát Tham Phá Ká), cột các bó cỏ lại, sắp xếp thành một quanh cảnh của triều đình rằng: Đây là Đại vương, đây là quan Tể tướng, đây là Đại tướng quân… Bằng những bó cỏ, Bồ Tát chỉ dạy cho cha hiểu rõ, rồi lại dặn bảo cha rằng: “Khi cha đến hoàng cung, cần phải đi tiến về phía trước như thế nầy, phải đi thụt lùi như thế nầy…”.

Rồi Bồ Tát dạy cho Bà la môn ấy biết rằng:

- Khi cha đến yết kiến Đức vua, phải làm lễ như vầy, phải chào các Đại thần như vầy, rồi cha chúc tụng Đức vua bằng kệ ngôn nầy để xin bò.

Ngài dạy cho Bà la môn ấy thuộc lòng bài kệ rằng:

“Dve me goṇā mahārāja,
Yehi khettaṃ kasāmase;
Tesu eko mato deva,
Dutiyaṃ dehi khattiyāti”
- Tâu Đại vương, hạ thần có một đôi bò, dùng để

cày ruộng nhà, nhưng một con đã chết rồi. Tâu Đại vương! Mong cầu Đại vương ân tứ con thứ hai!

Suốt cả năm trời, vị Bà la môn ấy mới thuộc được kệ ngôn ấy, trả bài cho Bồ Tát xong. Bấy giờ, Bồ Tát chỉ bảo rằng:

- Cha hãy mang chút ít lễ vật dâng lên Đức vua đi, con sẽ đợi cha ở hoàng cung.

- Nầy con, được thôi.

Bà la môn mang lễ vật đi đến hoàng cung, có Bồ Tát đã chờ nơi ấy. Bà la môn được Đức vua ân cần hỏi han, rồi Ngài phán rằng:

- Nầy khanh! Khanh đến đây lâu chưa? Đây là nơi ngồi, khanh hãy ngồi vào đó, khanh cần những gì từ nơi trẫm, khanh hãy nói lên.

Bà la môn ấy liền quì xuống tâu rằng:
“Dve me goṇā mahārāja…
Dutiyaṃ gaṇha khattiyā”

- Tâu Bệ hạ! Thần có hai con bò để cày ruộng, đã chết mất một con rồi. Tâu Bệ hạ! Ngài là bậc Sát Đế Lỵ cao quý, xin Ngài hãy lấy luôn con bò thứ hai đi.

Nghe vậy, Đức vua phán hỏi lại rằng:

- Nầy khanh! Khanh nói chi lạ vậy, hãy nói lại đi.

Bà la môn vẫn lập lại bài kệ trên như vậy. Đức vua hiểu là Bà la môn ấy nói sai ý mình, Ngài mỉm cười quay sang Bồ Tát phán hỏi rằng: “Nầy Somadatta! Nhà của khanh hẳn có nhiều bò lắm nhỉ?”. Bấy giờ, Bồ Tát đáp rằng:

- Tâu Bệ hạ! Bò được Bệ hạ ban cho thì có nhiều.

Đức vua hoan hỷ trước lời thông minh ấy, Ngài ban thưởng cho Bồ tát và Bà la môn ấy mười sáu con bò cùng với đồ phục sức cho bò và nhà ở thì miễn thuế. Rồi tiễn Bà la môn ấy ra về với nhiều lễ vật.

Bậc Đạo Sư sau khi thuyết giảng Bổn sanh xong, Ngài nhận diện rằng: “Đức vua thời ấy nay là Ānanda, Bà la môn ấy nay là Loḷudāyi, Đại thần Somadatta nay chính là Đấng Như Lai.”.

- Nầy các Tỳ khưu! Tỳ khưu Loḷudāyi nói phi thời với những câu nói bất xứng như thế, chẳng phải chỉ có trong kiếp nầy mà thôi, trong quá khứ cũng đã từng như thế rồi, vì là người ít nghe Pháp. Do vậy, người thiển kiến quả văn ví như con bò đực.

Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:
“Appassutāyaṃ puriso,
Balibaddova jīrati;
Maṃsāni tassa vaḍḍhanti,
Paññā tassa na vaḍḍhati.”
Những người ít nghe, kém học, suốt đời chỉ như

trâu nái, gân thịt dẫu lớn mạnh mà Trí tuệ không tăng thêm.

(Bản dịch của T.K. Trí Đức)

CHÚ GIẢI:

Appassutāyaṃ: người kém nghe ở đây, ám chỉ người ít được nghe giảng về chân lý chứa đựng trong một hoặc hai phẩm kinh tụng, hoặc một hay hai bộ kinh văn trong Tam tạng Thánh điển. Trái lại, bậc đa văn (bahussuto) là người đã học hỏi chút ít đề mục rồi Tinh tấn công phu hành đạo.

Balibaddova jīrati: quả thật, cũng như con bò đực (hay trâu nái) đang già, đang lớn, không phải nó già lớn vì sự lợi ích cho cha mẹ nó, hoặc cho thân bằng quyến thuộc của nó thì là nó già lớn một cách vô ích. Thầy nầy cũng thế, không làm công việc phục dịch thầy Hòa thượng, không cố gắng hộ độ thầy Yết ma và Khách Tăng, cũng không Tinh tấn hành Thiền định, như thế tức là già lớn một cách vô ích.

Maṃsāni tassa vaḍḍhanti: cũng như con bò đực (trâu nái) mang ách kéo cày thì hữu ích. Khi nghỉ cày tháo ách, thả đi rong trong rừng, nó tha hồ ăn cỏ, uống nước, da thịt nở nang. Thầy nầy cũng vậy, sau khi ra khỏi sự kềm chế của thầy Hòa thượng và thầy Yết ma, nương nhờ Tăng mà hưởng thụ bốn món vật dụng, tẩy sạch ruột gan, bồi dưỡng thân thể, các bắp thịt nở nang, mình mẩy mập béo đẫy đà…

Paññā tassa: Về mặt Trí tuệ của thầy, dầu Phàm tuệ hay Thánh tuệ cũng không phát triển thêm được gang tấc, thầy giống như các dây leo trong rừng, nương cậy vào Lục căn, buông xuôi theo Ái dục, chỉ phát triển được chín lớp Ngã mạn mà thôi.

Cuối thời Pháp, đại chúng an trú vào Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả.

Trưởng lão mà không hiểu nghĩa kinh,
Nhớ đâu tụng đó, chẳng qui trình,
Chư Tăng, Thiện tín đều chê trách,
Phật kể cho nghe tích Bổn Sinh:
Xưa có con trai được chúa yêu,
Một nông dân nọ muốn lai triều,
Xin Vua cấp một con bò đực,
Rán tập lễ nghi cả sớm chiều.
Một năm qua, học kệ vừa thông,
Vào gặp Đức vua lại nói ngông:
“Thần có một con bò đực chết,
Xin Vua bắt hết cặp cho xong!”.
Phật dạy: Con người dốt tợ trâu,
Lớn lên chỉ được cái to đầu!
Thịt xương phát triển mà không Tuệ,
Ít học kém nghe, chẳng quí đâu!

DỨT TÍCH TRƯỞNG LÃO LÔ LƯU ĐÀ DI LẨN THẨN

Lāḷudāyittheravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Appassutāyanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto lāḷudāyittheraṃ ārabbha kathesi.

So kira maṅgalaṃ karontānaṃ gehaṃ gantvā “tirokuṭṭesu tiṭṭhantī”tiādinā (khu. pā. 7.1; pe. va. 14) nayena avamaṅgalaṃ katheti, avamaṅgalaṃ karontānaṃ gehaṃ gantvā tirokuṭṭādīsu kathetabbesu “dānañca dhammacariyā cā”tiādinā (khu. pā. 5.7; su. ni. 266) nayena maṅgalagāthā vā “yaṃ kiñci vittaṃ idha vā huraṃ vā”ti ratanasuttaṃ (khu. pā. 6.3; su. ni. 226) vā katheti. Evaṃ tesu tesu ṭhānesu “aññaṃ kathessāmī”ti aññaṃ kathentopi “aññaṃ kathemī”ti na jānāti. Bhikkhū tassa kathaṃ sutvā satthu ārocesuṃ – “kiṃ, bhante, lāḷudāyissa maṅgalāmaṅgalaṭṭhānesu gamanena, aññasmiṃ kathetabbe aññameva kathetī”ti. Satthā “na, bhikkhave, idānevesa evaṃ katheti, pubbepi aññasmiṃ kathetabbe aññameva kathesī”ti vatvā atītaṃ āhari –

Atīte kira bārāṇasiyaṃ aggidattassa nāma brāhmaṇassa putto somadattakumāro nāma rājānaṃ upaṭṭhahi. So raññā piyo ahosi manāpo. Brāhmaṇo pana kasikammaṃ nissāya jīvati. Tassa dveyeva goṇā ahesuṃ. Tesu eko mato. Brāhmaṇo puttaṃ āha – “tāta, somadatta, rājānaṃ me yācitvā ekaṃ goṇaṃ āharā”ti. Somadatto “sacāhaṃ rājānaṃ yācissāmi, lahubhāvo me paññāyissatī”ti cintetvā “tumheyeva, tāta, rājānaṃ yācathā”ti vatvā “tena hi, tāta, maṃ gahetvā yāhī”ti vutto cintesi – “ayaṃ brāhmaṇo dandhapañño abhikkamādivacanamattampi na jānāti, aññasmiṃ vattabbe aññameva vadati, sikkhāpetvā pana naṃ nessāmī”ti. So taṃ ādāya bīraṇatthambhakaṃ nāma susānaṃ gantvā tiṇakalāpe bandhitvā “ayaṃ rājā, ayaṃ uparājā, ayaṃ senāpatī”ti nāmāni katvā paṭipāṭiyā pitu dassetvā “tumhehi rājakulaṃ gantvā evaṃ abhikkamitabbaṃ, evaṃ paṭikkamitabbaṃ, evaṃ nāma rājā vattabbo, evaṃ nāma uparājā, rājānaṃ pana upasaṅkamitvā ‘jayatu bhavaṃ, mahārājā’ti vatvā evaṃ ṭhatvā imaṃ gāthaṃ vatvā goṇaṃ yāceyyāthā”ti gāthaṃ uggaṇhāpesi –

“Dve me goṇā mahārāja, yehi khettaṃ kasāmase;
Tesu eko mato deva, dutiyaṃ dehi khattiyā”ti.

So hi saṃvaccharamattena taṃ gāthaṃ paguṇaṃ katvā paguṇabhāvaṃ puttassa ārocetvā “tena hi, tāta, kañcideva paṇṇākāraṃ ādāya āgacchatha, ahaṃ purimataraṃ gantvā rañño santike ṭhassāmī”ti vutte “sādhu, tātā”ti paṇṇākāraṃ gahetvā somadattassa rañño santike ṭhitakāle ussāhappatto rājakulaṃ gantvā raññā tuṭṭhacittena katapaṭisammodano, “tāta, cirassaṃ vata āgatattha, idamāsanaṃ nisīditvā vadatha, yenattho”ti vutte imaṃ gāthamāha –

“Dve me goṇā mahārāja, yehi khettaṃ kasāmase;
Tesu eko mato deva, dutiyaṃ gaṇha khattiyā”ti.

Raññā “kiṃ vadesi, tāta, puna vadehī”ti vuttepi tameva gāthaṃ āha. Rājā tena virajjhitvā kathitabhāvaṃ ñatvā sitaṃ katvā, “somadatta, tumhākaṃ gehe bahū maññe goṇā”ti vatvā “tumhehi dinnā bahū bhavissanti, devā”ti vutte bodhisattassa tussitvā brāhmaṇassa soḷasa goṇe alaṅkārabhaṇḍakaṃ nivāsagāmañcassa brahmadeyyaṃ datvā mahantena yasena brāhmaṇaṃ uyyojesīti.

Satthā imaṃ dhammadesanaṃ āharitvā “tadā rājā ānando ahosi, brāhmaṇo lāḷudāyī, somadatto pana ahamevā”ti jātakaṃ samodhānetvā “na, bhikkhave, idāneva, pubbepesa attano appassutatāya aññasmiṃ vattabbe aññameva vadati. Appassutapuriso hi balibaddasadiso nāma hotī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Appassutāyaṃ puriso, balibaddova jīrati;
Maṃsāni tassa vaḍḍhanti, paññā tassa na vaḍḍhatī”ti.

Tattha appassutāyanti ekassa vā dvinnaṃ vā paṇṇāsakānaṃ. Atha vā pana vaggānaṃ sabbantimena paricchedena ekassa vā dvinnaṃ vā suttantānaṃ vāpi abhāvena appassuto ayaṃ. Kammaṭṭhānaṃ pana uggahetvā anuyuñjanto bahussutova. Balibaddova jīratīti yathā hi balibaddo jīramāno vaḍḍhamāno neva mātu, na pitu, na sesañātakānaṃ atthāya vaḍḍhati, atha kho niratthakameva jīrati, evamevaṃ ayampi na upajjhāyavattaṃ karoti, na ācariyavattaṃ, na āgantukavattādīni, na bhāvanārāmataṃ anuyuñjati, niratthakameva jīrati, maṃsāni tassa vaḍḍhantīti yathā balibaddassa “yuganaṅgalādīni vahituṃ asamattho eso”ti araññe vissaṭṭhassa tattheva vicarantassa khādantassa pivantassa maṃsāni vaḍḍhanti, evameva imassāpi upajjhāyādīhi vissaṭṭhassa saṅghaṃ nissāya cattāro paccaye labhitvā uddhavirecanādīni katvā kāyaṃ posentassa maṃsāni vaḍḍhanti, thūlasarīro hutvā vicarati. Paññā tassāti lokiyalokuttarā panassa paññā ekaṅgulamattāpi na vaḍḍhati, araññe pana gacchalatādīni viya cha dvārāni nissāya taṇhā ceva navavidhamāno ca vaḍḍhatīti attho.

Desanāvasāne mahājano sotāpattiphalādīni pāpuṇīti.

Lāḷudāyittheravatthu sattamaṃ.

XI. 7. The Monk who always said the Wrong Thing

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

152. A man who has learned but little, grows old like an ox;
His flesh increases, but his wisdom, not.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Elder Lāḷudāyi.

The story goes that Elder Lāḷudāyi used to go to a house where people were making holiday and recite stanzas appropriate to a funeral, such as, “They stand outside the walls.” Likewise he would go to a house where a funeral was in progress, and instead of saying the appropriate words, “They stand outside the walls,” he would recite such holiday stanzas as, “Almsgiving and piety.” Or else he would recite the Jewel Sutta, containing such stanzas as, “Whatever riches exist, either in this world or in the next.”

In fact, no matter where he went, even though he set out with the intention of saying one thing, he would invariably say something entirely different. Nor was he in the least aware that he ever said anything different from what he intended to say. Monks who heard him talk reported the matter to the Teacher, saying, “Reverend Sir, what is the use of Lāḷudāyi’s going either to places where festivities are in progress or to places where funerals are in progress? Where the right thing should be said, he always says the wrong thing.” The Teacher replied, “Monks, this is not the first time he has so spoken; in a previous existence also he always said the wrong thing instead of the right thing.” So saying, he told the following

7 a. Story of the Past: Aggidatta, Somadatta, and the king

The story goes that in times long gone by, there was a Brahman named Aggidatta who lived in Benāres. The Brahman had a son named Somadatta Kumāra who waited upon the king, and Somadatta was the king’s darling and delight. Now the Brahman gained his livelihood by tilling the soil, and he had two oxen, and only two. One day one of his two oxen died. Thereupon the Brahman said to his son, “Dear Somadatta, ask the king for a single ox and fetch him back to me.” Somadatta thought to himself, “If I make such a request of the king, he will think that I am presuming on him.” So he said to his father, “Dear father, you go yourself and ask the king.” “Very well, dear son, take me with you.”

Somadatta thought to himself, “This Brahman is of slow wit. He knows neither the proper words to use in approaching, nor the proper words to use in retiring; when the right thing should be said he says the wrong thing; I will give him some instruction before I take him with me.” So Somadatta led his father to a burning-ground named Cuscus-clump. Having so done, he gathered some grass, tied the grass in bundles, set the bundles on end, and pointing them out to his father one after another, said, “This is the king, this is the viceroy, this is the commander-in-chief of the army. When you go to the king’s palace, you must advance in this manner and you must withdraw in this manner. Thus you must address the king and thus you must address the viceroy. When you approach the king, you must say, ‘Long live his gracious majesty the king!’ And standing thus, and reciting this Stanza, you must then ask the king for the ox.” So saying, he taught his father the following Stanza,

I had two oxen, mighty king, with which I plowed my field;
But one of the two is dead; pray give me another, Warrior-prince.

The Brahman spent a year perfecting himself in this Stanza. When he had finally learned it by heart, he told his son. “Very well, father,’ replied Somadatta, “take some present or other and follow after me. I will go ahead and stand in my accustomed place beside the king.” “Very well, dear son,” replied the Brahman. So as soon as Somadatta had taken his accustomed place beside the king, the Brahman summoned all his resources, and taking a present with him, went to the royal palace. The king was delighted to see him and greeted him in a cordial manner, saying, “Dear friend, you have come a long way. Seat yourself on this couch and tell me what you have need of.” Thereupon the Brahman pronounced the following Stanza,

I had two oxen, mighty king, with which I plowed my field;
But one of the two is dead; pray take my other. Warrior-prince.

Said the king, “What say you, dear friend? Say it again.” So the Brahman repeated the Stanza once more exactly as before. The king, perceiving that by a slip of the tongue the Brahman had said the exact opposite of what he intended to say, smiled and said, “Somadatta, you have a great many oxen at home, I presume.” “Your majesty,” replied Somadatta, “there must be just as many as you have given us.” The king, pleased with the answer given by the Future Buddha, presented the Brahman with sixteen oxen, and in addition thereto, jewels and household wares and a village wherein to dwell. Thus did the king present the Brahman with gifts appropriate to his station. Having so done, he dismissed the Brahman with high honor.

When the Teacher had completed this story, he identified the births as follows: “At that time the king was Ānanda, the Brahman was Lāḷudāyi, and Somadatta was I myself.” And he added, “Monks, this is not the first time he failed, because of his own stupidity, to say the right thing at the right time. Indeed a man who has learned but little resembles nothing so much as he does an ox.” So saying, he pronounced the following Stanza,

152. A man who has learned but little, grows old like an ox;
His flesh increases, but his wisdom, not.

  1. A free version of Jātaka 211: ii. 164-167. Cf. story xviii. 4. Text: N iii. 123-127.
  2. Khuddaka Pāṭha, vii.
  3. From the Maṅgala-sutta, Khuddaka Pāṭha, v. 6.
  4. Khuddaka Pāṭha, vi.
  5. Stanza 3.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này