Tích Sa-Môn Giết Cha Mẹ
Lakuṇḍakabhaddiyattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 294–295 Kinh Pháp Cú, phẩm Tạp Lục, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Thiền viện Viên Chiếu dịch.
Bản Việt · Thiền viện Viên Chiếu dịch
Sau khi giết mẹ cha...
Câu chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả LakuntakaBhaddiya.
Một thời, đức Thế Tôn đang ở tại Kỳ Viên, có một số Tỳ-kheo đến viếng thăm Ngài. Sau khi đảnh lễ, các thầy kính cẩn lui ngồi một bên. Khi ấy Tôn giả Lakuntaka Bhaddiya đi ngang đấy không xa. Đức Phật biết tâm của các Tỳ-kheo đúng lúc, Ngài nhìn Tôn giả và nói với các Tỳ-kheo.
- Các ông hãy nhìn kia! Đó là Tỳ-kheo đã giết cha, giết mẹ, thoát khổ đau.
- Đức Thế Tôn nói gì thế?
Các Tỳ-kheo kêu lên, nhìn nhau, nghi ngờ, và hỏi Phật:
- Bạch Thế Tôn! Ngài nói gì?
Phật bèn nói kệ:
294Sau khi giết mẹ cha,
Giết hai vua Sát-lợi,
Giết vương quốc, quần thần,
Vô ưu, Phạm chí sống.
Nghe xong các thầy chứng A-la-hán.
Câu chuyện liên quan câu kệ sau cũng giống như chuyện trên, Phật cũng nói về Tôn giả Lakuntaka:
295Sau khi giết mẹ cha,
Hai vua Bà-la-môn,
Giết hổ tướng thứ năm (nghi)
Vô ưu, Phạm chí sống.
[Theo Chú Giải: "... Mẹ (mata) là ẩn dụ cho lòng tham ái (tanha), và cha (pita) là ẩn dụ của ngã mạn (mana). Chính vì tham ái và ngã mạn mà ta phải tái sinh nhiều đời, nhiều kiếp trong cõi ta bà luân hồi này. Hai vị vua chính là hai biên kiến của vô minh: thường kiến (eternalism) và đoạn kiến (annihilationism), thường tạo ra nhiều tranh cãi vô ích, cần phải được phá bỏ. Vương quốc lãnh thổ kia chính là 6 căn và 6 trần: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, và sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Vị Quốc khố đại thần (treasurer) là để chỉ lòng tham đắm dục lạc phát sinh và chất chứa từ 6 căn đó. Sau cùng, hổ tướng thứ năm chính là con quỷ thứ năm làm cản trở sự định tâm, phát tuệ. Đó là "nghi" của 5 triền cái: tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử, và hoài nghi. Sau khi đã đoạn diệt tất cả các chướng ngại nầy thì hành giả mới thong dong, tự tại, đi đến giải thoát ..."]
Lakuṇḍakabhaddiyattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Mātaranti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto lakuṇḍakabhaddiyattheraṃ ārabbha kathesi.
Ekadivasañhi sambahulā āgantukā bhikkhū satthāraṃ divāṭṭhāne nisinnaṃ upasaṅkamitvā vanditvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. Tasmiṃ khaṇe lakuṇḍakabhaddiyatthero bhagavato avidūre atikkamati. Satthā tesaṃ bhikkhūnaṃ cittācāraṃ ñatvā oloketvā “passatha, bhikkhave, ayaṃ bhikkhu mātāpitaro hantvā niddukkho hutvā yātī”ti vatvā tehi bhikkhūhi “kiṃ nu kho satthā vadatī”ti aññamaññaṃ mukhāni oloketvā saṃsayapakkhandehi, “bhante, kiṃ nāmetaṃ vadethā”ti vutte tesaṃ dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Mātaraṃ pitaraṃ hantvā, rājāno dve ca khattiye;
Raṭṭhaṃ sānucaraṃ hantvā, anīgho yāti brāhmaṇo”ti.
Tattha sānucaranti āyasādhakena āyuttakena sahitaṃ. Ettha hi “taṇhā janeti purisa”nti (saṃ. ni. 1.55-57) vacanato tīsu bhavesu sattānaṃ jananato taṇhā mātā nāma. “Ahaṃ asukassa nāma rañño vā rājamahāmattassa vā putto”ti pitaraṃ nissāya asmimānassa uppajjanato asmimāno pitā nāma. Loko viya rājānaṃ yasmā sabbadiṭṭhigatāni dve sassatucchedadiṭṭhiyo bhajanti, tasmā dve sassatucchedadiṭṭhiyo dve khattiyarājāno nāma. Dvādasāyatanāni vitthataṭṭhena raṭṭhadisattā raṭṭhaṃ nāma. Āyasādhako āyuttakapuriso viya tannissito nandirāgo anucaro nāma. Anīghoti niddukkho. Brāhmaṇoti khīṇāsavo. Etesaṃ taṇhādīnaṃ arahattamaggañāṇāsinā hatattā khīṇāsavo niddukkho hutvā yātīti ayametthattho.
Desanāvasāne te bhikkhū arahatte patiṭṭhahiṃsu.
Dutiyagāthāyapi vatthu purimasadisameva. Tadā hi satthā lakuṇḍakabhaddiyattherameva ārabbha kathesi. Tesaṃ dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Mātaraṃ pitaraṃ hantvā, rājāno dve ca sotthiye;
Veyagghapañcamaṃ hantvā, anīgho yāti brāhmaṇo”ti.
Tattha dve ca sotthiyeti dve ca brāhmaṇe. Imissā gāthāya satthā attano dhammissaratāya ca desanāvidhikusalatāya ca sassatucchedadiṭṭhiyo dve brāhmaṇarājāno ca katvā kathesi. Veyagghapañcamanti ettha byagghānucarito sappaṭibhayo duppaṭipanno maggo veyaggho nāma, vicikicchānīvaraṇampi tena sadisatāya veyagghaṃ nāma, taṃ pañcamaṃ assāti nīvaraṇapañcakaṃ veyagghapañcamaṃ nāma. Idañca veyagghapañcamaṃ arahattamaggañāṇāsinā nissesaṃ hantvā anīghova yāti brāhmaṇoti ayametthattho. Sesaṃ purimasadisamevāti.
Lakuṇḍakabhaddiyattheravatthu catutthaṃ.
XXI. 4. The Monk who had Killed his Mother and Father
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
294-295. After killing a mother...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Elder Lakuṇṭaka Bhaddiya.
For once upon a day several visiting monks drew near to the Teacher as he sat in his day-quarters, saluted him, and sat down respectfully on one side. At that moment Elder Lakuṇṭaka Bhaddiya passed by not far from the Exalted One. The Teacher, knowing the disposition of mind of those monks, looked at the Elder and said to the monks, “Look, monks! There is a monk who has killed mother and father and free from pain he goes!” “What is this the Teacher says?” exclaimed those monks, looking each other in the face, while doubt sprang up within them. And they said to the Teacher, “Reverend Sir, what say you?” Then the Teacher preached the Law to them by pronouncing the following Stanza,
294. After killing a mother and a father, and two kings of the Warrior caste,
After destroying a kingdom with its inhabitants, scatheless goes the Brahman.
At the conclusion of the lesson those monks were established in Arahatship.
(The story relating to the second stanza is like the preceding. At that time also the Teacher spoke with reference to Elder Lakuṇṭaka. Preaching the Law to those monks, the Teacher pronounced the following Stanza:)
295. After killing a mother and a father, two Brahman kings,
And an eminent man besides, scatheless goes the Brahman.
- Text: N iii. 463-455.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Thiền viện Viên Chiếu dịch, Tích Truyện Pháp Cú (1995), dịch từ bản Anh Buddhist Legends của E. W. Burlingame; bản số hoá trên BuddhaSasana. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.