Tích Trưởng Lão Đề Xá Ở Kiều Thưởng Di
Kosambivāsītissattherasāmaṇeravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 96 Kinh Pháp Cú, phẩm A-la-hán, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 96)
“Santaṃ tassa nanaṃ hoti,
Santā vācā ca kamma ca;
Sammadaññā vimuttassa,
Upasantassa tādino.”
“Người tâm ý an tịnh,
Lời an, nghiệp cũng an,
Chánh trí, Chơn giải thoát,
Tịnh lạc là vị ấy.”
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết, khi Ngài an ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến vị Sa di đệ tử của Trưởng lão Tissa (Đề Xá).
Tương truyền rằng: Một vị công tử ở gần Kosambi (Kiều Thưởng Di), sau khi xuất gia trong Giáo Pháp, thọ Cụ túc giới, được mệnh danh là Trưởng lão Đề Xá ở Kiều Thưởng Di. Trưởng lão an cư ở vùng Kosambi (Kiều Thưởng Di), đến khi mãn mùa an cư, được người hộ độ mang các lễ vật như Tam y, sữa chua, mật mía đặt dưới chân.
Thấy vậy, Trưởng lão hỏi người ấy: “Cái chi đây ông Thiện nam ?”.
- Bạch Ngài, Ngài đã nhận lời con an cư mùa mưa nơi nầy, bây giờ mãn mùa an cư, phần lễ vật nầy phát sanh được đây, xin Ngài hãy hoan hỷ thọ dụng.
- Nầy Cận sự nam, ông hãy thông cảm, ta không cần đến những lễ vật nầy.
- Bạch Ngài, tại sao vậy ?
- Nầy đạo hữu! Vì bần tăng không có Sa di đễ dâng lễ vật thọ đúng Luật kappiyākasako.
- Bạch Ngài, nếu Ngài không có người phục dịch theo Luật, thì con xin đưa con trai con xuất gia Sa di để phục dịch Ngài.
Trưởng lão im lặng chấp nhận.
Ông Thiện nam dắt đứa con trai của mình vừa được bảy tuổi đến với Trưởng lão, giao cho Trưởng lão và nói: “Kính Ngài, xin cho nó được xuất gia”
Trưởng lão xối nước ướt tóc đứa bé, truyền dạy phần đầu của đề mục quán tưởng thân trược gồm có năm chi: tóc, lông, móng, răng, da cho nó và cho nó xuất gia.
Ngay khi lưỡi dao cạo chạm vào da đầu, vị Sa di mới đắc chứng A La Hán quả với Tuệ phân tích.
Sau khi ông cho Sa di xuất gia, Trưởng lão còn lưu lại trên chùa thêm nửa tháng, rồi muốn về đảnh lễ Đức Thế Tôn, Trưởng lão bảo ông Sa di thu thập hành lý để lên đường. Đến nửa đường hai thầy trò ghé vào một ngôi chùa, ông Sa di có bổn phận phải lo sửa soạn chỗ trú cho thầy Tế độ. Khi lo cho thầy xong thì trời đã xế chiều, Sa di không thể dọn dẹp chỗ ngụ của mình cho kịp giờ.
Khi ông Sa di đến giờ hầu thầy, trở lại ngồi một bên thầy, Trưởng lão liền hỏi: “Ông Sa di, ông lo sửa soạn chỗ nghỉ của ông chưa?”
- Bạch Ngài, con không có giờ rảnh để sửa soạn!
- Vậy thì, con hãy ở chung chỗ với ta. Mình là khách lữ hành phải chịu khó ở ký túc xá vậy (Āgantukaṭṭhāne).
Nói rồi, Trưởng lão dắt Sa di vào chỗ ngụ. Trưởng lão nầy còn là phàm nhân nên đến giờ đi nghỉ là nằm xuống ngủ. Sa di thầm nghĩ : “Hôm nay ta với thầy Hòa thượng ngụ chung nhau trong một chỗ ngụ đến nay là ngày thứ ba rồi, nếu ta nằm sợ e ta sẽ ngủ quên đến sáng, thì Trưởng lão sẽ phạm giới ngủ chung ba đêm với Sa di. Thôi ta sẽ ngồi cho qua hết đêm nay vậy.”. Thế rồi, Sa di ngồi kiết già kế bên giường ngủ của thầy Hòa thượng mà nghỉ cho qua một đêm. Hôm sau, trời vừa mờ mờ sáng, Trưởng lão thức dậy, tự nghĩ : “Ta phải bảo ông Sa di đi ra ngủ bên ngoài mới được.”, nên lấy cây quạt để bên giường, Trưởng lão dùng đầu nhọn của cây quạt đập xuống chiếu của Sa di, rồi giở quạt lên gọi: “Nầy Sa di, hãy đi ra ngoài.”, không may đầu cây quạt xỉa trúng một mắt của Sa di, tròng mắt bị bể ra.
Sa di giật mình hỏi lại: “Bạch Ngài, bảo gì?”. Khi nghe thầy nói: “Dậy đi ra ngoài!”, ông không nói: “Bạch Ngài, mắt con đã bị bể tròng.”, mà chỉ lấy tay bụm mắt rồi đi ra.
Tới giờ phục dịch thầy, Sa di cũng làm thinh không nói “Mắt con đã bị bể tròng.” Mà chỉ đứng chứ không ngồi xuống, một tay bụm mắt đau, còn tay kia cầm lấy cán chổi vào quét cầu tiêu và nhà tắm, múc nước rửa mặt cho thầy, rồi quét sân chùa.
Đến khi dâng cây đáng răng (dantakaṭṭhaṃ) cho thầy Hòa thượng, ông cũng chỉ dâng bằng một tay. Thấy vậy Trưởng lão rầy :
- Cái ông Sa di nầy mất dạy thật! Đối với thầy Tiếp dẫn và thầy Tế độ mà ông dâng cây đánh răng bằng một tay được?
- Bạch Ngài ! Con vẫn biết không nên làm như vậy, nhưng một tay con không được rảnh.
- Tại sao vậy Sa di ?
Sa di bèn thuật câu chuyện từ đầu đến cuối. Nghe xong, vị Trưởng lão phát tâm kinh cảm: “Chao ôi! Nghiệp của ta đã tạo thật là nặng nề!”. Than rồi, vị Trưởng lão tuột xuống ngồi chồm hổm dưới chân Sa di bảy tuổi chấp hai tay đưa lên trán và nói : “Xin Thiện nam tử (Sappurisa) xá tội cho tôi! Thật tôi không biết việc ấy, xin hãy là người nâng đỡ cho tôi”.
Vị Sa di điềm nhiên đáp lời Trưởng lão: “Bạch Ngài, con không có ý muốn nói về câu chuyện ấy, xin Ngài cứ an tâm. Theo con nghĩ, trong việc nầy thầy không có lỗi, mà đó cũng không phải là lỗi của con. Xin Ngài đừng lo nghĩ nhiều, con xin giữ kín việc Ngài sám hối với con, không nói cho ai biết hết.”.
Vị Trưởng lão được lời an ủi của Sa di thì nghe dễ chịu, nhưng rồi lại sanh tâm kinh cảm, mang hết hành lý của Sa di, về đảnh lễ Đức Bổn Sư.
Lúc ấy, Đức Bổn Sư ngồi đợi hai thầy trò đến, vị Trưởng lão đi đến đảnh lễ Đức Bổn Sư xong, Đức Thế Tôn niềm nở hỏi :
- Nầy Tỳ Khưu! Thầy hành đạo có được dễ chịu không? Có gặp điều chi cực khổ lắm không?
- Bạch Ngài, con được dễ chịu, không có chút chi cực khổ thái quá. Hơn thế nữa, con còn có được một Sa di nhỏ, giống như được một vị có hạnh đức phi thường, con chưa từng thấy vậy.
- Ông nầy đã làm cái chi vậy, nầy Tỳ khưu?
Vị Trưởng lão thuật lại câu chuyện xảy ra, từ đầu cho đến cuồi với Đức Bổn Sư, rồi nói tiếp:
- Bạch Ngài, khi con yêu cầu sám hối như thế, Sa di đã nói với con như vầy : “Bạch Ngài, trong việc nầy Ngài không có lỗi chi cả, mà đó cũng không phải là lỗi của con, thôi Ngài đừng bận tâm lo nghĩ nhiều.”. Sa di ấy an ủi con, không tỏ vẻ chi giận hờn, thù ghét chi con cả. Bạch Ngài, từ trước đến giờ con chưa từng thấy một bậc hiền đức hoàn toàn như vậy.
Khi ấy, Đức Bổn Sư bảo Trưởng Lão rằng :
- Nầy Tỳ khưu, hễ là bậc Lậu tận thì không còn chút giận hờn, sân hận, cả Lục căn an tịnh và Tâm ý cũng an tịnh
Nói rồi Ngài thuyết pháp giải rộng thêm và tóm tắt bằng bài kệ nầy:
“Santaṃ tassa nanaṃ hoti,
Santā vācā ca kamma ca;
Sammadaññā vimuttassa,
Upasantassa tādino.”
“La Hán thường được thảnh thơi,
Nhờ có Chánh trí thoát nơi bụi hồng.
Thân nghiệp, Khẩu nghiệp sạch trong,
Ý nghiệp vắng lặng, Không không, hoài hoài. ”
CHÚ GIẢI:
Santaṃ: tâm ý (Mano) của vị thánh Lậu tận an tịnh (santa có chỗ còn dịch là trầm tĩnh ), vì không có tham, sân, si. Trong khi tâm đang yên lặng thái bình như vậy, thì các khẩu ác nghiệp, nhất là vọng ngữ không có, và các thân ác nghiệp, nhất là sát sanh cũng không có, cho nên thân khẩu thường an tịnh luôn.
Sammadaññā vimuttassa: Bằng cách suy tư biết rõ nguyên nhân là Ý, hễ Ý đã giải thoát thì cả năm căn kia là Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt và Thân cũng được giải thoát, nên gọi là Chánh trí giải thoát.
Upasantassa: Tâm thường an tịnh vì trong đó tham, sân, si đều vắng lặng
Tādino: người như thế ấy.
Cuối thời Pháp, Trưởng lào Đề Xá ở Kiều Thưởng Di đắc A La Hán Quả với Tuệ Phân Tích. Kỳ dư đại chúng nghe Pháp đều hưởng được sự lợi ích.
Trưởng lão nào hay đệ tử mình,
Cạo đầu liền đắc quả Vô sinh!
Ngủ chung, sáng thọt trò hư mắt,
Trò tĩnh, còn Sư lại cảm kinh.
Sư chắp tay xin sám hối trò,
Trò khuyên: Ngài chớ khá buồn lo,
Không ai tội cả, toàn do nghiệp,
Quả đến, cần chi phải đắn đo?
Phật dạy: “Người tam nghiệp trọn lành,
Sa di bảy tuổi, Đạo viên thành!”
Sư nghe, Ngã mạn tiêu tan hết,
Cũng đắc như trò, Quả tối linh.
DỨT TÍCH TRƯỞNG LÃO ĐỀ XÁ Ở KIỀU THƯỞNG DI
Kosambivāsītissattherasāmaṇeravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Santaṃ tassa manaṃ hotīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto tissattherassa sāmaṇeraṃ ārabbha kathesi.
Eko kira kosambivāsī kulaputto satthu sāsane pabbajitvā laddhupasampado “kosambivāsītissatthero”ti paññāyi. Tassa kosambiyaṃ vuṭṭhavassassa upaṭṭhāko ticīvarañceva sappiphāṇitañca āharitvā pādamūle ṭhapesi. Atha naṃ thero āha – “kiṃ idaṃ upāsakā”ti. “Nanu mayā, bhante, tumhe vassaṃ vāsitā, amhākañca vihāre vuṭṭhavassā imaṃ lābhaṃ labhanti, gaṇhatha, bhante”ti. “Hotu, upāsaka, na mayhaṃ iminā attho”ti. “Kiṃ kāraṇā, bhante”ti? “Mama santike kappiyakārako sāmaṇeropi natthi, āvuso”ti. “Sace, bhante, kappiyakārako natthi, mama putto ayyassa santike sāmaṇero bhavissatī”ti. Thero adhivāsesi. Upāsako sattavassikaṃ attano puttaṃ therassa santikaṃ netvā “imaṃ pabbājethā”ti adāsi. Athassa thero kese temetvā tacapañcakakammaṭṭhānaṃ datvā pabbājesi. So khuraggeyeva saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇi.
Thero taṃ pabbājetvā aḍḍhamāsaṃ tattha vasitvā “satthāraṃ passissāmī”ti sāmaṇeraṃ bhaṇḍakaṃ gāhāpetvā gacchanto antarāmagge ekaṃ vihāraṃ pāvisi. Sāmaṇero upajjhāyassa senāsanaṃ gahetvā paṭijaggi. Tassa taṃ paṭijaggantasseva vikālo jāto, tena attano senāsanaṃ paṭijaggituṃ nāsakkhi. Atha naṃ upaṭṭhānavelāyaṃ āgantvā nisinnaṃ thero pucchi – “sāmaṇera, attano vasanaṭṭhānaṃ paṭijaggita”nti? “Bhante, paṭijaggituṃ okāsaṃ nālattha”nti. “Tena hi mama vasanaṭṭhāneyeva vasa, dukkhaṃ te āgantukaṭṭhāne bahi vasitu”nti taṃ gahetvāva senāsanaṃ pāvisi. Thero pana puthujjano nipannamattova niddaṃ okkami. Sāmaṇero cintesi – “ajja me upajjhāyena saddhiṃ tatiyo divaso ekasenāsane vasantassa, ‘sace nipajjitvā niddāyissāmi, thero sahaseyyaṃ āpajjeyyā’ti nisinnakova vītināmessāmī”ti upajjhāyassa mañcakasamīpe pallaṅkaṃ ābhujitvā nisinnakova rattiṃ vītināmesi. Thero paccūsakāle paccuṭṭhāya “sāmaṇeraṃ nikkhamāpetuṃ vaṭṭatī”ti mañcakapasse ṭhapitabījaniṃ gahetvā bījanipattassa aggena sāmaṇerassa kaṭasārakaṃ paharitvā bījaniṃ uddhaṃ ukkhipanto “sāmaṇera, bahi nikkhamā”ti āha, bījanipattadaṇḍako akkhimhi paṭihaññi, tāvadeva akkhi bhijji. So “kiṃ, bhante”ti vatvā uṭṭhāya “bahi nikkhamā”ti vutte “akkhi me, bhante, bhinna”nti avatvā ekena hatthena paṭicchādetvā nikkhami. Vattakaraṇakāle ca pana “akkhi me bhinna”nti tuṇhī anisīditvā ekena hatthena akkhiṃ gahetvā ekena hatthena muṭṭhisammuñjaniṃ ādāya vaccakuṭiñca mukhadhovanaṭṭhānañca sammajjitvā mukhadhovanodakañca ṭhapetvā pariveṇaṃ sammajji. So upajjhāyassa dantakaṭṭhaṃ dadamāno ekeneva hatthena adāsi.
Atha naṃ upajjhāyo āha – “asikkhito vatāyaṃ sāmaṇero, ācariyupajjhāyānaṃ ekena hatthena dantakaṭṭhaṃ dātuṃ na vaṭṭatī”ti. Jānāmahaṃ, bhante, “na evaṃ vaṭṭatī”ti, eko pana me hattho na tucchoti. “Kiṃ sāmaṇerā”ti? So ādito paṭṭhāya taṃ pavattiṃ ārocesi. Thero sutvāva saṃviggamānaso “aho vata mayā bhāriyaṃ kammaṃ kata”nti vatvā “khamāhi me, sappurisa, nāhametaṃ jānāmi, avassayo me hohī”ti añjaliṃ paggayha sattavassikadārakassa pādamūle ukkuṭikaṃ nisīdi. Atha naṃ sāmaṇero āha – “nāhaṃ, bhante, etadatthāya kathesiṃ, tumhākaṃ cittaṃ anurakkhantena mayā evaṃ vuttaṃ nevettha tumhākaṃ doso atthi, na mayhaṃ. Vaṭṭasseveso doso, mā cintayittha, mayā tumhākaṃ vippaṭisāraṃ rakkhanteneva nārocita”nti. Thero sāmaṇerena assāsiyamānopi anassāsitvā uppannasaṃvego sāmaṇerassa bhaṇḍakaṃ gahetvā satthu santikaṃ pāyāsi. Satthāpissa āgamanaṃ olokentova nisīdi. So gantvā satthāraṃ vanditvā satthārā saddhiṃ paṭisammodanaṃ katvā “khamanīyaṃ te bhikkhu, kiñci atirekaṃ aphāsukaṃ atthī”ti pucchito āha – “khamanīyaṃ, bhante, natthi me kiñci atirekaṃ aphāsukaṃ, apica kho pana me ayaṃ daharasāmaṇero viya añño atirekaguṇo na diṭṭhapubbo”ti. “Kiṃ pana iminā kataṃ bhikkhū”ti. So ādito paṭṭhāya sabbaṃ taṃ pavattiṃ bhagavato ārocento āha – “evaṃ, bhante, mayā khamāpiyamāno maṃ evaṃ vadesi ‘nevettha tumhākaṃ doso atthi, na mayhaṃ. Vaṭṭasseveso doso, tumhe mā cintayitthā’ti, iti maṃ assāsesiyeva, mayi neva kopaṃ, na dosamakāsi, na me, bhante, evarūpo guṇasampanno diṭṭhapubbo”ti. Atha naṃ satthā “bhikkhu khīṇāsavā nāma na kassaci kuppanti, na dussanti, santindriyā santamānasāva hontī”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Santaṃ tassa manaṃ hoti, santā vācā ca kamma ca;
Sammadaññā vimuttassa, upasantassa tādino”ti.
Tattha santaṃ tassāti tassa khīṇāsavasāmaṇerassa abhijjhādīnaṃ abhāvena manaṃ santameva hoti upasantaṃ nibbutaṃ. Tathā musāvādādīnaṃ abhāvena vācā ca pāṇātipātādīnaṃ abhāvena kāyakammañca santameva hoti. Sammadaññā vimuttassāti nayena hetunā jānitvā pañcahi vimuttīhi vimuttassa. Upasantassāti abbhantare rāgādīnaṃ upasamena upasantassa. Tādinoti tathārūpassa guṇasampannassāti.
Desanāvasāne kosambivāsītissatthero saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇi. Sesamahājanassāpi sātthikā dhammadesanā ahosīti.
Kosambivāsītissattherasāmaṇeravatthu sattamaṃ.
VII. 7. The Loss of an Eye
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
96. His thoughts are calm, his speech is calm, his deeds are calm;
Such is the calm of one who has obtained Deliverance by Right Knowledge.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to a novice of the Elder Tissa.
The story goes that a certain youth of station, residing at Kosambi, retired from the world and became a monk in the Religion of the Teacher. After making his full profession, he was known as Elder Kosambivāsī Tissa. After he had kept residence during the season of the rains at Kosambi, his supporter brought a set of three robes and offerings of ghee and jagghery and laid them at his feet. Said the Elder to him, “What are these, lay disciple?” “Reverend Sir, have you not kept residence with me during the season of the rains? Those who keep residence in our monastery always receive these offerings; pray accept them, Reverend Sir.” “Never mind, lay disciple, I have no need of them.” “Why is that, Reverend Sir?” “I have no novice to perform the usual offices for me, brother.” “Reverend Sir, if it be true that you have no novice to minister to your needs, my son will become your novice.” The Elder graciously accepted the offer. The lay disciple brought his own son, but seven years old, to the Elder, and committed him into the Elder’s hands, saying, “Pray receive him into the Order, Reverend Sir.” The Elder moistened the boy’s hair, taught him the Formula of Meditation on the first five of the Constituent Parts of the Body, and received him into the Order. The instant the razor touched his hair, he attained Arahatship, together with the Supernatural Faculties.
The Elder, having received the youth into the Order, remained there for a fortnight. Then, deciding to visit the Teacher, he directed the novice to take the requisites, and set out on his journey. On the way he entered a certain monastery. The novice obtained lodging for the Elder and looked after it for him. While he was thus engaged, it grew dark and he was therefore unable to provide a lodging for himself. When the time came for the novice to wait upon the Elder, the novice approached the Elder and sat down. The Elder asked the novice, “Novice, have you not neglected to provide yourself with lodging?” “Reverend Sir, I have had no opportunity to look after a lodging for myself.” “Well then, remain with me. It will inconvenience you to lodge outside in the place reserved for visitors.” So saying, the Elder taking him with him, entered his own lodging. Now the Elder had not yet attained the Fruit of Conversion, and as soon as he lay down, fell asleep. Thereupon the novice thought to himself, “To-day is the third day during which I have occupied the same lodging with my preceptor. If I lie down to sleep the Elder will commit the offense of sleeping in common. Therefore I will spend the night sitting up.” So assuming a cross-legged posture near the bed of his preceptor, he spent the night sitting up.
The Elder rose at dawn and said to himself, “I must cause the novice to go out.” So he took a fan which was placed at the side of the bed, struck the mat of the novice with the tip of the palm-leaf, and then, tossing the fan into the air, said, “Novice, go out.” The handle of the fan struck the novice in the eye and straightway put out his eye. “What did you say, Reverend Sir?” said the novice. “Rise and go out,” was the reply. The novice, instead of saying, “Reverend Sir, my eye has been put out,” covered his eye with one hand and went out. Moreover, when it was time for him to perform his duties as novice, he did not say, “My eye has been put out,” nor did he remain seated, but covering his eye with one hand and taking a hand-broom in the other hand, he swept out the privy and the wash-room, after which, setting out water for washing the face, he swept out the Elder’s cell.
When he advanced to present the toothstick to the Elder, he presented it to him with only one hand. His preceptor said to him, “This novice is not properly trained. Is it proper for a novice to present a toothstick to teachers and preceptors with one hand?” “Reverend Sir, I know perfectly well what is the proper form, but one of my hands is not disengaged.” “What is the matter, novice?” Then the novice told him the whole story, beginning at the beginning. When the Elder heard his story, he was deeply moved and said to himself, “Oh, what a grievous thing I have done!” Then he said to the novice, “Pardon me, most excellent youth; I did not know this. Be my refuge.” And extending his clasped hands in an attitude of reverent salutation, he crouched on the ground before the feet of a seven-year-old novice. Then said the novice to him, “It was not for this purpose, Reverend Sir, that I spoke. I said this for the purpose of sparing your feelings. You are not to blame in this matter and neither am I. The round of existences alone is to blame for this. It was because I wished to spare you remorse that I did not tell you the real facts.”
The novice tried to comfort the Elder, but he would not be comforted. Overcome with remorse, he took the novice’s requisites and proceeded to the Teacher. As the Teacher sat, he observed him approaching. The Elder went to the Teacher, saluted him, and exchanged friendly greetings with him. The Teacher asked him, “Monk, is everything well with you? I trust that you have suffered no excessive discomfort.” The Elder replied, “All is well with me, Reverend Sir. I have suffered no excessive discomfort. But here is a young novice whose good qualities surpass anything I have ever seen.” “Why, what has he done, monk?” Thereupon the Elder told him the whole story, beginning at the beginning and concluding as follows, “Reverend Sir, when I asked him to pardon me, he said this to me, ‘You are not to blame in this matter and neither am I. The round of existences alone is to blame for this. Be not disturbed.’ Thus he tried to comfort me, appearing to cherish neither anger nor hatred towards me. His good qualities surpass anything I have ever seen.” Said the Teacher to the Elder, “Monk, those who have rid themselves of the Depravities cherish neither anger nor hatred towards anyone. On the contrary, their senses are in a state of calm and their thoughts are in a state of calm.” So saying, he joined the connection and preaching the Law, pronounced the following Stanza,
96. His thoughts are calm, his speech is calm, his deeds are calm;
Such is the calm of one who has obtained Deliverance by Right Knowledge.
- Text: N ii. 182-186.
- Cf. Story ix. 10.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.