Tích Thiện Nam Tản Thủ
Chattapāṇiupāsakavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 51–52 Kinh Pháp Cú, phẩm Hoa, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 51-52)
“Yathā’pi ruciraṃ pupphaṃ,
Vaṇṇavantaṃ agandhakaṃ;
Evaṃ subhāsitā vācā,
Aphalā hoti akubbato.”
“Như đóa hoa tươi đẹp,
Có sắc chẳng mùi thơm.
Như lời nói tuy đẹp,
Không hành chẳng quả đơm.”
“Yathā’pi ruciraṃ pupphaṃ,
Vaṇṇvantaṃ sagandhakaṃ;
Evaṃ subhāsitā vācā,
Saphalā hoti sakubbato.”
“Như đóa hoa tươi đẹp,
Có sắc có mùi thơm.
Như lời nói đã đẹp,
Có hành quả chắc đơm.”
Kệ Pháp Cú (51 – 52) nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài an ngự tại Tinh xá Jetavana, gần thành Sāvatthī đề cập đến thiện nam Chattapāṇi (Tản Thủ).
Quả thật vậy, vào thời ấy ở thành Sāvatthī có vị cận sự nam tên là Chattapāṇi đắc A Na Hàm và thông suốt Tam tạng.
Một buổi sáng nọ, sau khi thọ giới Bát quan, ông ấy đến hầu cận với Đức Thế Tôn, dĩ nhiên là chư Thánh Thinh Văn A Na Hàm thì không cần giữ giới Bát quan trai, vì các vị ấy giữ tròn phạm hạnh và không còn ăn sái giờ nữa. Do đó, có Phật ngôn: “Tâu đại vương! Dầu là người thợ làm chén, làm đồ gốm nhưng nếu ăn một ngày một bữa và giữ phạm hạnh tròn, thì cũng là bậc có giới đức, có thiện pháp, ví như vị A Na Hàm luôn luôn ăn ngày một bữa và giữ tròn phạm hạnh vậy!”.
Tuy nhiên, cận sự nam Chattapāṇi cũng theo lệ thọ trì Bát quan trai giới, rồi đến gần Đức Bổn Sư, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên nghe thuyết pháp.
Ngay lúc bấy giờ, quốc vương Pasenadi Kosala cũng ngự đến hầu Đức Bổn Sư.
Thấy quốc vương đến, ông cận sự nam nghĩ thầm: “Ta có nên đứng dậy hay không ?”, ông xét thấy rằng: “Ta đang ngồi chầu một vị Hoàng đế mà đứng lên chào một vua chư hầu thì không phải phép. Dầu cho quốc vương có thấy ta không đứng dậy tiếp rước mà giận dữ, ta cũng đành để cho quốc vương giận, chớ ta không đứng dậy. Quả nhiên, nếu thấy các vua mà đứng dậy thì quí trọng đức vua hơn Đức Bổn Sư hay sao? Thôi ta nhất định không đứng.”. Thế rồi, ông cận sự nam ngồi yên như cũ.
Các bậc hiền trí không bao giờ giận người đang ngồi gần vị cao quí hơn mình, khi người nầy thấy mình mà không đứng dậy. Nhưng quốc vương thấy ông Chattapāṇi không đứng dậy chào mình, nghinh tiếp mình, thì lại bất bình, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi nép qua một bên, Đức Bổn Sư biết đức vua đang giận, bèn đề cao ông thiện nam rằng:
- Tâu đại vương! Cận sự nam Chattapāṇi nầy là bậc hiền giả, bậc lịch sự, thông suốt Tam tạng Pháp bảo, hiểu rành các điều hữu ích và vô ích.
Quốc vương nghe Đức Bổn Sư ca tụng cận sự nam với ân đức thù diệu thời mới nguôi cơn giận và phát tâm hoan hỷ.
Sau đó, một hôm quốc vương đã thọ thực xong, đang đứng trên lầu cao trong cung đình, trông thấy thiện nam Chattapāṇi, tay cầm dù chân mang dép tiến lên sân ngự, bèn cho quân hầu gọi ông vào đền, ông bỏ dù, cởi dép, đến gần đảnh lễ quốc vương, rồi đứng nép qua một bên. Quốc vương phán hỏi:
- Nẩy khanh cận sự nam, sao khanh lại bỏ dù, cởi dép chi vậy?
- Tâu bệ hạ! Vì nghe có lịnh quốc vương dời, nên thần dân bỏ dù cởi dép ra mà vào hầu bệ hạ.
- Chắc hôm nay khanh mới nhận biết trẫm là quốc vương phải không ?
- Tâu bệ hạ! Thần dân chúng tôi lúc nào cũng nhận biết bệ hạ là quốc vương luôn luôn.
- Nếu nói như thế, tại sao ngày hôm nọ khanh ngồi bên Đức Thế Tôn, thấy trẫm đến sao khanh không đứng dậy?
- Tâu đại vương! Như người đang ngồi chầu Đức hoàng đế mà trông thấy các vua chư hầu, nếu thần dân đứng dậy lúc ấy hóa ra bất kính thất lễ đối với Đức Bổn Sư. Vì vậy mà thần dân không đứng dậy.
- Khanh nói cũng hữu lý, trẫm nghe nói khanh là bậc hiểu rành các sự lợi và bất lợi trong kiếp hiện tại và những kiếp vị lai, thông suốt Tam tạng kinh điển, vậy khanh hãy thuyết pháp ngay trong hậu cung đình cho trẫm nghe.
- Tâu bệ hạ, không được.
- Vì lý do nào?
- Tâu bệ hạ, chốn cung đình thâm nghiêm trang trọng, có nhiều nghi thức phiền phức, thần dân không dám phạm thượng.
- Khanh chớ nói như thế, bữa hôm trước khanh trông thấy trẫm còn không đứng dậy chào, bây giờ đừng e ngại gì cả.
- Tâu bệ hạ, người cư sĩ tại gia mà vượt quá phận sự của mình đảm nhiệm làm phận sự của Tăng thì mang lỗi. Xin bệ hạ hãy cho triệu thỉnh một bậc xuất gia vào đây thuyết pháp.
Quốc vương phán: “Lành thay, thôi khanh đi đi.”.
Cho phép cận sự nam đi rồi, quốc vương ngự đến yết kiến Đức Thế Tôn và yêu cầu:
- Bạch Ngài, hoàng hậu Mallikā và hoàng hậu Vāsabhakhattiya ngỏ lời muốn ôn nhuần các bài pháp. Xin thỉnh Ngài với năm trăm Tỳ khưu thường nhật vào hoàng cung thuyết giảng cho họ nghe.
- Tâu đức vua, chư Phật không bao giờ đến mãi một nơi nào.
- Bạch Ngài, nếu vậy xin Ngài phái một vị Tỳ khưu khác cũng được.
Đức Bổn Sư bèn giao trọng trách ấy cho Đại đức Ānanda. Đại đức hằng ngày vào thâm cung giảng dạy kinh điển cho hai hoàng hậu. Trong hai bà, bà Mallikā chăm chỉ học tập nên thuộc lòng được các kinh tụng. Bà Vāsabhakhattiya trái lại không chăm chỉ học tập cho nên không thể thuộc lòng được các kinh tụng. Một hôm, Đức Bổn Sư phán hỏi Đại đức:
- Nầy Ānanda! Hai tín nữ ấy có ôn thuần kinh pháp hay không?
- Bạch Ngài, có.
- Người nào chăm chỉ học tập?
- Bạch Ngài, hoàng hậu Mallikā chăm chỉ học tập cho nên có thể nhập tâm được các bài kinh tụng một cách hoàn toàn. Còn bà quyến thuộc của Ngài không chăm chỉ học tập nên không thể nhập tâm kinh tụng một cách mỹ mãn.
Nghe Đại đức trình bày, Đức Bổn Sư kết luận:
- Nầy Ānanda! Pháp của ta thuyết giảng kẻ nào
không nghe, không học, không tập, không thuyết thì không được kết quả gì. Ví như thứ hoa hữu sắc vô hương. Còn kẻ nào ráng nghe, ráng học, ráng tập, ráng thuyết thì sẽ gặt hái nhiều kết quả, hưởng được phước báu to tát.
Nói rồi Đức Bổn Sư ngâm hai bài kệ sau đây:
“Yathā’pi ruciraṃ pupphaṃ,
Vaṇṇavantaṃ agandhakaṃ;
Evaṃ subhāsitā vācā,
Aphalā hoti akubbato.”
“Như hoa sắc đẹp có thừa,
Mùi thơm chẳng có thì chưa quí gì?
Lời lành thuyết để mà chi?
Nếu không cố gắng thực thi việc lành.”
“Yathā’pi ruciraṃ pupphaṃ,
Vaṇṇavantaṃ sagandhakaṃ;
Evaṃ subhāsitā vācā,
Saphalā hoti sakubbato.”
“Như hoa tươi tốt trên cành,
Sắc hương thắm đượm lịch thanh đủ mùi.
Lời lành nếu đã thuyết rồi,
Làm lành kết quả an vui thấy liền.”
CHÚ GIẢI:
Trong bài kệ, Phạn ngữ ruciraṃ nghĩa là sáng sủa, đẹp đẽ, tươi tốt.
Vaṇṇavantaṃ: Là có đầy đủ màu sắc.
Agandhakaṃ: Là không có hương thơm, như nhiều
loại hoa ở rừng núi, trừ ra hoa lài, hoa sứ, hoa mẫu đơn.
Evaṃ subhāsitā vācā: Lời lành ở đây là Phật ngôn trong Tam tạng Pháp bảo, ví như loài hoa hữu sắc vô hương. Cũng như loại hoa vô hương nầy nếu có giắt, đeo trên thân mình cũng không thể tiết ra mùi thơm được. Các câu Phật ngôn cũng thế, ai không kính cẩn nghe, không kính cẩn thọ trì, tức là không làm điều đáng làm thì không có mùi thinh hương, thọ hương, hành hương, không có kết quả. Do đó, Phật dạy câu:
Lời lành thuyết để mà chi?
Nếu không cố gắng thực thi việc lành.
Sandhagankaṃ: Là có mùi thơm, không như tai
nấm, hoa lục bình, hoa rau muống… Cũng như thế ấy, ai mang, giắt những thứ hoa thơm trên mình thì thân mình xông ra mùi hương thơm tho dễ chịu, như người thực hành theo Phật ngôn trong Tam tạng Pháp bảo, tức là kính cẩn nghe, kính cẩn thọ trì, là làm việc nên làm thì sẽ gặt hái được nhiều phước báu vậy.
Bài kệ vừa dứt, nhiều vị Tỳ khưu chứng đắc Thánh quả, kỳ dư thính chúng đều được hưởng sự lợi ích.
Tản Thủ đa văn lại khéo hành,
Tại gia đắc quả đáng nêu danh.
Thấy vua, kỉnh Phật không rời chỗ,
Trọng pháp, nhường Tăng chẳng hợm mình.
Mạt Lê Viên, hoa đủ sắc hương,
Phật ngôn học tập hiểu tinh tường.
Dày công kính cẩn hành không mỏi,
Đáng được đời sau mãi tán dương!
Hòa Tát Ba thì chẳng dụng công,
Như hoa có sắc thiếu hương nồng.
Uổng mang tên tuổi Hoàng gia Thích,
Pháp học, hành chi cũng bất thông…
DỨT TÍCH THIỆN NAM CHATTAPĀṆI
Chattapāṇiupāsakavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Yathāpi ruciraṃ pupphanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā sāvatthiyaṃ viharanto chattapāṇiupāsakaṃ ārabbha kathesi.
Sāvatthiyañhi chattapāṇi nāma upāsako tipiṭakadharo anāgāmī. So pātova uposathiko hutvā satthu upaṭṭhānaṃ agamāsi. Anāgāmiariyasāvakānañhi samādānavasena uposathakammaṃ nāma natthi, maggeneva tesaṃ brahmacariyañca ekabhattikañca āgataṃ. Tenevāha – “ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro ekabhattiko brahmacārī sīlavā kalyāṇadhammo”ti (ma. ni. 2.288). Evaṃ anāgāmino pakatiyāva ekabhattikā ca brahmacārino ca honti. Sopi tatheva uposathiko hutvā satthāraṃ upasaṅkamitvā vanditvā dhammakathaṃ suṇanto nisīdi. Tasmiṃ samaye rājā pasenadi kosalo satthu upaṭṭhānaṃ agamāsi. Chattapāṇi upāsako taṃ āgacchantaṃ disvā “uṭṭhātabbaṃ nu kho, no”ti cintetvā – “ahaṃ aggarājassa santike nisinno, tassa me padesarājānaṃ disvā uṭṭhātuṃ na yuttaṃ, rājā kho pana me anuṭṭhahantassa kujjhissati, etasmiṃ kujjhantepi neva uṭṭhahissāmi. Rājānaṃ disvā uṭṭhahantena hi rājā garukato hoti, no satthā, tasmā neva uṭṭhahissāmī”ti na uṭṭhahi. Paṇḍitapurisā nāma garutarānaṃ santike nisīditvā anuṭṭhahantaṃ disvā na kujjhanti. Rājā pana taṃ anuṭṭhahantaṃ disvā kupitamānaso satthāraṃ vanditvā ekamantaṃ nisīdi. Satthā kupitabhāvaṃ ñatvā, “mahārāja, ayaṃ chattapāṇi upāsako paṇḍito diṭṭhadhammo tipiṭakadharo atthānatthakusalo”ti upāsakassa guṇaṃ kathesi. Rañño tassa guṇakathaṃ suṇantasseva cittaṃ mudukaṃ jātaṃ.
Athekadivasaṃ rājā uparipāsāde ṭhito chattapāṇiṃ upāsakaṃ katabhattakiccaṃ chattamādāya upāhanamāruyha rājaṅgaṇena gacchantaṃ disvā pakkosāpesi. So chattupāhanaṃ apanetvā rājānamupasaṅkamitvā vanditvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Atha naṃ rājā āha – “bho upāsaka, kinte chattupāhanaṃ apanīta”nti. “‘Rājā pakkosatī’ti sutvā apanetvā āgatomhī”ti. “Ajja amhākaṃ rājabhāvo tumhehi ñāto bhavissatī”ti. “Sadāpi mayaṃ, deva, tumhākaṃ rājabhāvaṃ jānāmā”ti. “Yadi evaṃ kasmā purimadivase satthu santike nisinno maṃ disvā na uṭṭhahī”ti? “Mahārāja, ahaṃ aggarājassa santike nisinno, padesarājānaṃ disvā uṭṭhahanto satthari agāravaṃ pavedeyyaṃ, tasmā na uṭṭhahi”nti. “Hotu, bho, tiṭṭhatetaṃ”. “Tumhe kira diṭṭhadhammikasamparāyikānaṃ atthānatthānaṃ kusalā tipiṭakadharā amhākaṃ antepure dhammaṃ vācethā”ti. “Na sakkomi, devā”ti. “Kiṃ kāraṇā”ti? “Rājagehaṃ nāma mahāsāvajjaṃ, duyuttasuyuttakāni garukānettha, devā”ti. “Mā evaṃ vadetha, ‘purimadivase maṃ disvā na uṭṭhitomhī’ti mā kukkuccaṃ karothā”ti. “Deva, gihīnaṃ vicaraṇaṭṭhānaṃ nāma mahāsāvajjaṃ, ekaṃ pabbajitaṃ pakkosāpetvā dhammaṃ vācāpethā”ti. Rājā “sādhu, bho, gacchatha tumhe”ti taṃ uyyojetvā satthu santikaṃ gantvā satthāraṃ yāci, “bhante, mallikā ca devī vāsabhakhattiyā ca dhammaṃ pariyāpuṇissāmāti vadanti, pañcahi bhikkhusatehi saddhiṃ nibaddhaṃ mama gehaṃ gantvā tāsaṃ dhammaṃ uddisathā”ti. “Buddhānaṃ nibaddhaṃ ekaṭṭhānagamanaṃ nāma natthi, mahārājā”ti. “Tena hi, bhante, aññaṃ ekaṃ bhikkhuṃ dethā”ti. Satthā ānandattherassa bhāramakāsi. Thero nibaddhaṃ gantvā tāsaṃ uddesaṃ uddisati. Tāsu mallikā sakkaccaṃ gahetvā sajjhāyitvā uddesaṃ paṭicchāpesi. Vāsabhakhattiyā pana neva sakkaccaṃ gaṇhāti, na sajjhāyati, na uddesaṃ paṭicchāpetuṃ sakkoti.
Athekadivasaṃ satthā theraṃ pucchi – “kimānanda, upāsikā dhammaṃ pariyāpuṇantī”ti? “Āma, bhante”ti. “Kā sakkaccaṃ gaṇhātī”ti? “Mallikā, bhante, sakkaccaṃ gaṇhāti, sakkaccaṃ sajjhāyati, sakkaccaṃ uddesaṃ paṭicchāpetuṃ sakkoti. Tumhākaṃ pana ñātidhītā neva sakkaccaṃ gaṇhāti, na sajjhāyati, na uddesaṃ paṭicchāpetuṃ sakkotī”ti. Satthā therassa vacanaṃ sutvā, “ānanda, mayā kathitadhammo nāma sakkaccamasuṇantassa aggaṇhantassa asajjhāyantassa adesentassa vaṇṇasampannaṃ agandhakapupphaṃ viya aphalo hoti, sakkaccaṃ pana savanādīni karontassa mahapphalo hoti mahānisaṃso”ti vatvā imā dve gāthā abhāsi –
“Yathāpi ruciraṃ pupphaṃ, vaṇṇavantaṃ agandhakaṃ;
Evaṃ subhāsitā vācā, aphalā hoti akubbato.
“Yathāpi ruciraṃ pupphaṃ, vaṇṇavantaṃ sagandhakaṃ;
Evaṃ subhāsitā vācā, saphalā hoti kubbato”ti.
Tattha ruciranti sobhanaṃ. Vaṇṇavantanti vaṇṇasaṇṭhānasampannaṃ, agandhakanti gandhavirahitaṃ pālibhaddakagirikaṇṇikajayasumanādibhedaṃ. Evaṃ subhāsitā vācāti subhāsitā vācā nāma tepiṭakaṃ buddhavacanaṃ. Taṃ vaṇṇasaṇṭhānasampannaṃ agandhakapupphasadisaṃ. Yathā pana agandhakapupphaṃ yo naṃ dhāreti, tassa sarīre gandhaṃ na pharati, evaṃ etampi yo naṃ sakkaccaṃ savanādīhi na samācarati, tassa sakkaccaṃ asamācarantassa yaṃ tattha kattabbaṃ, taṃ akubbato sutagandhañca vācāgandhañca paṭipattigandhañca na āvahati aphalā hoti. Tena vuttaṃ – “evaṃ subhāsitā vācā, aphalā hoti akubbato”ti. Sagandhakanti campakanīluppalādibhedaṃ. Evanti yathā taṃ pupphaṃ dhārentassa sarīre gandho pharati, evaṃ tepiṭakabuddhavacanasaṅkhātā subhāsitā vācāpi. Kubbatoti yo sakkaccaṃ savanādīhi tattha kattabbaṃ karoti, sā assa puggalassa saphalā hoti, sutagandhavācāgandhapaṭipattigandhānaṃ āvahanato mahapphalā hoti, mahānisaṃsāti attho.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pattā. Desanā mahājanassa sātthikā jātāti.
Chattapāṇiupāsakavatthu sattamaṃ.
IV. 7. The King and the King of Kings
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
51. Like a beautiful flower that possesses color but lacks perfume,
So well-spoken words are fruitless to him that doeth them not.
52. Like a beautiful flower that possesses both color and perfume,
So well-spoken words are fruitful to him that doeth them.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Sāvatthi with reference to the lay disciple Chattapāṇi.
For at Sāvatthi lived a lay disciple named Chattapāṇi, versed in the Tipiṭaka, enjoying the Fruit of the Second Path. Early one morning, in observance of Fast-day, he went to pay his respects to the Teacher. (For those who enjoy the Fruition of the Second Path and those who are Noble Disciples, by reason of their previous undertaking, do not take upon themselves the obligations of Fast-day. Such persons, solely by virtue of the Path, lead the holy life and eat but one meal a day. Therefore said the Exalted One, “Great king, Ghaṭīkāra the potter eats but one meal a day, leads the holy life, is virtuous and upright.” Thus, as a matter of course, those who enjoy the Fruition of the Second Path eat but one meal a day and lead the holy life.)
Chattapāṇi also, thus observing Fast-day, approached the Teacher, paid obeisance to him, and sat down and listened to the Law. Now at this time King Pasenadi Kosala also came to pay his respects to the Teacher. When Chattapāṇi saw him coming, he reflected, “Shall I rise to meet him or not?” He came to the following conclusion, “Since I am seated in the presence of the King of Kings, I am not called upon to rise on seeing the king of one of his provinces. Even if he becomes angry, I will not rise. For if I rise on seeing the king, the king will be honored, and not the Teacher. Therefore I will not rise.” Therefore Chattapāṇi did not rise. (Wise men never become angry when they see a man remain seated, instead of rising, in the presence of those of higher rank.)
But when King Pasenadi saw that Chattapāṇi did not rise, his heart was filled with anger. However, he paid obeisance to the Teacher and sat down respectfully on one side. The Teacher, observing that he was angry, said to him, “Great king, this lay disciple Chattapāṇi is a wise man, knows the Law, is versed in the Tipiṭaka, is contented both in prosperity and adversity.” Thus did the Teacher extol the lay disciple’s good qualities. Even as the king listened to the Teacher’s praise of the lay disciple, his heart softened.
Now one day after breakfast, as the king stood on the upper floor of his palace, he saw the lay disciple Chattapāṇi pass through the courtyard of the royal palace with a parasol in his hand and sandals on his feet. Straightway he caused him to be summoned before him. Chattapāṇi laid aside his parasol and sandals, approached the king, paid obeisance to him, and took his stand respectfully on one side. Said the king to Chattapāṇi, “Lay disciple, why did you lay aside your parasol and sandals?” “When I heard the words, ‘The king summons you,’ I laid aside my parasol and sandals before coming into his presence.” “Evidently, then, you have to-day learned that I am king.” “I always knew that you were king.” “If that be true, then why was it that the other day, when you were seated in the presence of the Teacher and saw me, you did not rise?”
“Great king, had I, seated in the presence of the King of Kings, risen on seeing a king of one of his provinces, I should have shown disrespect for the Teacher. Therefore did I not rise.” “Very well, let bygones be bygones. I am told that you are well versed in matters pertaining to the present world and the world to come; that you are versed in the Tipiṭaka. Recite the Law in our women’s quarters.” “I cannot, your majesty.” “Why not?” “A king’s house is subject to severe censure. Improper and proper alike are grave matters in this case, your majesty.” “Say not so. The other day, when you saw me, you saw fit not to rise. Do not add insult to injury.” “Your majesty, it is a censurable act for householders to go about performing the functions of monks. Send for someone who is a monk and ask him to recite the Law.”
The king dismissed him, saying, “Very well, sir, you may go.” Having so done, he sent a messenger to the Teacher with the following request, “Reverend Sir, my consorts Mallikā and Vāsabhakhattiyā say, ‘We desire to master the Law.’ Therefore pray come to my house regularly with five hundred monks and preach the Law to them.” The Teacher sent the following reply, “Great king, it is impossible for the Buddhas to go regularly to any one place.” “In that case, Reverend Sir, send some monk.” The Teacher assigned the duty to the Elder Ānanda. And the Elder came regularly and recited the Ordinances to those queens. Of the two queens, Mallikā learned thoroughly, rehearsed faithfully, and heeded her teacher’s instruction. But Vāsabhakhattiyā did not learn thoroughly, nor did she rehearse faithfully, nor was she able to master the instruction she received.
One day the Teacher asked the Elder Ānanda, “Ānanda, are your female lay disciples mastering the Law?” “Yes, Reverend Sir.” “Which one learns thoroughly?” “Reverend Sir, Mallikā learns thoroughly, rehearses faithfully, and can understand thoroughly the instruction she receives. But your kinswoman does not learn thoroughly, nor does she rehearse faithfully, nor can she understand thoroughly the instruction she receives.” When the Teacher heard the Elder’s reply, he said, “Ānanda, as for the Law I have preached, to one who is not faithful in hearing, learning, rehearsing, and preaching it, it is profitless, like a flower that possesses color but lacks perfume. But to one who is faithful in hearing, learning, rehearsing and preaching the Law, it returns abundant fruit and manifold blessings.” So saying, he pronounced the following Stanzas,
51. Like a beautiful flower that possesses color but lacks perfume,
So well-spoken words are fruitless to him that doeth them not.
52. Like a beautiful flower that possesses both color and perfume,
So well-spoken words are fruitful to him that doeth them.
At the conclusion of the lesson many attained the Fruit of Conversion and the Fruits of the Second and Third Paths. The lesson was of benefit to the multitude.
- Cf. Hardy, Manual of Buddhism, pp. 296-297. Text: N i. 380-384.
- Majjhima, ii. 5121-22.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.