Tích Trưởng Lão Xá Lợi Phất Tự Tin
Sāriputtattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 97 Kinh Pháp Cú, phẩm A-la-hán, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 97)
“Assaddho akataññū ca,
Sandhicchedho ca yo naro;
Hatāvakāso vantāso,
Sa ve uttamaporiso.”
“Không tin”, hiểu Vô vi,
Người cắt mọi hệ luỵ,
Cơ hội tận, xả ly,
Vị ấy thật tối thượng.”
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết, khi ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến Trưởng lão Sārīputta (Xá Lợi Phất).
Một ngày nọ, có ba mươi vị Tỳ khưu tu hành hạnh Đầu Đà ngụ ở rừng (araññakā), về yết kiến Đức Bổn Sư, đảnh lễ Ngài rồi ngồi nép qua một bên. Đức Bổn Sư biết rõ những vị nầy có căn lành đắc A La Hán quả với Tuệ Phân tích, nên Ngài gọi Trưởng lão Sārīputta mà hỏi về Ngũ quyền (Tín, Tấn, Niệm, Định và Tuệ) nhất là Tín quyền, là những yếu tố thành tựu Pháp Bất tử.
- Nầy Sārīputta, thầy có đức tin chăng ?
(Tín quyền là yếu tố phát triển gia tăng thành tựu Pháp Bất tử là Níp Bàn).
- Bạch Ngài, nói về Tín quyền thì con không đặt niềm tin nơi Đức Thế Tôn v.v… Thật vậy, bạch Ngài! Về Tín quyền thì những ai chưa biết, chưa nghe, chưa thấy, chưa làm cho thấu rõ, chưa tiếp xúc pháp Bất tử trọn vẹn bằng Trí Tuệ, thì người đó phải đặt niềm tin nơi tha nhân, v.v…
Trưởng lão đã giải đáp năm câu hỏi về Ngũ quyền là những yếu tố để thành tựu Pháp Bất tử như thế.
Nghe lời giải của Trưởng lão, các Tỳ khưu hợp nhau bàn tán: “Trưởng lão Sārīputta đã giải đáp bằng những luận điệu sai lầm như thế, là hôm nay Trưởng lão đã hết tin nơi Đức Chánh Biến Tri nữa rồi.”.Nghe vậy, Đức Bổn Sư hỏi :
- Nầy các Tỳ khưu, sao các thầy lại nói như thế? Chính Tta đã không làm phát triển Ngũ quyền, không tăng tiến pháp Chỉ Quán
(Samathavipassanā) mà đã có thể làm cho thấu rõ các Đạo quả. Đáp lại câu hỏi: “Nầy Sārīputta thầy có đức tin chăng?”. Thầy ấy cũng làm cho thấu rõ Đạo quả như thế, nên mới nói : “Bạch Ngài, con không có đức tin (nơi tha nhân), thầy ấy không có đức tin nơi Đạo quả hiện tại hoặc tương lai (Phalavipāka) của ai cho, hoặc của ai làm giùm. Thầy ấy cũng không có đức tin nơi cái chi, nhất là nơi hồng ân của chư Phật.
Thầy ấy tự mình chứng đắc các pháp Thiền Quán, Đạo quả, chứ không đặt niềm tin nơi những người khác, bởi thế cho nên thầy ấy là người không thể chê trách.”.
Nói rồi Đức Bổn Sư thuyết pháp giải thêm và tóm tắt bằng bài kệ nầy:
“Assaddho akataññū ca,
Sandhicchedho ca yo naro;
Hatāvakāso vantāso,
Sa ve uttamaporiso.”
“La Hán chẳng cần tin ai,
Vì đã chứng Đạo không hai thoát trần.
Dứt trừ vĩnh viễn nguyên nhân,
Cùng quả ràng buộc tự thân luân hồi.
Lòng tham dục cũng lìa rồi,
Bực vô thượng sĩ cao ngôi, chính người.”
CHÚ GIẢI:
Assaddho: vô tín hay bất tín, là tự mình chứng biết, không tin lời nói của người khác (một cách mù quáng)
Akataññū: hiểu là Vô vi, đây là làm cho thấu rõ Níp Bàn là Pháp không có nhân tạo ra
(Akata).
(Akataññū cũng có nghĩa là vô ơn)
Sandhicchedho: người đã cắt đứt mọi ràng buộc là cắt đứt những kiết sử trói buộc trong vòng Luân hồi.
Hatāvakāso: người đã đoạn tuyệt cả phước và tội, là người đã tận trừ những cơ hội để tạo nghiệp thiện và bất thiện
Vantāso: người đã dứt hết sự tham muốn, vì đã làm xong phận sự bằng bốn Thánh đạo.
Người đủ tư cách như vậy, quả thật là người cao thượng, đắc Pháp cao thượng nhất trong số những người giác ngộ Pháp siêu thế.
Cuối bài kệ, ba mươi vị Tỳ khưu ấy đắc quả A La hán với Tuệ Phân tích. Kỳ dư đại chúng thính pháp của Đức Bổn Sư thảy đều hưởng được lợi ích lớn.
Muốn độ người cao, Phật hỏi cao,
Phàm phu nghe ngóng tựa chiêm bao,
Nghĩ rằng: Pháp Chủ theo tà kiến,
Dám nói: Không tin Phật chút nào!…
Dưới thấp cần tin tưởng Phật Đà,
Lên cao, La hán: “Chỉ tin ta!”
Tự mình thấu triệt luân hồi khổ,
Cởi bỏ mười dây kiết sử ra.
DỨT TÍCH TRƯỞNG LÃO XÁ LỢI PHẤT TỰ TÍN
Sāriputtattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Assaddhoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto sāriputtattheraṃ ārabbha kathesi.
Ekasmiñhi samaye tiṃsamattā āraññakā bhikkhū satthu santikaṃ āgantvā vanditvā nisīdiṃsu. Satthā tesaṃ saha paṭisambhidāhi arahattassūpanissayaṃ disvā sāriputtattheraṃ āmantetvā “saddahasi tvaṃ, sāriputta, saddhindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amatapariyosāna”nti (saṃ. ni. 5.514) evaṃ pañcindriyāni ārabbha pañhaṃ pucchi. Thero “na khvāhaṃ, bhante, ettha bhagavato saddhāya gacchāmi, saddhindriyaṃ…pe… amatapariyosānaṃ. Yesañhetaṃ, bhante, aññātaṃ assa adiṭṭhaṃ aviditaṃ asacchikataṃ aphassitaṃ paññāya, te tattha paresaṃ saddhāya gaccheyyuṃ. Saddhindriyaṃ…pe… amatapariyosāna”nti (saṃ. ni. 5.514) evaṃ taṃ pañhaṃ byākāsi. Taṃ sutvā bhikkhū kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ “sāriputtatthero micchāgahaṇaṃ neva vissajjesi, ajjāpi sammāsambuddhassa na saddahatiyevā”ti. Taṃ sutvā satthā “kiṃ nāmetaṃ, bhikkhave, vadetha. Ahañhi ‘pañcindriyāni abhāvetvā samathavipassanaṃ avaḍḍhetvā maggaphalāni sacchikātuṃ samattho nāma atthīti saddahasi tvaṃ sāriputto’ti pucchiṃ. So ‘evaṃ sacchikaronto atthi nāmāti na saddahāmi, bhante’ti kathesi. Na dinnassa vā katassa vā phalaṃ vipākaṃ na saddahati, nāpi buddhādīnaṃ guṇaṃ na saddahati. Eso pana attanā paṭividdhesu jhānavipassanāmaggaphaladhammesu paresaṃ saddhāya na gacchati. Tasmā anupavajjo”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Assaddho akataññū ca, sandhicchedo ca yo naro,
Hatāvakāso vantāso, sa ve uttamaporiso”ti.
Tassatho – attano paṭividdhaguṇaṃ paresaṃ kathāya na saddahatīti assaddho. Akataṃ nibbānaṃ jānātīti akataññū, sacchikatanibbānoti attho. Vaṭṭasandhiṃ, saṃsārasandhiṃ chinditvā ṭhitoti sandhicchedo. Kusalākusalakammabījassa khīṇattā nibbattanāvakāso hato assāti hatāvakāso. Catūhi maggehi kattabbakiccassa katattā,sabbā āsā iminā vantāti vantāso. So evarūpo naro. Paṭividdhalokuttaradhammatāya purisesu uttamabhāvaṃ pattoti purisuttamoti.
Gāthāvasāne te āraññakā tiṃsamattā bhikkhū saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇiṃsu. Sesajanassāpi satthikā dhammadesanā ahosīti.
Sāriputtattheravatthu aṭṭhamaṃ.
VII. 8. Not by the Faith of Another
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
97. That man who is free from credulity...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Elder Sāriputta.
For one day thirty forest-dwellers approached the Teacher, paid obeisance to him, and sat down. The Teacher, seeing that they possessed the requisite faculties for attaining Arahatship, addressed Elder Sāriputta as follows, “Sāriputta, do you believe that the quality of faith, when it has been developed and enlarged, is connected with the Deathless and terminates in the Deathless?” In this manner the Teacher questioned the Elder with reference to the Five Moral Qualities.
Said the Elder, “Reverend Sir, I do not go by the faith of the Exalted One in this matter, that the quality of faith, when it has been developed and enlarged, is connected with the Deathless and terminates in the Deathless. But of course, Reverend Sir, those who have not known the Deathless or seen or perceived or realized or grasped the Deathless by the power of reason, such persons must of necessity go by the faith of others in this matter; namely, that the faculty of faith, when it has been developed and enlarged, is connected with the Deathless and terminates in the Deathless.” Thus did the Elder answer his question.
When the monks heard this, they began a discussion: “Elder Sāriputta has never really given up false views. Even to-day he refused to believe even the Supremely Enlightened One.” When the Teacher heard this, he said, “Monks, why do you say this? For I asked Sāriputta the following question, ‘Sāriputta, do you believe that without developing the Five Moral Qualities, without developing Tranquillity and Spiritual Insight, it is possible for a man to realize the Paths and the Fruits?’ And he answered me as follows, ‘There is no one who can thus realize the Paths and the Fruits.’ Then I asked him, ‘Do you not believe that there is such a thing as the ripening of the fruit of almsgiving and good works? Do you not believe in the virtues of the Buddhas and the rest?’ But as a matter of fact, Sāriputta walks not by the faith of others, for the reason that he has, in and by himself, attained states of mind to which the Paths and the Fruits lead, by the power of Spiritual Insight induced by Ecstatic Meditation. Therefore he is not open to censure.” So saying, he joined the connection, and preaching the Law, pronounced the following Stanza,
97. That man who is free from credulity, who knows the Uncreate, who has brought rebirth to an end,
Who has put an end to every occasion of good and evil, who has renounced all desires, that man is the greatest of men.
- Text: N ii. 186-188.
- The indriya: faith (saddhā), energy (viriya), mindfulness (sati) concentration (samādhi) and wisdom (paññā).
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.