Chú giải Pháp Cú · Kệ 222 · Dhp 222

Tích Tỳ Khưu Đốn Cây Rừng

Aññatarabhikkhuvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 222 Kinh Pháp Cú, phẩm Phẫn Nộ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 222)

“Yo ve uppatitaṃ kodhaṃ,
Rathaṃ bhantaṃva vāraye,
Tamahaṃ sārathiṃ brūmi,
Rasmiggāho itaro jano.”

“Ai chận được phẫn nộ,
Như dừng xe đang lăn,
Ta gọi người đánh xe,
Kẻ khác, cầm cương hờ.”
(Ngài HT Minh Châu)

Kệ ngôn nầy được Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài ngự tại Tháp Aggālava, đề cập đến một vị Tỳ Khưu nọ.

Từ khi Đức Thế Tôn cho phép chư Tỳ Khưu Tăng ngụ trong các cốc ngoài ranh chùa, các thí chủ nhất là các Trưởng giả ở thành Vương Xá (Rājagaha) lo xây cất cốc cúng dường, một vị Tỳ Khưu ở Alāvī quyết định tự mình cất cốc cho mình, vị ấy tìm thấy một cây rừng thích hợp, nên đốn hạ cây ấy. Nơi ấy là nơi trú ngụ của một vị thiên nữ, nàng có một đứa con trai còn bé thơ. Thiên nữ ẫm con, hiện ra trước mặt vị Tỳ Khưu, yêu cầu rằng:

- Thưa chủ! Xin chủ đừng đốn phá đền đài của tôi. Tôi không thể ẫm con đi lang thang vì không có chỗ trú ngụ được.

- Ta không thể nào tìm được cây khác tốt bằng cây nầy được.

Rồi không cần đếm xỉa gì đến lời của Thiên nữ, vị ấy tiếp tục đốn cây, Thiên nữ suy nghĩ: “Nếu nhìn thấy đứa bé nầy, chắc Ngài sẽ dừng tay”. Cô bèn để đứa con trai mình nằm trên nhánh cây. Tuy nhiên vị Tỳ Khưu vung búa lên rồi, và không thể điều khiển kềm lại được, theo đà búa đã chặt đứt cánh tay đứa bé. Thiên nữ nổi giận dữ dội, đưa cao hai tay định đập chết vị Tỳ Khưu, nhưng nàng tự nghĩ:

- Tỳ Khưu nầy là người có giới đức, nếu ta giết chết người, ta sẽ phải rơi vào địa ngục. Vả lại, khi ấy các thọ thần khác thấy vậy sẽ theo gương nầy, sẽ tự nhủ khi thấy có Tỳ Khưu đống cây của mình rằng: “Đã có một Thọ thấn đó, giết chết vị Tỳ Khưu trong trường hợp như vầy rồi”, rồi họ sẽ sát hạt Tỳ Khưu. Vả lại, Tỳ Khưu nầy là người có chủ, vậy ta hãy đem chuyện nầy nói lại cho chủ của ông ta.

Khi hạ tay xuống, nữ Thọ thần vừa đi vừa khóc, đến đảnh lễ Đức Bổn Sư rồi đứng nép qua một bên. Đức Bổn Sư bèn hỏi Thọ thần rằng:

- Có chuyện gì thế, nầy Thiên nữ.

- Bạch Ngài! Một vị Thinh Văn của Ngài đã làm như thế nầy, thế nầy. Con nổi giận toan giết ông ta, nhưng con suy nghĩ lại, dằn tâm sân hận xuống và đi đến đây trình lên Ngài.

Vị nữ Thọ thần thuật lại trọn vẹn câu chuyện lên Đức Thế Tôn, nghe xong Đức Thế Tôn phán rằng:

- Lành thay! Lành thay! Nầy Thiên nữ, việc nàng dằn được tâm sân đang khởi lên như thế, ví như người kềm chế được chiếc xe đang chạy nhanh, thật là tốt đẹp vậy.

Nói rồi, Ngài ngâm lên kệ ngôn rằng:

“Yo ve uppatitaṃ kodhaṃ,
Rathaṃ bhantaṃva vāraye,
Tamahaṃ sārathiṃ brūmi,

“Ai chận được phẫn nộ,
Như dừng xe đang lăn,
Ta gọi người đánh xe,

Rasmiggāho itaro jano.”

Kẻ khác, cầm cương hờ.”
(Ngài HT Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Uppatitaṃ: Uppannaṃ: đã nổi dậy, đã sanh khởi.

Rathaṃ bhantaṃva: Ví như người đánh xe thông thạo có thể thắng đứng chiếc xe đang chạy rất mau tùy theo ý muốn như thế nào, thì người nào có thể kềm hãm lại được cơn giận dữ đang nổi dậy cũng như thế ấy.

Tamahaṃ: Người ấy, Ta gọi là người đánh xe.
Itaro jano: Người khác, chẳng hạn như Quốc

Vương, Phó Vương tuy cũng là người đánh xe, nhưng chỉ xứng đáng là kẻ cầm cương thôi, không phải là người đánh xe thiện xảo.

Cuối thời Pháp, nàng Thiên nữ chứng đạt Thánh Quả Dự Lưu, tứ chúng hiện diện cũng được nhiều lợi ích khi nghe Pháp.

Mặc dầu chứng quả Tu Đà Hườn, nhưng Thiên nữ vẫn đứng khóc. Đức Bổn Sư hỏi nàng:

- Nầy Thiên nữ, cái gì thế?

- Bạch Ngài! Đền đài của con đã tan nát, bây giờ con sẽ làm gì đây?

- Được rồi, Thiên nữ đừng bi lụy nữa. Ta sẽ cho cô một ngôi đền để ở, Ngài chỉ một cây Đại thọ trong vòng chùa Kỳ Viên, gần Hương thất mà vị Thọ thần nơi ấy vừa mệnh chung hôm qua, nói rằng:

- Ở nơi ấy, là nơi trú của cô, là nơi cô tịch với nàng vậy.

Nữ thọ thần vui mừng đến nơi ấy. Từ đó về sau, Chư Thiên Đại Thần lực có đến cũng không dám chiếm đoạt nơi trú của nàng, vì biết rằng ngôi đến nầy được Đức Thế Tôn ban cho nàng Thiên nữ ấy.

Nhân dịp nầy, Đức Thế Tôn chế định học giới, cấm các Tỳ Khưu phá hoại thảo mộc.

Luật cấm Tỳ Khưu việc đốn cây
Trước tiên, phạm lỗi tại ông nầy
Con thần bé bỏng đang nằm đó
Búa bén to sầm vụt chém đây
Nhờ tỉnh, dằn tâm thưa thẳng Phật
Nếu mê, nổi giận giết ngay Thầy…
Oan gia ráng mở đừng nên buộc
Trong rủi làm sao cũng có may.

DỨT TÍCH TỲ KHƯU ĐỐN CÂY RỪNG

Aññatarabhikkhuvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Yo ve uppatitanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā aggāḷave cetiye viharanto aññataraṃ bhikkhuṃ ārabbha kathesi.

Satthārā hi bhikkhusaṅghassa senāsane anuññāte rājagahaseṭṭhiādīhi senāsanesu kariyamānesu eko āḷaviko bhikkhu attano senāsanaṃ karonto ekaṃ manāparukkhaṃ disvā chindituṃ ārabhi. Tattha pana nibbattā ekā taruṇaputtā devatā puttaṃ aṅkenādāya ṭhitā yāci “mā me, sāmi, vimānaṃ chindi, na sakkhissāmi puttaṃ ādāya anāvāsā vicaritu”nti. So “ahaṃ aññatra īdisaṃ rukkhaṃ na labhissāmī”ti tassā vacanaṃ nādiyi. Sā “imampi tāva dārakaṃ oloketvā oramissatī”ti puttaṃ rukkhasākhāya ṭhapesi. Sopi bhikkhu ukkhipitaṃ pharasuṃ sandhāretuṃ asakkonto dārakassa bāhuṃ chindi, devatā uppannabalavakodhā “paharitvā naṃ māressāmī”ti ubho hatthe ukkhipitvā evaṃ tāva cintesi – “ayaṃ bhikkhu sīlavā. Sacāhaṃ imaṃ māressāmi, nirayagāminī bhavissāmi. Sesadevatāpi attano rukkhaṃ chindante bhikkhū disvā ‘asukadevatāya evaṃ nāma mārito bhikkhū’ti maṃ pamāṇaṃ katvā bhikkhū māressanti. Ayañca sasāmiko bhikkhu, sāmikasseva naṃ kathessāmī”ti ukkhittahatthe apanetvā rodamānā satthu santikaṃ gantvā vanditvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Atha naṃ satthā “kiṃ devate”ti āha. Sā, “bhante, tumhākaṃ me sāvakena idaṃ nāma kataṃ, ahampi naṃ māretukāmā hutvā idaṃ nāma cintetvā amāretvāva idhāgatā”ti sabbaṃ taṃ pavattiṃ vitthārato ārocesi.

Satthā taṃ sutvā “sādhu, sādhu devate, sādhu te kataṃ evaṃ uggataṃ kopaṃ bhantaṃ rathaṃ viya niggaṇhamānāyā”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Yo ve uppatitaṃ kodhaṃ, rathaṃ bhantaṃva vāraye;
Tamahaṃ sārathiṃ brūmi, rasmiggāho itaro jano”ti.

Tattha uppatitanti uppannaṃ. Rathaṃ bhantaṃ vāti yathā nāma cheko sārathi ativegena dhāvantaṃ rathaṃ niggaṇhitvā yathicchakaṃ ṭhapeti, evaṃ yo puggalo uppannaṃ kodhaṃ vāraye niggaṇhituṃ sakkoti. Tamahanti taṃ ahaṃ sārathiṃ brūmi. Itaro janoti itaro pana rājauparājādīnaṃ rathasārathijano rasmiggāho nāma hoti, na uttamasārathīti.

Desanāvasāne devatā sotāpattiphale patiṭṭhahi, sampattaparisāyapi sātthikā dhammadesanā ahosīti.

Devatā pana sotāpannā hutvāpi rodamānā aṭṭhāsi. Atha naṃ satthā “kiṃ devate”ti pucchitvā, “bhante, vimānaṃ me naṭṭhaṃ, idāni kiṃ karissāmī”ti vutte, “alaṃ devate, mā cintayi, ahaṃ te vimānaṃ dassāmī”ti jetavane gandhakuṭisamīpe purimadivase cutadevataṃ ekaṃ rukkhaṃ apadisanto “amukasmiṃ okāse rukkho vivitto, tattha upagacchā”ti āha. Sā tattha upagañchi. Tato paṭṭhāya “buddhadattiyaṃ imissā vimāna”nti mahesakkhadevatāpi āgantvā taṃ cāletuṃ nāsakkhiṃsu. Satthā taṃ atthuppattiṃ katvā bhikkhūnaṃ bhūtagāmasikkhāpadaṃ paññāpesīti.

Aññatarabhikkhuvatthu dutiyaṃ.

XVII. 2. The Tree-Spirit and the Monk

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

222. Whoever controls his anger like a swift-speeding chariot, when it is aroused, –
Him I call a charioteer; other folk are merely holders of reins.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Aggāḷava Shrine with reference to a certain monk.

For after the Teacher had given permission to the Congregation of Monks to lodge without the walls of the monastery, and while the treasurer of Rājagaha and others were busy providing such lodgings, a certain monk of Āḷavi decided to build himself a lodging, and seeing a tree which suited him, began to cut it down. Thereupon a certain spirit who had been reborn in that tree, and who had an infant child, appeared before the monk, carrying her child on her hip, and begged him not to cut down the trees, saying, “Master, do not cut down my home; it will be impossible for me to take my child and wander about without a home.” But the monk said, “I shall not be able to find another tree like this,” and paid no further attention to what she said.

The tree-spirit thought to herself, “If he but look upon this child, he will desist,” and placed the child on a branch of the tree. The monk, however, had already swung his axe, was unable to check the force of his upraised axe, and cut off the arm of the child. Furious with anger, the tree-spirit raised both her hands and exclaimed, “I will strike him dead.” In an instant, however, the thought came to her, “This monk is a righteous man; if I kill him, I shall go to Hell. Moreover, if other tree-spirits see monks cutting down their own trees, they will say to themselves, ‘Such and such a tree-spirit killed a monk under such circumstances,’ and will follow my example and kill other monks. Besides, this monk has a master; I will therefore content myself with reporting this matter to his master.”

Lowering her upraised hands, she went weeping to the Teacher, and having saluted him, stood on one side. Said the Teacher, “What is the matter, tree-spirit?” The tree-spirit replied, “Reverend Sir, your disciple did this and that to me. I was sorely tempted to kill him, but I thought this and that, refrained from killing him, and came here.” So saying, she told him the story in all its details. When the Teacher heard her story, he said to her, “Well done, well done, spirit! you have done well in holding in, like a swift-speeding chariot, your anger when it was thus aroused.” So saying, he pronounced the following Stanza,

222. Whoever controls his anger like a swift-speeding chariot, when it is aroused, –
Him I call a charioteer; other folk are merely holders of reins.

At the conclusion of the lesson the tree-spirit was established in the Fruit of Conversion; the assembled company also profited by it.

But even after the tree-spirit had obtained the Fruit of Conversion, she stood weeping. The Teacher asked her, “What is the matter, tree-spirit?” “Reverend Sir,” she replied, “my home has been destroyed; what am I to do now? Said the Teacher, “Enough, tree-spirit; be not disturbed; I will give you a place of abode.” With these words he pointed out near the Perfumed Chamber at Jetavana a certain tree from which a tree-spirit had departed on the preceding day and said, “In such and such a place is a tree which stands by itself; enter therein.” Accordingly the tree-spirit entered into that tree. Thenceforth, because the tree-spirit had received her place of abode as a gift from the Buddha, although spirits of great power approached that tree, they were unable to shake it. The Teacher took this occasion to lay down and enjoin upon the monks the observance of the precept regarding the injuring of plants and trees.

  1. This story is derived from the Vinaya, Pācittiya, xi. 1: iv. 34. Text: N iii. 299-302.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này