Tích Tôn Giả Xá Lợi Phất Bị Hiểu Lầm.
Sāriputtattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 410 Kinh Pháp Cú, phẩm Bà-la-môn, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Thiền viện Viên Chiếu dịch.
Bản Việt · Thiền viện Viên Chiếu dịch
Người không có hy cầu ...
Đức Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Xá-lợi-phất.
Một thời nọ, Tôn giả Xá-lợi-phất cùng năm trăm Tỳ-kheo đến kiết hạ an cư tại một tinh xá và ở đấy suốt ba tháng an cư. Dân chúng trông thấy Tôn giả liền đến hứa xin cúng dường tứ sự. Nhưng sau khi Tôn giả cử hành xong lễ Tự tứ rồi, các vật dụng cúng dường vẫn chưa được mang đến hết. Trước lúc lên đường về gặp đức Thế Tôn, Tôn giả dặn dò các Tỳ-kheo ở lại:
- Khi nào người ta đem các món cúng dường kia đến cho các Tỳ-kheo trẻ và Sa-di, xin các thầy nhận và gởi đi dùm. Còn nếu họ không đem đến, cũng xin các thầy làm ơn nhắn giúp tôi một tiếng.
Xong, Tôn giả đi về chỗ đức Phật ở.
Các thầy Tỳ-kheo bàn tán:
- Nghe những lời Tôn giả Xá-lợi-phất nói hôm nay, cũng thấy lòng tham còn rơi rớt nơi ông ấy. Tôn giả còn dặn về những món người ta cúng dường cho các Tỳ-kheo cùng đoàn mình: "Xin các thầy gởi đi dùm, hoặc không thì làm ơn nhắn giúp tôi một tiếng!".
Lúc ấy đức Phật đi đến, hỏi:
- Này các Tỳ-kheo, các ông tụ hội ở đây bàn tán chuyện gì?
Các thầy Tỳ-kheo thưa câu chuyện. Đức Phật dạy:
- Này các Tỳ-kheo, con Ta không còn tham. Trong tâm ông ấy chỉ nghĩ: "Mong rằng các thí chủ không bị mất phước, mong rằng các Tỳ-kheo trẻ và Sa-di không bị thất thoát những lợi dưỡng cao quý". Do vậy ông ấy mới dặn dò như thế.
Ngài nói kệ:
410Người không có hy cầu,
Đời này và đời sau,
Không hy cầu, giải thoát,
Ta gọi Bà-la-môn.
Sāriputtattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Āsā yassāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto sāriputtattheraṃ ārabbha kathesi.
Thero kira pañcabhikkhusataparivāro janapade ekaṃ vihāraṃ gantvā vassaṃ upagañchi. Manussā theraṃ disvā bahuṃ vassāvāsikaṃ paṭissuṇiṃsu. Thero pavāretvā sabbasmiṃ vassāvāsike asampatteyeva satthu santikaṃ gacchanto bhikkhū āha – “daharānañceva sāmaṇerānañca manussehi vassāvāsike āhaṭe gahetvā peseyyātha, ṭhapetvā vā sāsanaṃ pahiṇeyyāthā”ti. Evaṃ vatvā ca pana satthu santikaṃ agamāsi. Bhikkhū kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ “ajjāpi maññe sāriputtattherassa taṇhā atthiyeva. Tathā hi manussehi vassāvāsike dinne attano saddhivihārikānaṃ ‘vassāvāsikaṃ peseyyātha, ṭhapetvā vā sāsanaṃ pahiṇeyyāthā’ti bhikkhūnaṃ vatvā āgato”ti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte “na, bhikkhave, mama puttassa taṇhā atthi, manussānaṃ pana puññato daharasāmaṇerānañca dhammikalābhato parihāni mā ahosīti tenevaṃ kathita”nti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Āsā yassa na vijjanti, asmiṃ loke paramhi ca;
Nirāsāsaṃ visaṃyuttaṃ, tamahaṃ brūmi brāhmaṇa”nti.
Tattha āsāti taṇhā. Nirāsāsanti nittaṇhaṃ. Visaṃyuttanti sabbakilesehi visaṃyuttaṃ tamahaṃ brāhmaṇaṃ vadāmīti attho.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Sāriputtattheravatthu sattavīsatimaṃ.
XXVI. 27. Sāriputta is Misunderstood
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
410. He that has no desires...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the Elder Sāriputta.
The story goes that once upon a time Elder Sāriputta, accompanied by his retinue of five hundred monks, went to a certain monastery and entered upon residence for the season of the rains. When the people saw the Elder, they promised to provide him with all of the requisites for residence. But even after the Elder had celebrated the Terminal Festival, not all of the requisites had as yet arrived. So when he set out to go to the Teacher he said to the monks, “When the people bring the requisites for the young monks and novices, pray take them and send them on; should they not bring them, be good enough to send me word.” So saying, he went to the Teacher.
The monks immediately began to discuss the matter, saying, “Judging by what Elder Sāriputta said to-day, Craving still persists within him. For when he went back, he said to the monks with reference to the requisites for residence given to his own fellow residents, ‘Pray send them on; otherwise be good enough to send me word.’ ” Just then the Teacher drew near. “Monks,” said he, “what is the subject that engages your attention now as you sit here all gathered together?” “Such and such,” was the reply. Said the Teacher, “No, monks, my son has no Craving. But the following thought was present to his mind, ‘May there be no loss of merit to the people, and no loss of holy gain to the young monks and novices.’ This is the reason why he spoke as he did.” So saying, he pronounced the following Stanza,
410. He that has no desires, either in this world or in the next,
He that is free from desires and free from fetters, him I call a Brahman.
- Text: N iv. 184-185.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Thiền viện Viên Chiếu dịch, Tích Truyện Pháp Cú (1995), dịch từ bản Anh Buddhist Legends của E. W. Burlingame; bản số hoá trên BuddhaSasana. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.