Chú giải Pháp Cú · Kệ 50 · Dhp 50

Tích Tu Sĩ Ngoại Đạo Tiểu Điệp

Pāveyyakājīvakavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 50 Kinh Pháp Cú, phẩm Hoa, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 50)

“Na paresaṃ vilomāni,
Na paresaṃ katākataṃ;
Attano’va avekkheyya,
Katāni akatāni ca.”

“Đừng oán lời thô bỉ,
Việc người làm rồi chưa.
Hãy quán xét tự kỷ,
Việc mình làm xong chưa.”

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài an ngự gần thành Sāvatthī, đề cập đến tu sĩ Pāṭika (Tiểu Điệp).

Tương truyền rằng: Trong thành Sāvatthī có một bà thí chủ hằng chu cấp cho một tu sĩ ngọai đạo thường xuyên, tên ông ấy là Pāṭika (Tiểu Điệp) mà bà nhận làm con nuôi.

Trong xóm bà ở đó có những người đi nghe Đức Bổn Sư thuyết pháp, lúc về hằng ca tụng ân đức Phật Bảo bằng nhiều lời lẽ như là: “Ôi Pháp của chư Phật thuyết ra thật là huyền diệu phi thường!”.

Được nghe lời tán dương ân đức Phật Bảo, bà nầy phát tâm muốn đi chùa thính pháp, bèn ngỏ ý với tu sĩ Pāṭika:

- Bạch thầy, tôi muốn đến viếng Đức Phật.

Tu sĩ Pāṭika can rằng: “Thôi đừng đi má ơi!”.

Bà nài nỉ nhiều lần, vị tu sĩ cũng đều cản như vậy hết. Sau cùng bà nghĩ rằng: “Thầy không bằng lòng cho ta đi chùa nghe pháp, thôi thì ta hãy thỉnh Đức Thế Tôn đến đây! Như thế ta sẽ được nghe pháp.”.

Sáng hôm ấy, bà chủ nhà cho gọi cậu con trai đến và bảo:

- Nầy con, con hãy đi thỉnh Đức Tôn Sư ngày mai đến đây.

Trước khi đi, cậu con trai ghé vào chỗ ngụ của tu sĩ Pāṭika đảnh lễ vị ấy rồi ngồi xuống. Vị tu sĩ hỏi cậu:

- Cậu đi đâu vậy?

- Má tôi sai tôi đi thỉnh Đức Tôn Sư.

- Cậu đừng nên đến chỗ ông Sa môn đó.

- Không được đâu thầy. Tôi sợ má tôi lắm. Thôi để tôi đi.

- Cậu đừng đi, đồ lễ vật sắp dưng cho ông ấy, để hai ta cùng chia nhau cùng ăn.

- Thôi thầy ơi! Má hăm đánh, tôi sợ lắm.

- Thế thì cậu hãy đi thỉnh đi, nhưng nhớ đừng chỉ rõ đường nào, lối nào đến nhà ta. Cậu giả như người ở gần đâu đó, và khi từ giã, cậu hãy chạy nhanh cho khuất mắt, rồi rẽ sang ngã khác đến đây.

Vâng lời tu sĩ ngoại giáo ấy, thiếu niên đến thỉnh Đức Bổn Sư rồi làm theo cách thầy ấy đã dặn, xong trở về phục lịnh.

Vị tu sĩ hỏi cậu ta: “Cậu đã làm cách nào?”.

- Thưa thầy, tôi đã làm đúng như lời thầy chỉ dạy.

- Cậu giỏi thật, vậy phần lễ vật dâng cho ông Sa môn ấy, hai đứa mình sẽ chia nhau ăn nhé.

Hôm sau, từ sáng sớm, tu sĩ Pāṭika đã đến nhà bà tín chủ ấy, bà rước tu sĩ vào ngồi trong nhà nghỉ.

Phía nhà trước, những người láng giềng phụ tô vách phòng bằng phân bò ướt, đoạn lấy bông lúa và bông ngũ cốc khô gieo rắc khắp nơi cho đẹp. Họ sửa soạn bảo tọa cực kỳ xinh đẹp và sang trọng để cung thỉnh Đức Bổn Sư ngồi. Quả thật, những người chưa từng thân cận với chư Phật thì không biết rành cách sắp đặt chỗ ngồi cho bậc Sa môn. Vả lại, chư Phật không cần phải có người dẫn đường chỉ lối cho Ngài đi. Trong ngày Đức Chánh Biến Tri đắc đạo quả dưới cội Bồ đề, khắp cả mười ngàn thế giới Ta bà đều rúng động. Ngài đã thấu rõ con đường luân hồi của chúng sanh: Đây là đường đi địa ngục, đây là đường đi súc sanh, đây là đường đi ngạ quỷ, đây là đường nhân loại, đây là đường chư Thiên và đây là đường bất diệt Đại Níp Bàn. Không bao giờ Ngài cần ai chỉ đường vào làng, hay vào thị trấn, hay đến những nơi khác. Vì thế nên sáng hôm ấy, Đức Bổn Sư mang y bát đến nhà bà đại tín chủ, bà ra khỏi nhà, gieo năm vóc xuống đảnh lễ Đức Bổn Sư, thỉnh Ngài an tọa trong nhà xong, xối nước khai mạc lễ cúng dường đến Ngài các vật thực loại cứng loại mềm ngon quí.

Khi Đức Bổn Sư độ xong bữa, bà cận sự nữ xin thỉnh bát Ngài, để Ngài thuyết kinh phúc chúc đến cho bà. Đức Bổn Sư ôn tồn thuyết pháp hồi hướng phước báu đến thí chủ làm cho bà vô cùng thỏa thích, vừa nghe pháp vừa thốt lên lời hoan hỷ: “Lành thay! Lành thay!”.

Khi ấy, tu sĩ Pāṭika ngồi ở nhà trong, nghe tiếng bà má nuôi đang thính pháp mà khen dồn như vậy thì dằn lòng không được, đứng dậy ra đi trong lòng nghĩ rằng: “Như vậy bà nầy bây giờ không còn là đệ tử của ta nữa rồi.”.

Tu sĩ Pāṭika xỉ mạ bà đại tín nữ luôn cả Đức Phật bằng những lời lẽ bất nhã như là: “Mụ già đốn mạt, tới số rồi đa, hãy lo phụng sự hắn ta như vầy mãi nghe…”, đoạn bỏ đi luôn.

Bà cận sự nữ hổ thẹn vì lời mắng nhiếc của tu sĩ Pāṭika tâm bị xao lãng, không còn chú ý nghe pháp nữa.

Thấy vậy Đức Bổn Sư hỏi bà:

- Nầy bà tín nữ, bà không còn chú ý nghe pháp được nữa phải chăng?

- Bạch Ngài, những lời của thầy ấy làm cho tâm con xao lãng.

Đức Thế Tôn bảo rằng: “ Những lời lẽ của con người ưa khích bác, chống đối như thế, nói ra bà không nên nghĩ nhớ làm gì. Đừng chất chứa nó trong tâm, chỉ nên xem sự việc mình đã làm xong chưa, và việc mình chưa làm là hơn.”

Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết bài kệ sau đây:
“Na paresaṃ vilomāni,
Na paresaṃ katākataṃ;
Attano’va avekkheyya,
Katāni akatāni ca.”
“Lời thô bỉ gác ngoài tai,
Việc làm đắc thất của ai mặc tình?
Hãy lo quán xét việc mình,
Việc nầy việc nọ hoàn thành hay chưa.”

CHÚ GIẢI:

Trong bài kệ nầy, câu Phạn ngữ Na paresaṃ vilomāni nghĩa là không nên để ý đến những lời nói thô bỉ, độc ác, xuyên tạc của kẻ khác.

Na paresaṃ katākataṃ: Không nên nhìn xem việc đã làm, hoặc không làm của kẻ khác, chẳng hạn như thấy rằng: Ông thiện nam nọ kém đức tin, không trong sạch, chưa hề bố thí tại nhà một vá thực phẩm nào, không làm phước Trai Tăng, không dâng cúng tứ vật dụng… Hoặc là ở nơi đó Tỳ khưu nọ kém đức tin, không trong sạch, không hầu hạ thầy tế độ, không phục vụ thầy tiếp dẫn, không làm tròn bổn phận đối với Tăng mới đến, đối với Tăng sắp đi xa, với Thánh Pháp, nơi làm lễ phát lộ, trong trai đường, trong nhà tắm nước nóng… Vị ấy cũng không thọ chi đầu đà nào, không tinh tấn tham thiền hành đạo…

Attano’va avekkheyya: Tự kỷ hằng quán xét như vầy: Kathambhūtassa me rattindivā vitīpatanti: Ngày và đêm qua mau thắm thoát ta đã làm xong việc chi chưa? Người tại gia nên luôn luôn quán xét như vậy, lại phải nhớ đến huấn từ nầy: “Con người gia giáo có đức tin xuất gia nhập đạo phải tự hỏi rằng: “Tam tướng là Vô thường, Khổ não, Vô ngã. Tại sao ta chưa dứt được bốn ách và chứng đắc Níp Bàn? Phải nên quán việc đã làm hoặc chưa làm như thế.”

Bài kệ vừa dứt, bà tín nữ đắc chứng Tu Đà Hườn quả. Đại chúng thính pháp cũng đều hưởng được sự lợi ích.

Bày mưu thỉnh Phật chỉ sai đường,
Tiểu Điệp ganh người được tán dương.
Trước ỷ làm con cao giọng mắng,
Sau do biết mẹ nặng tình thương.
Mất phần thực lộc thà ly biệt,
Được quả Thinh Văn cũng đoạn trường!
Hai lẽ chánh tà không hiệp một,
Kẻ còn ở lại, kẻ tha phương.

DỨT TÍCH TU SĨ NGOẠI ĐẠO TIỂU ĐIỆP

Pāveyyakājīvakavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Na paresaṃ vilomānīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā sāvatthiyaṃ viharanto pāveyyaṃ nāma ājīvakaṃ ārabbha kathesi.

Sāvatthiyaṃ kirekā gahapatānī puttaṭṭhāne ṭhapetvā pāveyyaṃ nāma ājīvakaṃ paṭijaggi. Tassānantaragharesu manussā satthu dhammadesanaṃ sutvā āgantvā, “aho acchariyā buddhānaṃ dhammadesanā”ti nānappakārehi buddhaguṇe vaṇṇenti. Sā buddhānaṃ guṇakathaṃ sutvā vihāraṃ gantvā dhammaṃ sotukāmā ājīvakassa etamatthaṃ kathetvā, “gacchissāmi ahaṃ buddhasantikaṃ, ayyā”ti āha. So “mā gacchāhī”ti nivāretvā taṃ punappunaṃ yācamānampi nivāresi eva. Sā “ayaṃ mama vihāraṃ gantvā dhammaṃ sotuṃ na deti, satthāraṃ nimantetvā idheva dhammaṃ suṇissāmī”ti sāyanhasamaye puttaṃ pakkositvā, “gaccha, tāta, svātanāya satthāraṃ nimantehī”ti pesesi. So gacchanto paṭhamataraṃ ājīvakassa vasanaṭṭhānaṃ gantvā taṃ vanditvā nisīdi. Atha naṃ so “kahaṃ gacchasī”ti āha. “Mātu vacanena satthāraṃ nimantetuṃ gacchāmī”ti āha. “Mā tassa santikaṃ gacchāhī”ti. “Alaṃ, ayya, mama mātu bhāyāmi, gacchissāmaha”nti. “Etassa katasakkāraṃ ubhopi khādissāma, mā gacchāhī”ti. “Alaṃ, ayya, mātā me tajjessatī”ti. Tena hi gaccha, gantvā pana nimantetvā, “amhākaṃ gehaṃ asukaṭṭhāne vā asukavīthiyaṃ vā asukamaggena vā gantabba”nti mā ācikkhi. “Santike ṭhito viya aññena maggena gacchanto viya palāyitvā ehī”ti. So ājīvakassa vacanaṃ sutvā satthu santikaṃ gantvā nimantetvā ājīvakena vuttaniyāmeneva sabbaṃ katvā tassa santikaṃ gantvā, “kiṃ te kata”nti puṭṭho, “sabbaṃ kataṃ, ayyā”ti āha. “Bhaddakaṃ te kataṃ, tassa sakkāraṃ ubhopi khādissāmā”ti vatvā punadivase ājīvako pātova taṃ gehaṃ agamāsi. Taṃ gahetvā pacchāgabbhe nisīdāpesuṃ.

Paṭivissakamanussā taṃ gehaṃ allagomayena upalimpitvā lājapañcamāni pupphāni vikiritvā satthu nisīdanatthāya mahārahaṃ āsanaṃ paññāpesuṃ. Buddhehi saddhiṃ aparicitamanussā hi āsanapaññattiṃ na jānanti, buddhānañca maggadesakena kiccaṃ nāma natthi, bodhimūle dasasahassisokadhātuṃ kampetvā sambodhiṃ pattadivaseyeva hi nesaṃ “ayaṃ maggo nirayaṃ gacchati, ayaṃ tiracchānayoniṃ, ayaṃ pettivisayaṃ, ayaṃ manussalokaṃ, ayaṃ devalokaṃ, ayaṃ amatamahānibbāna”nti sabbe maggā āvibhūtā. Gāmanigamādīnaṃ pana magge vattabbameva natthi. Tasmā satthā pātova pattacīvaramādāya mahāupāsikāya gehadvāraṃ gato. Sā gehā nikkhamitvā satthāraṃ pañcapatiṭṭhitena vanditvā antonivesanaṃ pavesetvā āsane nisīdāpetvā dakkhiṇodakaṃ datvā paṇītena khādanīyena bhojanīyena parivisi. Upāsikā katabhattakiccassa satthuno anumodanaṃ kāretukāmā pattaṃ gaṇhi. Satthā madhurassarena anumodanadhammakathaṃ ārabhi. Upāsikā “sādhu, sādhū”ti sādhukāraṃ dadamānā dhammaṃ suṇi. Ājīvakopi pacchāgabbhe nisinnova tassā sādhukāraṃ datvā dhammaṃ suṇantiyā saddaṃ sutvā sandhāretuṃ nāsakkhi. “Na idānesā mayha”nti nikkhamitvā “naṭṭhāsi kāḷakaṇṇi, etassa evaṃ sakkāraṃ karotī”ti nānappakārena upāsikañca satthārañca akkosanto palāyi. Upāsikā tassa kathāya lajjitā aññathattaṃ gataṃ cittaṃ desanānusārena ñāṇaṃ pesetuṃ nāsakkhi. Atha naṃ satthā “kiṃ upāsike cittaṃ desanānugataṃ kātuṃ na sakkosī”ti? “Bhante, etassa me kathāya cittaṃ aññathattaṃ upagata”nti. Satthā “evarūpassa visabhāgajanassa kathitaṃ kathaṃ nāma āvajjituṃ na vaṭṭati, evarūpaṃ asamannāharitvā attano katākatameva oloketuṃ vaṭṭatī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Na paresaṃ vilomāni, na paresaṃ katākataṃ;
Attanova avekkheyya, katāni akatāni cā”ti.

Tattha na paresaṃ vilomānīti paresaṃ vilomāni pharusāni mammacchedakavacanāni na manasikātabbāni. Na paresaṃ katākatanti “asuko upāsako assaddho appasanno, nāpissa gehe kaṭacchubhikkhādīni diyyanti, na salākabhattādīni, na cīvarādipaccayadānaṃ etassa atthi, tathā asukā upāsikā assaddhā appasannā, nāpissā gehe kaṭacchubhikkhādīni diyyanti, na salākabhattādīni, na cīvarādipaccayadānaṃ etissā atthi, tathā asuko bhikkhu assaddho appasanno, nāpi upajjhāyavattaṃ karoti, na ācariyavattaṃ, na āgantukavattaṃ, na gamikavattaṃ, na cetiyaṅgaṇavattaṃ, na uposathāgāravattaṃ, na bhojanasālāvattaṃ, na jantāgharavattādīni, nāpissa kiñci dhutaṅgaṃ atthi, na bhāvanārāmatāya ussāhamattampī”ti evaṃ paresaṃ katākataṃ nāma na oloketabbaṃ. Attanova avekkheyyāti “kathaṃ bhūtassa me rattindivā vītivattantīti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabba”nti (a. ni. 10.48) imaṃ ovādaṃ anussaranto saddhāpabbajito kulaputto “kiṃ nu kho ahaṃ ‘aniccaṃ dukkhaṃ anattā’ti tilakkhaṇaṃ āropetvā yoge kammaṃ kātuṃ sakkhiṃ, nāsakkhi”nti evaṃ attano katākatāni olokeyyāti.

Desanāvasāne sā upāsikā sotāpattiphale patiṭṭhitā, desanā mahājanassa sātthikā jātāti.

Pāveyyakājīvakavatthu chaṭṭhaṃ.

IV. 6. Pāṭhika the Naked Ascetic

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

50. Not the faults of others, not things done and left undone by others,
Only one’s own sins of commission and omission should one regard.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Sāvatthi with reference to Pāṭhika the Naked Ascetic.

At Sāvatthi, we are told, the wife of a certain householder ministered to the needs of a Naked Ascetic named Pāṭhika, treating him as she would her own son. Of her nearest neighbors, those who went to hear the Teacher preach the Law returned praising the virtues of the Buddhas in manifold ways, saying, “Oh, how wonderful is the preaching of the Buddhas!” When the woman heard her neighbors thus praise the Buddhas, she desired to go to the monastery and hear the Law. So she put the matter to the Naked Ascetic, saying, “Noble sir, I desire to go and hear the Buddha.” But as often as she made her request, the Naked Ascetic dissuaded her from going, saying, “Do not go.” The woman thought to herself, “Since this Naked Ascetic will not permit me to go to the monastery and hear the Law, I will invite the Teacher to my own house and hear the Law right here.”

Accordingly, when it was evening, she summoned her own son and sent him to the Teacher, saying to him, “Go invite the Teacher to accept my hospitality for to-morrow.” The boy started out, but went first to the place of residence of the Naked Ascetic, saluted him, and sat down. “Where are you going?” asked the Naked Ascetic. “By my mother’s direction I am going to invite the Teacher.” “Do not go to him.” “All very well, but I am afraid of my mother. I am going.” “Let the two of us eat the fine things prepared for him. Do not go.” “No; my mother will give me a scolding.” “Well then, go. But when you go and invite the Teacher, do not say to him, ‘Our house is situated in such and such a place, in such and such a street, and you may reach it by taking such and such a road.’ Instead, act as if you lived near by, and when you leave, run off as if you intended to take a different road, and come back here.”

The boy listened to the instructions of the Naked Ascetic and then went to the Teacher and delivered the invitation. When he had done everything according to the instructions of the Naked Ascetic, he returned to the latter. Said the Naked Ascetic, “What did you do?” Said the boy, “Everything you told me to do, noble sir.” “You have done very well. Now we shall both of us eat the good things prepared for him.” On the following day, very early in the morning, the Naked Ascetic went to that house, taking the boy with him, and the two sat down together in the back room.

The neighbors smeared that house with cow-dung, decked it with the five kinds of flowers, including the Lājā flower, and prepared a seat of great price, that the Teacher might sit therein. (Men who are not familiar with the Buddhas know nothing about the preparation of a seat for them. Nor do the Buddhas ever need a guide to direct them on their way. For on the Day of Enlightenment, when they sit under the Bo-tree, causing ten thousand worlds to quake, all paths become plain to them: “This path leads to Hell, this path leads to the World of Beasts, this path leads to the World of Ghosts, this path leads to the World of Men, this path leads to the World of the Gods, this path leads to the Deathless, to Great Nibbāna.” There is never any need of telling them the way to villages, market-towns, or other places.)

Therefore the Teacher, very early in the morning, took bowl and robe and went straight to the house of the great female lay disciple. She came forth from the house, saluted the Teacher with the Five Rests, escorted him into the house, poured Water of Donation into his right hand, and gave him the choicest of food, both hard and soft. When the Teacher had finished his meal, the female lay disciple, desiring to have him pronounce the words of thanksgiving, took his bowl, and the Teacher with his own sweet voice began the address of thanksgiving. The lay disciple listened to the preaching of the Law and applauded the Teacher, saying, “Well said! well said!”

The Naked Ascetic, sitting there in the back room, heard the words of applause uttered by the lay disciple as she heard the Teacher preach the Law. Unable to control himself, he remarked, “She is my disciple no longer,” and came out. And he said to the lay disciple, “Hag, you are lost for applauding this man thus.” And he reviled both the female lay disciple and the Teacher in all manner of ways, and then ran off. The lay disciple was so embarrassed by the Naked Ascetic’s insulting words that her mind became completely distraught, and she was unable to concentrate her attention on the Teacher’s discourse. The Teacher asked her, “Lay disciple, are you unable to fix your mind on my discourse?” “Good and Reverend Sir,” she replied, “my mind is completely distraught by the insulting words of this Naked Ascetic.” Said the Teacher, “One should not consider the talk of such a heretic; one should pay no attention to such as he; one should regard only one’s own sins of commission and omission.” So saying, he pronounced the following Stanza,

50. Not the faults of others, not things done and left undone by others,
Only one’s own sins of commission and omission should one regard.

  1. Text: N i. 376-380.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.