Kinh Pháp Cú, Phẩm Tạp Lục
Dhammapada, Pakiṇṇakavagga
Mười sáu bài kệ nhiều đề tài: buông niềm vui nhỏ để được niềm vui lớn, sáu bài kệ về đệ tử Phật thức dậy an lành, và người tốt tỏa sáng từ xa như núi Tuyết.
Trước khi đọc kinh
Phẩm thứ hai mươi mốt của Kinh Pháp Cú mang tên Pakiṇṇaka, nghĩa là các bài kệ gom lại từ nhiều đề tài. Bài kệ mở đầu là một phép tính rất rõ: nếu nhờ buông bỏ niềm vui nhỏ mà thấy được niềm vui lớn, người kiên định hãy buông niềm vui nhỏ (kệ 290). Theo chú giải, Đức Phật nói bài kệ sau chuyến đến thành Tỳ-xá-ly (Vesālī) khi thành đang gặp nạn đói, dịch bệnh và nạn phi nhân. Thấy các Tỷ-kheo trầm trồ trước sự cúng dường long trọng dọc đường đi, Ngài kể rằng đó là quả của một việc buông bỏ nhỏ đời trước: khi còn là một vị Bà-la-môn, Ngài đã nhổ cỏ, rải cát, rưới nước và dâng hoa rừng nơi tháp thờ một vị Phật Độc Giác. Kệ 291 nói về oán thù: ai chất khổ đau lên người khác để mong sung sướng cho mình thì dây dưa mãi trong oán thù; theo chú giải, chuyện kể về một cô gái ăn trứng của con gà mái trong nhà, từ đó hai bên trả thù nhau qua nhiều kiếp.
Kệ 292–293 so sánh hai lối sống: kẻ kiêu căng, phóng dật bỏ mặc việc đáng làm, làm việc không đáng làm, nên lậu hoặc tăng thêm; còn người luôn giữ niệm về thân thì làm đúng việc đáng làm và lậu hoặc đi đến tận cùng. Kệ 294–295 là hai câu đố nổi tiếng: giết mẹ, giết cha, giết hai vị vua, vị Bà-la-môn bước đi không còn phiền não. Theo chú giải, Đức Phật nói hai bài kệ khi Trưởng lão Lakuṇḍaka Bhaddiya đi ngang qua, làm các Tỷ-kheo khách ngơ ngác. Chú giải giải thích: mẹ là ái, cha là mạn “tôi là”, hai vị vua là thường kiến và đoạn kiến, vương quốc là mười hai xứ, viên quan thu thuế đi theo là hỷ tham bám vào các xứ ấy; “con cọp thứ năm” là năm triền cái, trong đó triền cái thứ năm là nghi, được ví như con đường có cọp dữ rình rập. “Giết” ở đây là đoạn trừ tận gốc các điều ấy bằng trí tuệ của Thánh đạo. Sáu bài kệ 296–301 lặp lại một điệp khúc dễ thương: các đệ tử của Đức Gotama luôn thức dậy tỉnh táo, an lành, những người ngày đêm tưởng niệm Phật, Pháp, Tăng, giữ niệm về thân, vui thích sự không làm hại và vui thích việc tu tập.
Kệ 302 nói thật lòng về cả hai lối sống: xuất gia khó, đời sống gia đình cũng khó và khổ, sống chung với người không hợp nhau là khổ; theo chú giải, bài kệ được nói với một Tỷ-kheo người Bạt-kỳ (Vajji), vốn là một hoàng tử đã bỏ ngôi xuất gia, thấy mình cô đơn như khúc gỗ bị vứt trong rừng giữa đêm hội trăng rằm ở Tỳ-xá-ly. Kệ 303, theo chú giải gắn với gia chủ Citta, nói người có niềm tin, đầy đủ giới hạnh đi đâu cũng được kính trọng. Kệ 304 có hình ảnh đẹp: người tốt dù ở xa vẫn tỏa sáng như rặng núi Tuyết Sơn, kẻ xấu dù ở gần cũng chẳng ai thấy, như mũi tên bắn trong đêm. Theo chú giải, bài kệ gắn với nàng Cūḷasubhaddā, con gái ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika), về làm dâu ở một thành rất xa; nàng hướng về Kỳ Viên thỉnh Phật, và Ngài nói rằng người tốt dù ở xa vẫn hiện rõ như đứng trước mặt. Bài kệ kết khen người ngồi một mình, đi một mình, tự điều phục lấy mình và vui thích nơi bìa rừng (kệ 305).
Ý chính
- Buông niềm vui nhỏ để thấy được niềm vui lớn lao (kệ 290).
- Ai chất khổ lên người khác để mong vui cho mình thì không thoát khỏi oán thù (kệ 291).
- Người luôn giữ niệm về thân làm đúng việc đáng làm, lậu hoặc đi đến tận cùng (kệ 293).
- Theo chú giải, “giết mẹ, giết cha” là đoạn trừ ái và mạn “tôi là” (kệ 294–295).
- Đệ tử Phật thức dậy an lành nhờ ngày đêm tưởng niệm Phật, Pháp, Tăng (kệ 296–298).
- Người tốt dù ở xa vẫn tỏa sáng như núi Tuyết, kẻ xấu như mũi tên trong đêm (kệ 304).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- pakiṇṇaka
- các đề tài gom lại, tạp lục
- mattāsukha
- niềm vui nhỏ, niềm vui có giới hạn
- vera
- oán thù
- kāyagatāsati
- niệm về thân
- āsava
- lậu hoặc
- anīgha
- không còn phiền não, không khổ não
- buddhagatā sati
- sự tưởng niệm Đức Phật
- ahiṁsā
- sự không làm hại
Tích truyện các bài kệĐức Phật nói mỗi bài kệ trong một hoàn cảnh riêng. Đọc 9 tích truyện của phẩm Tạp Lục theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Thiền viện Viên Chiếu dịch): xem các tích ›
Kinh Pháp Cú, Phẩm Tạp Lục
Chuyện việc lành đời trước của Đức PhậtAttanopubbakammavatthu Đọc tích truyện ›
290.1Nhờ từ bỏ lạc nhỏ,Mattāsukhapariccāgā,If by giving up material happiness
290.2Thấy được lạc lớn hơn,passe ce vipulaṁ sukhaṁ;one sees abundant happiness,
290.3Bậc trí bỏ lạc nhỏ,Caje mattāsukhaṁ dhīro,the attentive would give up material happiness,
290.4Thấy được lạc lớn hơn.sampassaṁ vipulaṁ sukhaṁ.seeing the abundant happiness.
Chuyện người đàn bà ăn trứng gàKukkuṭaṇḍakhādikāvatthu Đọc tích truyện ›
291.1Gieo khổ đau cho người,Paradukkhūpadhānena,Seeking their own happiness
291.2Mong cầu lạc cho mình,attano sukhamicchati;by imposing suffering on others,
291.3Bị hận thù buộc ràngVerasaṁsaggasaṁsaṭṭho,intimate with enmity,
291.4Không sao thoát hận thù.verā so na parimuccati.they’re not freed from enmity.
Chuyện các Tỷ-kheo ở BhaddiyaBhaddiyānaṁbhikkhūnaṁvatthu Đọc tích truyện ›
292.1Việc đáng làm, không làm,Yañhi kiccaṁ apaviddhaṁ,They dump what should be done,
292.2Không đáng làm, lại làm,akiccaṁ pana karīyati;and do what should not be done.
292.3Người ngạo mạn, phóng dật,Unnaḷānaṁ pamattānaṁ,For the insolent and the negligent,
292.4Lậu hoặc ắt tăng trưởng.tesaṁ vaḍḍhanti āsavā.their defilements only grow.
293.1Người siêng năng cần mẫn,Yesañca susamāraddhā,Those that have properly undertaken
293.2Thường thường quán thân niệm,niccaṁ kāyagatā sati;constant mindfulness of the body,
293.3Không làm việc không đáng,Akiccaṁ te na sevanti,don’t cultivate what should not be done,
293.4Gắng làm việc đáng làm,kicce sātaccakārino;but always do what should be done.
293.5Người tư niệm giác tỉnh,Satānaṁ sampajānānaṁ,Mindful and aware,
293.6Lậu hoặc được tiêu trừ.atthaṁ gacchanti āsavā.their defilements come to an end.
Chuyện Trưởng lão Lakuṇḍaka BhaddiyaLakuṇḍakabhaddiyavatthu Đọc tích truyện ›
294.1Sau khi giết mẹ chaMātaraṁ pitaraṁ hantvā,Having slain mother and father,
294.2Giết hai vua Sát-lỵrājāno dve ca khattiye;and two aristocratic kings,
294.3Giết vương quốc, quần thầnRaṭṭhaṁ sānucaraṁ hantvā,and having wiped out the kingdom with its tax collector,
294.4Vô ưu, Phạm chí sống.anīgho yāti brāhmaṇo.the brahmin walks on untroubled.
295.1Sau khi giết mẹ cha,Mātaraṁ pitaraṁ hantvā,Having slain mother and father,
295.2Hai vua Bà-la-mônrājāno dve ca sotthiye;and two prosperous kings,
295.3Giết hổ tướng thứ nămVeyagghapañcamaṁ hantvā,and a tiger as the fifth,
295.4Vô ưu, Phạm chí sống.anīgho yāti brāhmaṇo.the brahmin walks on untroubled.
Chuyện con trai người đánh xe chở củiDārusākaṭikaputtavatthu Đọc tích truyện ›
296.1Đệ tử Gotama,Suppabuddhaṁ pabujjhanti,The disciples of Gotama
296.2Luôn luôn tự tỉnh giácsadā gotamasāvakā;always wake up refreshed,
296.3Vô luận ngày hay đêm,Yesaṁ divā ca ratto ca,who day and night
296.4Thường tưởng niệm Phật-đà.niccaṁ buddhagatā sati.constantly recollect the Buddha.
297.1Đệ tử Gotama,Suppabuddhaṁ pabujjhanti,The disciples of Gotama
297.2Luôn luôn tự tỉnh giác,sadā gotamasāvakā;always wake up refreshed,
297.3Vô luận ngày hay đêm,Yesaṁ divā ca ratto ca,who day and night
297.4Thường tưởng niệm Chánh Pháp.niccaṁ dhammagatā sati.constantly recollect the teaching.
298.1Đệ tử Gotama,Suppabuddhaṁ pabujjhanti,The disciples of Gotama
298.2Luôn luôn tự tỉnh giác,sadā gotamasāvakā;always wake up refreshed,
298.3Vô luận ngày hay đêm,Yesaṁ divā ca ratto ca,who day and night
298.4Thường tưởng niệm Tăng già.niccaṁ saṅghagatā sati.constantly recollect the Saṅgha.
299.1Đệ tử Gotama,Suppabuddhaṁ pabujjhanti,The disciples of Gotama
299.2Luôn luôn tự tỉnh giác,sadā gotamasāvakā;always wake up refreshed,
299.3Vô luận ngày hay đêm,Yesaṁ divā ca ratto ca,who day and night
299.4Thường tưởng niệm sắc thân.niccaṁ kāyagatā sati.are constantly mindful of the body.
300.1Đệ tử Gotama,Suppabuddhaṁ pabujjhanti,The disciples of Gotama
300.2Luôn luôn tự tỉnh giác,sadā gotamasāvakā;always wake up refreshed,
300.3Vô luận ngày hay đêm,Yesaṁ divā ca ratto ca,whose minds day and night
300.4Ý vui niềm bất hại.ahiṁsāya rato mano.delight in harmlessness.
301.1Đệ tử Gotama,Suppabuddhaṁ pabujjhanti,The disciples of Gotama
301.2Luôn luôn tự tỉnh giác,sadā gotamasāvakā;always wake up refreshed,
301.3Vô luận ngày hay đêm,Yesaṁ divā ca ratto ca,whose minds day and night
301.4Ý vui tu thiền quán.bhāvanāya rato mano.delight in meditation.
Chuyện một Tỷ-kheo người VajjiVajjiputtakabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›
302.1Vui hạnh xuất gia khó,Duppabbajjaṁ durabhiramaṁ,Going forth is hard, it’s hard to be happy;
302.2Tại gia sinh hoạt khó,Durāvāsā gharā dukhā;life at home is hard too, and painful,
302.3Sống bạn không đồng, khổ,Dukkhosamānasaṁvāso,it’s painful to stay when you’ve nothing in common.
302.4Trôi lăn luân hồi, khổ.Dukkhānupatitaddhagū;A traveler is a prey to pain,
302.5Vậy chớ sống luân hồi,Tasmā na caddhagū siyā,so don’t be a traveler,
302.6Chớ chạy theo đau khổ.Na ca dukkhānupatito siyā.don’t be prey to pain.
Chuyện gia chủ CittaCittagahapativatthu Đọc tích truyện ›
303.1Tín tâm, sống giới hạnhSaddho sīlena sampanno,One who is faithful, accomplished in ethics,
303.2Đủ danh xưng tài sản,yasobhogasamappito;blessed with fame and wealth,
303.3Chỗ nào người ấy đến,Yaṁ yaṁ padesaṁ bhajati,is honored in whatever place
303.4Chỗ ấy được cung kính.tattha tattheva pūjito.they frequent.
Chuyện nàng CūḷasubhaddāCūḷasubhaddāvatthu Đọc tích truyện ›
304.1Người lành dầu ở xaDūre santo pakāsenti,The good shine from afar,
304.2Sáng tỏ như núi tuyết,himavantova pabbato;like the Himalayan peaks,
304.3Người ác dầu ở gầnAsantettha na dissanti,but the wicked are not seen,
304.4Như tên bắn đêm đen.rattiṁ khittā yathā sarā.like arrows scattered in the night.
Chuyện vị Trưởng lão sống một mìnhEkavihārittheravatthu Đọc tích truyện ›
305.1Ai ngồi nằm một mình,Ekāsanaṁ ekaseyyaṁ,Sitting alone, sleeping alone,
305.2Độc hành không buồn chán,eko caramatandito;tirelessly wandering alone;
305.3Tự điều phục một mìnhEko damayamattānaṁ,one who tames themselves alone
305.4Sống thoải mái rừng sâu.vanante ramito siyā.would delight within a forest.
305.5Pakiṇṇakavaggo ekavīsatimo.
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Pháp Cú, kệ 290–305 (Dhammapada, Pakiṇṇakavagga). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Dhp 290–305 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản số hoá trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.