Tích Thích Nữ Rohinī
Rohinīkhattiyakaññāvatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 221 Kinh Pháp Cú, phẩm Phẫn Nộ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 221)
“Kodhaṃ jahe vippajaheyya
Mānaṃ, saṃyojanaṃ
Sabbamatikkameyya;
Taṃ nāmarūpasmimasajjamānaṃ,
Akiñcanaṃ nānupatanti dukkhā.”
“Bỏ phẫn nộ, ly mạn,
Vượt qua mọi kiết sử,
Không chấp trước danh sắc.
Khổ không theo vô sản”.
(Ngài HT Minh Châu)
Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài ngự tại chùa Nigrodha, đề cập đến Thích Nữ Rohinī.
Tương truyền rằng: Một lần nọ, Đại Đức Anuruddha cùng với 500 Tỳ Khưu tùy tùng về thành Kapilavatthu.
Khi hay tin Đại Đức về, những thân quyến của Đại Đức đều đến thăm Đại Đức, trừ ra người em gái của Ngài là Công chúa Rohinī Đại Đức hỏi các quyến thuộc rằng: - “Nàng Rohinī ở đâu rồi?”
- Bạch Ngài, ở nhà.
- Tại sao nàng ấy không đến?
- Bạch Ngài, nàng ấy nói: “Khắp mình tôi bị bịnh lác” vì mắc cỡ nên nàng ấy không đến.
- Hãy cho gọi nàng ấy đến đây?
Khi nàng Rohinī vận kín y phục, che khắp mình rồi, đi đến Đại Đức hỏi rằng: -“Nầy Rohinī! Vì sao nàng không đến?”
- Bạch Ngài, khắp mình tôi nổi lác, bởi vậy tôi mắc cở không đến nơi nầy.
- Thế thì nàng cần phải làm phước thiện đi.
- Bạch Ngài! Tôi phải làm gì đây?
- Nàng hãy cất lên một Tăng đường đi.
- Tôi lấy chi đế cất lên Tăng đường bây giờ?
- Nàng há chẳng có đồ trang điểm ư?
- Bạch Ngài có, nhưng không đủ.
- Giá có được là bao nhiêu?
- Bạch Ngài, lối chừng 10 ngàn đồng vàng.
- Nếu vậy, nàng hãy xuất hết tiền ấy ra cất Tăng đường đi.
- Bạch Ngài! Tôi sẽ nhờ ai kiến tạo Tăng đường bây giờ?
Đại Đức nhìn những thân bằng đứng cạnh đó bảo rằng:
- Các thân quyến hãy đảm trách việc nầy với nàng Rohinī đi.
- Còn Ngài, Ngài sẽ làm việc chi?
- Ta cũng lưu ngụ tại nơi đây. Vậy các thân quyến hãy mang vật liệu đến cho nàng Rohinī.
- Lành thay! Lành thay.
Rồi họ chở vật liệu xây dựng đến, Đại Đức trông coi việc cất Tăng đường, đề nghị cùng nàng Rohinī rằng:
- Nàng hãy cho cất Tăng đường hai tầng. Từ lúc cho đóng ván để xây dựng tầng trên, lập tức nàng hãy quét dọn sạch tấn dưới, cho lót chỗ ngồi và chăm lo đổ đầy nước vào nơi chứa thường xuyên.
- Lành thay, bạch Ngài.
Nàng Rohinī bỏ ra toàn bộ nữ trang của mình, mướn cất một Tăng đường hai tầng, khi tầng trên bắt đầu xây dưng, nơi tầng dưới nàng thường xuyên quét dọn sạch sẽ, các Tỳ Khưu thường xuyên trú ngụ tại nơi ấy.
Trong khi nàng Rohinī quét dọn Tăng đường thì bịnh lác của nàng giảm bớt. Đến khi cất xong Tăng đường, nàng cung thỉnh Đức Phật và chư tăng ngự đến Tăng đường, rồi cúng dường vật thực thượng vị cứng, mềm đến chư Tăng có Đức Phật là tọa chủ.
Khi độ xong bữa, Đức Phật hỏi:
- Cuộc trai thí nầy của ai vậy?
- Bạch Ngài, của nàng Rohinī.
- Cô ấy đâu rồi?
- Bạch Ngài, ở trong nhà.
- Hãy cho gọi nàng ấy đến đây.
- Bạch Thế Tôn, nàng Rohinī không chịu đến.
- Hãy gọi nàng ấy đến, nhân danh Như Lại vậy.
Dù không muốn đến, những vì lịnh của Đức Phật gọi, nên nàng Rohinī phải đến, đảnh lễ Ngài xong rồi, ngồi xuống một bên, Ngài phán hỏi rằng:
- Nầy Rohinī! Vì sao nàng lại không đến đây?
- Bạch Ngài, vì con bị bịnh lác, con mắc cỡ nên không dám đến.
- Nàng có biết vì sao bịnh ấy lại phát sanh lên cho nàng chăng?
- Bạch Ngài! Con không biết.
- Bệnh ấy phát sanh do nương vào sự phẫn nộ của nàng.
- Bạch Ngài, con đã làm cái chi?
- Nếu thế, nàng hãy lắng nghe.
Thế rồi, Đức Bổn Sư thuyết lại Bổn Sanh rằng: Thuở xưa, có bà Hoàng Hậu của Quốc Vương Bārānasī, bà kết oan trái với một cô vũ nữ của Đức Vua. Bà nghĩ rằng: “Ta sẽ làm cho nó phải khổ”. Bà sai người đi hái một loại trái cây có chất ngứa (kacchu) đem về, nghiền nát ra thành bột, Hoàng Hậu cho đòi nàng vũ nữ ấy đến cung mình, đồng thời cho người lén rắc bột ngứa lên giường, ghế, áo chàng, mùng, mền… của cô ấy, bà lại giả vờ giỡn chơi, rắc bột ngứa vào mình nàng vũ nữ ấy. Ngay khi ấy, nàng vũ nữ nổi lên nhiều mụn ngứa, cô vừa gải vừa làm việc hay vũ múa, khi lên giường nằm, cũng bị chất bột ngứa tẩm vào người, mặc áo cũng vướng phải bột ngứa… Nàng chịu đau khổ vô cùng. Hoàng Hậu ấy nay chính là nàng Rohinī.
Sau khi nhắc lại tiền tích, Đức Bổn Sư dạy rằng:
- Nầy Rohinī, đó là bất thiện nghiệp mà cô đã tạo trong lúc trước. Quả thật vậy, phẩn nộ hay gạnh tỵ, dù cho chút ít, cũng không hề thích đáng cả.
Nói rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:
“Kodhaṃ jahe vippajaheyya
Mānaṃ, saṃyojanaṃ
Sabbamatikkameyya;
Taṃ nāmarūpasmimasajjamānaṃ,
Akiñcanaṃ nānupatanti dukkhā.”
“Bỏ phẫn nộ, ly mạn,
Vượt qua mọi kiết sử,
Không chấp trước danh sắc.
Khổ không theo vô sản”.
CHÚ GIẢI:
Kodhaṃ: Tất cả các mức độ của sự phẫn nộ và chín lớp ngã mạn đều bỏ cả (Kho tàng Pháp bảo trang 130)
Saṃyojanaṃ: Cả mười kiết sử, nhất là dây ràng buộc về tình dục (Kāmarāga) đều được giải thoát hết.
Asajjamānaṃ: Alaggamānam: là không bị dính mắc. Người nào cố chấp sắc của ta, thọ của ta… tức là cố chấp danh sắc và thở than, khóc lóc khi danh sắc tan rã, người ấy gọi là dính mắc trong danh sắc. Người không cố chấp như thế, gọi là không dính mắc. Người ấy không bị dính mắc do không có tình dục, không gặp nỗi khổ bất ngờ xảy đến cho mình.
Cuối thời Pháp nhiều người chứng đắc Thánh Quả, nhất là Quả Dự Lưu, nàng Rohinī cũng chứng đạt quả Tu Đà hườn. Ngay lúc ấy toàn thân nàng tỏa tực màu vàng y.
Sau khi từ trần, nàng được sanh về cõi Trời Đạo Lợi, chỗ giáp ranh của bốn vị Thiên Tử, nhan sắc nàng mỹ miều, khả ái. Bốn vị Thiên Tử thấy nàng đều phát sanh lòng luyến ái, vị nào cũng nói: “Nàng nầy sanh trong ranh giới của tôi”. Để giải quyết vụ tranh chấp nầy, họ đưa nhau đến trước Thiên Vương Đế Thích, yêu cầu phán xử:
- Tâu Thiên Vương! Xin Ngài xét đoán giữ chúng tôi, xem ai đáng được nàng Thiên nữ nầy.
Đức Đế Thích trông thấy Thiên nữ Rohinī cũng sanh lòng yêu mến, nên phán rằng:
“Từ khi trông thấy Thiên nữ nầy, tâm của quí vị sanh khởi ra sao?”
Một vị Thiên Tử đáp:
“Từ bây giờ, tâm của tôi rộn ràng như trống trận, không thể nào im lặng được”
Vị thứ hai đáp: “Tâm của tôi cuồn cuộn chảy nhanh như thác đổ”
Vị thứ ba nói: “Từ lúc thấy nàng nầy, cặp mắt tôi lồi ra như cua”
Vị thứ tư đáp: “Tâm của tôi thì giống như phướn treo trên Thánh tháp, không thể nào đứng yên được”
Đức Đế Thích bèn nói với bốn vị Thiên tử:
“Quí vị ơi! Tâm của quí vị thật là nồng nhiệt. Tuy nhiên đối với Trẫm, nếu được Thiên nữ nầy Trẫm mới sống, còn không được thì Trẫm sẽ băng hà.”
Chư thiên đồng thanh: “Tâu Đại Vương, Ngài không cần phải chết”. Nói rồi, họ nhường thiên nữ lại cho Đức Đế Thích và ra đi.
Thiên nữ là người yêu mến của Đức Đế Thích. Mỗi khi nàng đề nghị:
- Chúng ta hãy đi dự cuộc vui đó.
Đức Đế Thích không thể nào từ chối, bác bỏ lời nói của nàng.
Vì nhân hại vũ nữ sần mình
Thích nữ không ngờ quả lác sinh
Xấu mặt, ngẩn mừng Tăng Đại Đức
Hổ mày gặp Phật cao minh
Quét chùa tẩy sạch lòng sân hận
Dọn cốc trừ tan ý ghét ganh
Sắc đẹp khi lên trời Đạo Lợi
Làm Vua Đế Thích cũng si tình…
DỨT TÍCH THÍCH NỮ ROHÍNĪ
Rohinīkhattiyakaññāvatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Kodhaṃ jaheti imaṃ dhammadesanaṃ satthā nigrodhārāme viharanto rohiniṃ nāma khattiyakaññaṃ ārabbha kathesi.
Ekasmiṃ kira samaye āyasmā anuruddho pañcasatehi bhikkhūhi saddhiṃ kapilavatthuṃ agamāsi. Athassa ñātakā “thero āgato”ti sutvā therassa santikaṃ agamaṃsu ṭhapetvā rohiniṃ nāma therassa bhaginiṃ. Thero ñātake pucchi “kahaṃ, rohinī”ti? “Gehe, bhante”ti. “Kasmā idha nāgatā”ti? “Sarīre tassā chavirogo uppannoti lajjāya nāgatā, bhante”ti. Thero “pakkosatha na”nti pakkosāpetvā paṭakañcukaṃ paṭimuñcitvā āgataṃ evamāha – “rohini, kasmā nāgatāsī”ti? “Sarīre me, bhante, chavirogo uppanno, tasmā lajjāya nāgatāmhī”ti. “Kiṃ pana te puññaṃ kātuṃ na vaṭṭatī”ti? “Kiṃ karomi, bhante”ti? “Āsanasālaṃ kārehī”ti. “Kiṃ gahetvā”ti? “Kiṃ te pasādhanabhaṇḍakaṃ natthī”ti? “Atthi, bhante”ti. “Kiṃ mūla”nti? “Dasasahassamūlaṃ bhavissatī”ti. “Tena hi taṃ vissajjetvā āsanasālaṃ kārehī”ti. “Ko me, bhante, kāressatī”ti? Thero samīpe ṭhitañātake oloketvā “tumhākaṃ bhāro hotū”ti āha. “Tumhe pana, bhante, kiṃ karissathā”ti? “Ahampi idheva bhavissāmī”ti. “Tena hi etissā dabbasambhāre āharathā”ti. Te “sādhu, bhante”ti āhariṃsu.
Thero āsanasālaṃ saṃvidahanto rohiniṃ āha – “dvibhūmikaṃ āsanasālaṃ kāretvā upari padarānaṃ dinnakālato paṭṭhāya heṭṭhāsālaṃ nibaddhaṃ sammajjitvā āsanāni paññāpehi, nibaddhaṃ pānīyaghaṭe upaṭṭhāpehī”ti. Sā “sādhu, bhante”ti pasādhanabhaṇḍakaṃ vissajjetvā dvibhūmikaāsanasālaṃ kāretvā upari padarānaṃ dinnakālato paṭṭhāya heṭṭhāsālaṃ sammajjanādīni akāsi. Nibaddhaṃ bhikkhū nisīdanti. Athassā āsanasālaṃ sammajjantiyāva chavirogo milāyi. Sā āsanasālāya niṭṭhitāya buddhappamukhaṃ bhikkhusaṅghaṃ nimantetvā āsanasālaṃ pūretvā nisinnassa buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa paṇītaṃ khādanīyaṃ bhojanīyaṃ adāsi. Satthā katabhattakicco “kassetaṃ dāna”nti pucchi. “Bhaginiyā me, bhante, rohiniyā”ti. “Sā pana kaha”nti? “Gehe, bhante”ti. “Pakkosatha na”nti? Sā āgantuṃ na icchi. Atha naṃ satthā anicchamānampi pakkosāpesiyeva. Āgantvā ca pana vanditvā nisinnaṃ āha – “rohini, kasmā nāgamitthā”ti? “Sarīre me, bhante, chavirogo atthi, tena lajjamānā nāgatāmhī”ti. “Jānāsi pana kiṃ te nissāya esa uppanno”ti? “Na jānāmi, bhante”ti. “Tava kodhaṃ nissāya uppanno eso”ti. “Kiṃ pana me, bhante, kata”nti? “Tena hi suṇāhī”ti. Athassā satthā atītaṃ āhari.
Atīte bārāṇasirañño aggamahesī ekissā rañño nāṭakitthiyā āghātaṃ bandhitvā “dukkhamassā uppādessāmī”ti cintetvā mahākacchuphalāni āharāpetvā taṃ nāṭakitthiṃ attano santikaṃ pakkosāpetvā yathā sā na jānāti, evamassā sayane ceva pāvārakojavādīnañca antaresu kacchucuṇṇāni ṭhapāpesi, keḷiṃ kurumānā viya tassā sarīrepi okiri. Taṃ khaṇaṃyeva tassā sarīraṃ uppakkuppakkaṃ gaṇḍāgaṇḍajātaṃ ahosi. Sā kaṇḍuvantī gantvā sayane nipajji, tatrāpissā kacchucuṇṇehi khādiyamānāya kharatarā vedanā uppajji. Tadā aggamahesī rohinī ahosīti.
Satthā imaṃ atītaṃ āharitvā, “rohini, tadā tayāvetaṃ kammaṃ kataṃ. Appamattakopi hi kodho vā issā vā kātuṃ na yuttarūpo evā”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Kodhaṃ jahe vippajaheyya mānaṃ,
Saṃyojanaṃ sabbamatikkameyya;
Taṃ nāmarūpasmimasajjamānaṃ,
Akiñcanaṃ nānupatanti dukkhā”ti.
Tattha kodhanti sabbākārampi kodhaṃ navavidhampi mānaṃ jaheyya. Saṃyojananti kāmarāgasaṃyojanādikaṃ dasavidhampi sabbasaṃyojanaṃ atikkameyya. Asajjamānanti alaggamānaṃ. Yo hi “mama rūpaṃ mama vedanā”tiādinā nayena nāmarūpaṃ paṭiggaṇhāti, tasmiñca bhijjamāne socati vihaññati, ayaṃ nāmarūpasmiṃ sajjati nāma. Evaṃ aggaṇhanto avihaññanto na sajjati nāma. Taṃ puggalaṃ evaṃ asajjamānaṃ rāgādīnaṃ abhāvena akiñcanaṃ dukkhā nāma nānupatantīti attho. Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti. Rohinīpi sotāpattiphale patiṭṭhitā, taṅkhaṇaññevassā sarīraṃ suvaṇṇavaṇṇaṃ ahosi.
Sā tato cutā tāvatiṃsabhavane catunnaṃ devaputtānaṃ sīmantare nibbattitvā pāsādikā rūpasobhaggappattā ahosi. Cattāropi devaputtā taṃ disvā uppannasinehā hutvā “mama sīmāya anto nibbattā, mama sīmāya anto nibbattā”ti vivadantā sakkassa devarañño santikaṃ gantvā, “deva, imaṃ no nissāya aḍḍo uppanno, taṃ vinicchināthā”ti āhaṃsu. Sakkopi taṃ oloketvāva uppannasineho hutvā evamāha – “imāya vo diṭṭhakālato paṭṭhāya kathaṃ cittāni uppannānī”ti. Atheko āha – “mama tāva uppannacittaṃ saṅgāmabheri viya sannisīdituṃ nāsakkhī”ti. Dutiyo “mama cittaṃ pabbatanadī viya sīghaṃ pavattatiyevā”ti. Tatiyo “mama imissā diṭṭhakālato paṭṭhāya kakkaṭassa viya akkhīni nikkhamiṃsū”ti. Catuttho “mama cittaṃ cetiye ussāpitadhajo viya niccalaṃ ṭhātuṃ nāsakkhī”ti. Atha ne sakko āha – “tātā, tumhākaṃ tāva cittāni pasayharūpāni, ahaṃ pana imaṃ labhanto jīvissāmi, alabhantassa me maraṇaṃ bhavissatī”ti. Devaputtā, “mahārāja, tumhākaṃ maraṇena attho natthī”ti taṃ sakkassa vissajjetvā pakkamiṃsu. Sā sakkassa piyā ahosi manāpā. “Asukakīḷaṃ nāma gacchāmā”ti vutte sakko tassā vacanaṃ paṭikkhipituṃ nāsakkhīti.
Rohinīkhattiyakaññāvatthu paṭhamaṃ.
XVII. 1. How Anger marred a Maiden’s Looks
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
221. One should put away anger; one should utterly renounce pride; one should overcome every attachment.
He who clings not to Name and Form, and is free from attachment, is not beset with pain.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Banyan Grove with reference to the Khattiya maiden Rohiṇī.
1 a. The maiden with blotches on her face
The story goes that once upon a time Venerable Anuruddha went with his retinue of five hundred monks to Kapilavatthu. When the Elder’s kinsfolk heard that he had arrived, all except the Elder’s sister, a maiden named Rohiṇī, went to the monastery where the Elder was in residence and paid their respects to him. The Elder asked his kinsfolk, “Where is Rohiṇī?” “At home, Reverend Sir.” “Why did she not come here?” “Reverend Sir, she is suffering from an eruption of the skin, and on this account was ashamed to come.” The Elder caused her to be summoned, saying, “Summon her immediately.” Rohiṇī fastened a covering of cloth about her face and went to the Elder.
When she came into his presence, the Elder asked her, “Rohiṇī, why did you not come here before?” “Reverend Sir, I am suffering from an eruption of the skin, and on this account I was ashamed to come.” “But ought you not to perform works of merit?” “What can I do, Reverend Sir?” “Cause an assembly-hall to be erected.” “What funds have I to use for this purpose?” “Have you not a set of jewels?” “Yes, Reverend Sir, I have.” “How much did it cost?” “It must have cost ten thousand pieces of money.” “Well then, spend this in building an assembly-hall.” “Who will build it for me, Reverend Sir?” The Elder looked at her kinsfolk who stood near and said, “This shall be your duty.” “But, Reverend Sir, what will you do?” “I shall stay right here; therefore bring her the building materials.” “Very well, Reverend Sir,” said they, and brought them.
The Elder superintended the arrangements for the erection of the assembly-hall. Said he to Rohiṇī, “Cause an assembly-hall two stories in height to be erected and as soon as the planks are put in place above, you take your stand below, sweep constantly, prepare seats, and keep the water-vessels filled with water.” “Very well, Reverend Sir,” replied Rohiṇī. So she spent her set of jewels in the erection of an assembly-hall two stories in height. As soon as the planks were put in place above, she took her stand below, swept, and performed the other duties, and monks sat therein constantly. Even as she swept the assembly-hall, the eruption subsided.
When the assembly-hall was completed, she invited the Congregation of Monks presided over by the Buddha; and when the Congregation of Monks presided over by the Buddha had taken their seats, filling the assembly-hall, she offered them choice food, both hard and soft. When the Teacher finished his meal, he asked, “Whose is this offering?” “Your sister Rohiṇī’s, Reverend Sir.” “But where is she?” “In the house, Reverend Sir.” “Summon her.” She was unwilling to go. But in spite of her unwillingness, the Teacher caused her to be summoned all the same. When she had come and saluted him and taken her seat, the Teacher said to her, “Rohiṇī, why did you not come before?” “Reverend Sir, I was suffering from an eruption of the skin and was ashamed to come.” “But do you know the reason why this eruption of the skin broke out on your body?” “No, Reverend Sir, I do not.” “It was because of anger that this eruption of the skin broke out on your body.” “Why, Reverend Sir, what did I do?” “Well then, listen,” said the Teacher. So saying, he told her the following
1 b. Story of the Past: The jealous queen and the nautch-girl
In times long past, the chief consort of the king of Benāres took a dislike to one of the king’s nautch-girls and said to herself, “I will make her suffer.” So she procured a number of large ripe scabs, reduced them to powder, and summoning that nautch-girl to her, contrived secretly to place the powdered scabs in her bed and cloak and her goats’ hair coverlet. Then, as if in fun, she sprinkled some of the powder on her body. Immediately the girl’s body became covered with pimples and boils so as to have a horridly angry look, and she went about scratching herself. When she lay down on her bed, there too the powdered scabs ate her up, and she suffered yet harsher pain. The chief consort at that time was Rohiṇī. End of Story of the Past.
When the Teacher had related this Story of the Past, he said, “Rohiṇī, that was the evil deed which you committed at that time. Anger or jealousy, however slight, is always unbecoming.” So saying, he pronounced the following Stanza,
221. One should put away anger; one should utterly renounce pride; one should overcome every attachment.
He who clings not to Name and Form, and is free from attachment, is not beset with pain.
At the conclusion of the lesson many obtained the Fruit of Conversion and the Fruits of the Second and Third Paths. Rohiṇī also was established in the Fruit of Conversion, and at that moment her body took on a golden hue.
1 c. Sequel: The celestial nymph
Rohiṇī passed from that state of existence and was reborn in the Abode of the Thirty-three at the meeting-point of the boundaries of four deities. Fair to look upon was she, and possessed of the perfection of beauty. When the four deities looked upon her, desire arose within them, and they began to quarrel over her, saying, “She was reborn within my boundary, she was reborn within my boundary.” Finally they went to Sakka king of gods and said to him, “Sire, a dispute has arisen among us over this nymph; decide the dispute for us.” When Sakka looked at the nymph, desire arose within him also. Said he, “What manner of thoughts have arisen within you since you saw this nymph?” The first deity said, “As for me, the thoughts which have arisen within me have no more been able to subside than a battle-drum.” The second said, “My thoughts have run wild like a mountain torrent.” The third said, “From the time I first saw this nymph, my eyes have popped out like the eyes of a crab.” The fourth said, “My thoughts have no more been able to stand still than a banner raised on a shrine.” Then Sakka said to them, “Friends, as for you, your thoughts are on fire. For my part, if I can have this nymph, I can live, but if I cannot have her, I shall surely die.” The deities replied, “Great king, there is no need of your dying.” So saying, they yielded the nymph to Sakka and went their way. She was Sakka’s darling and delight. If she ever said, “Let us go engage in such and such sport,” he could not refuse her.
- Text: N iii. 295-299.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.