Chú giải Pháp Cú · Kệ 112 · Dhp 112

Tích Trưởng Lão Xà Nô

Sappadāsattheravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 112 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngàn, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 112)

“Yo ca vassasataṃ jīve,
Kusīto hīnavīriyo;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo,
Viriyaṃ ārabhato1 daḷhaṃ.”

“Ai sống một trăm năm,
Lười nhác không Tinh tấn,
Tốt hơn sống một ngày,
Tinh tấn tận sức mình.”

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết khi Ngài ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến Trưởng lão Sappadāsa (Xà Nô).

Tương truyền rằng: Trong thành Sāvatthī (Xá Vệ) có một thanh niên con nhà gia giáo, sau khi được nghe Đức Bổn Sư thuyết pháp, đã xuất gia lên Tỳ khưu. Một thời gian sau, vị này bất mãn vì hành đạo không tiến triển, nhưng tự nghĩ: “Con nhà gia giáo như ta mà hoàn tục sống đời cư sĩ thì không đứng đắn, thà là chết trong đạo còn hơn.”. Thế rồi vị Tỳ khưu bất mãn đi lang thang, tìm phương thế để tự sát.

Một hôm nọ, vào sáng sớm các Tỳ khưu đã tắm gội, thọ thực xong đi vào chùa, gặp con rắn trong nhà khói (Aggisālā), các Ngài bắt nó bỏ vào trong cái bình, đậy nắp lại rồi mang bình ra khỏi chùa.

Vị Tỳ khưu bất mãn cũng vừa thọ thực xong đi vào thì gặp Chư Tăng đi ra, liền hỏi: Viriyamārabhato (theo bản Pāḷi của CSCD/Dhammagiri. India)

- Cái chi đây, các đạo hữu?

- Con rắn, này đạo hữu.

- Các Ngài sẽ làm gì nó?

- Chúng tôi đem nó đi quăng cho xa.

Nghe Chư Tăng nói vậy, vị Tỳ khưu tính thầm: “Ta sẽ cho con rắn nầy cắn ta chết.”. Thế nên, vị này nói với Chư Tăng: “Các đạo hữu hãy đưa tôi, tôi sẽ không quăng nó đâu.”.

Chư Tăng trao cái bình qua vị Tỳ khưu, vị này ôm cái bình đi kiếm chỗ ngồi và nhử cho con rắn cắn mình, con rắn không chịu cắn, vị Tỳ khưu thọc tay vào bình quậy lung tung, rồi còn cạy miệng con rắn ra, đút ngón tay của mình vào nữa, nhưng con rắn vẫn không cắn vị này. Vị Tỳ khưu nghĩ thầm: “Con rắn nầy không phải loại rắn độc.”. Bèn bỏ nó đó mà đi vào chùa.

Khi ấy Chư Tăng hỏi vị Tỳ khưu:
- Đạo hữu đã quăng con rắn rồi phải không?

- Nầy các đạo hữu! Con rắn đó không phải là rắn độc.

- Nầy đạo hữu! Con rắn đó đã phùng mang, thở khì khì. Chúng tôi khó nhọc lắm mới bắt được nó, sao đạo hữu lại nói như vậy?

- Nầy các đạo hữu, chính tôi đã thọc tay vào bình cho nó cắn, đút ngón tay vào miệng chọc cho nó cắn, mà còn không được kia mà!

Nghe vậy Chư Tăng làm thinh.
Lại một hôm khác, ba Tỳ khưu tắm xong mang theo

hai lưỡi dao cạo vào chùa, bỏ dưới đất một lưỡi, còn một lưỡi dùng cạo tóc cho Chư Tăng.

Vị Tỳ khưu bất mãn lượm lưỡi dao bỏ quên trên đất, tính thầm: “Với lưỡi dao này ta sẽ cắt cổ tự tử.”. Đứng thẳng cần cổ, tự ví mình như một cái cây, đưa lưỡi dao sát cuống họng, vị Tỳ khưu quán xét lại Giới hạnh của mình từ lúc thọ Giới Tỳ khưu đến nay thì thấy Giới của mình hoàn toàn trong sạch, không tỳ vết, vô nhiễm như mặt trăng rằm, tinh khiết như ngọc Ma ni. Quán thấy Giới mình được như vậy, vị Tỳ khưu phát tâm hỷ lạc, toàn thân vui sướng chẳng cùng.

Sau khi Xả bỏ Hỷ lạc, phát triển Tuệ Minh sát vị Tỳ khưu đắc quả A La Hán với Tuệ Phân tích, rồi bèn cầm lưỡi dao cạo đi vào giữa chùa. Chư Tăng hỏi vị ấy:

- Đạo hữu nãy giờ đi đâu?

- Thưa các đạo hữu, với lưỡi dao nầy tôi đã đi cắt cuống họng, tự tử.

- Thế sao đạo hữu không chết?

- Khi cầm con dao nầy đi ra, tôi tự nhủ: “Ta không có thể sống dưới dao bén nầy, ta sẽ cắt đứt cuống họng của ta.” Thì bỗng nhiên lưỡi dao Trí tuệ đã cắt đứt tất cả phiền não của tôi.

Các Tỳ khưu cho là vị này nói dối, phạm giới đại vọng ngữ, nên đi mách với Đức Bổn Sư. Đức Thế Tôn nghe Chư Tăng tường trình xong liền giải thích rằng:

- Nầy các Tỳ khưu, các bậc Lậu tận không bao giờ tự tay cắt đi sinh mạng của mình1. 1. Như lời Phật dạy, vị A La Hán không bao giờ tự sát, vị Tỳ khưu trong Phật giáo tự sát phạm tội tác ác, phải sa Địa ngục bảy ngày sau khi chết. Nhưng cũng có trường hợp tự sát mà đắc A La Hán trong giờ phút chót, như Trưởng lão Cồ Điệt (Godhika) (Kệ Pháp Cú số 57, Phẩm Hoa).

- Bạch Ngài, Ngài dạy rằng vị này là bậc Lậu tận, nếu đã đầy đủ căn lành để đắc quả A La Hán, tại sao vị này còn bất mãn? Do đâu mà vị ấy đắc quả A La Hán và tại sao con rắn không cắn vị này?

- Nầy các Tỳ khưu, vì lẽ con rắn ấy đã từng là nô bộc của vị ấy trong ba kiếp, cho nên nay nó không cố gắng cắn mổ thân thể của chủ nó.

Bằng bấy nhiêu lời, Đức Bổn Sư đã chỉ cho các Tỳ khưu thấy được một nguyên do. Do vậy, từ đó về sau Trưởng lão được mệnh danh là Sappadāsa (Xà Nô). Cũng do lời Đức Thế Tôn thuật lại, trong thời của Đức Phật Kassapa (Ca Diếp), có một thanh niên con nhà khá giả, sau khi nghe pháp của Đức Giáo Chủ, phát tâm kinh cảm liền xin xuất gia và được thọ giới Tỳ khưu. Một thời gian sau, sanh tâm buồn chán, vị ấy bày tỏ nỗi lòng cho một Tỳ khưu bạn biết. Vị sau này thường thuyết giảng, nhắc bạn về sự bất lợi tội lỗi của đời sống tại gia. Nhờ nghe pháp, vị trước lại vui thích sống trong Giáo Pháp, mới đem những vật phụ tùng để hành Sa môn pháp mà khi trước mình đã bỏ cho lem uế, đến ngồi bên một bờ ao để giặt giũ cho sạch bụi. Vị Tỳ khưu bạn cũng đến ngồi gần đó, vị kia nói với bạn rằng:

- Nầy đạo hữu, khi muốn hoàn tục, tôi đã có ý định tặng đạo hữu tất cả những vật phụ tùng mấy. Trường hợp của Trưởng lão Xà Nô lại khác: Ngài không chết vì chưa cắt cổ mà đã đắc A La Hán, do đó ý nghĩ tự sát không còn. Ngài chỉ cắt đứt phiền não bằng lưỡi dao Trí tuệ mà thôi. – Chỗ nầy bản dịch của ông Phạm Kim Khánh có hơi khác: “… Thầy lấy dao tự cắt lấy cuống họng, lúc cắt xong Thầy suy niệm về đời sống toàn thiện, tận lực cố gắng Tham thiền và đắc quả A La Hán trước khi nhắm mắt…”. Sự khác biệt nầy có lẽ xuất phát từ nguyên bản Pāḷi, tức là có hai bản chánh khác nhau vậy. TKPM

- Vị Tỳ khưu bạn sanh lòng tham muốn, nghĩ rằng “Bạn ta còn tu hay không còn tu, đối với ta có nghĩa gì? Ta đừng để phí mất những vật phụ tùng này.”. Từ đó về sau, vị Tỳ khưu bạn thay đổi chiều hướng, thuyết pháp ca tụng đời sống tại gia, chẳng hạn như: “Nầy đạo hữu tại sao ta cứ mãi sống đời sống xuất gia, hằng ngày ôm bát đi khất thực nơi những gia đình người khác? Tại sao ta không ở nhà vui thú đoàn viên, chuyện trò thân mật với vợ con ta?”.

Nghe bạn thốt lời như thế, vị Tỳ khưu kia lại bất mãn, nghĩ thầm rằng: “Bạn ta lúc trước nghe ta ngỏ ý bất mãn đời sống Phạm hạnh thì đã thuyết pháp chỉ rõ sự bất mãn tội lỗi đời sống tại gia, bây giờ lại thường xuyên ca tụng là tại cớ gì?”. Suy xét kỹ, vị ấy biết bạn mình vì có tâm tham muốn được những vật phụ tùng này nên mới trở lòng như vậy. Đó là cái nhân bất mãn từ thời Đức Phật Kassapa còn lưu lại đến bây giờ, khiến vị Tỳ khưu này có tâm bất mãn. Còn công phu tu hành Sa môn Pháp suốt hai muôn năm qua là nhân khiến cho vị này có duyên đắc quả A La Hán.

Chư Tăng nghe Đức Thế Tôn giải thích đủ ba nguyên do rồi, còn đặt thêm một câu hỏi nữa:

- Bạch Ngài, nghe nói Tỳ khưu này trong lúc đứng kê lưỡi dao sát cuống họng thì đắc A La Hán ngay. Như thế thì A La Hán đạo phát sanh trong một khoảnh khắc ngắn ngủi bằng một sát na hay sao?

- Phải đó! Nầy các Tỳ khưu! Tỳ khưu nào chuyên cần Tinh tấn, giở bàn chân lên rồi đặt trở xuống đất, bàn chân chưa tới đất A La Hán đạo đã phát sanh rồi. Đời sống của vị chuyên cần Tinh tấn, dầu trong giây lát còn quí báu hơn đời sống của người một trăm tuổi mà biếng nhác giải đãi.

Nói rồi, Đức Thế Tôn thuyết pháp và kết luận bằng kệ rằng:

“Yo ca vassasataṃ jīve,
Kusīto hīnavīriyo;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo,
Viriyaṃ ārabhato daḷhanti.”
“Dầu cho sống cả trăm năm,
Mà lười biếng, chẳng tận tâm tu hành.
Không bằng sống một ngày lành,
Luôn luôn Tinh tấn, nhiệt thành nhất tâm.”

CHÚ GIẢI:

Kusīto: người miệt mài truy hoan, chú tâm đi tìm dục lạc (bằng ba cái tầm: Tīhi vitakkehi).

Hīnavīriyo: đồng nghĩa với Nibbīriyo là không Tinh tấn.

Viriyaṃ arabhato daḷhaṃ: đây là đề cập đến sự tinh tấn, có thể đưa hành giả chứng Níp Bàn, bằng hai pháp Thiền Chỉ và Quán.

Các câu khác còn lại đồng nghĩa như trước.

Cuối thời Pháp, nhiều vị Tỳ khưu đắc Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả.

Trưởng lão Xà Nô quá chán đời,
Thò tay chọc rắn cắn mình chơi,
Rắn quen chủ cũ, không thèm cắn,
Ngài thả cho đi, bảo: Rắn lười!
Lại lượm con dao, dựa nhánh cây,
Nguyện rằng: “Cắt cổ với dao này,
Não phiền sẽ sạch không dư sót,
Mạng sống cũng đành dứt tại đây!”
Nhưng khi quán xét Giới mình xong,
Trưởng lão đắc ngay Lậu tận thông,
Tăng chúng hỏi Ngài: “Sao chẳng chết?”
Ngài rằng: “Nhờ chứng được Tâm không!”
Tăng chúng hoài nghi hỏi Phật Đà,
Phật rằng: Chỉ sống một ngày qua,
Chuyên cần Tinh tấn còn hơn sống,
Suốt cả trăm năm giải đãi mà!

DỨT TÍCH TRƯỞNG LÃO XÀ NÔ

Sappadāsattheravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Yo ca vassasataṃ jīveti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto sappadāsattheraṃ ārabbha kathesi.

Sāvatthiyaṃ kireko kulaputto satthu dhammadesanaṃ sutvā pabbajitvā laddhūpasampado aparena samayena ukkaṇṭhitvā “mādisassa kulaputtassa gihibhāvo nāma ayutto, pabbajjāya ṭhatvā maraṇamhi me seyyo”ti cintetvā attano maraṇūpāyaṃ cintento vicarati. Athekadivasaṃ pātova katabhattakiccā bhikkhū vihāraṃ gantvā aggisālāya sappaṃ disvā taṃ ekasmiṃ kuṭe pakkhipitvā kuṭaṃ pidahitvā ādāya vihārā nikkhamiṃsu. Ukkaṇṭhitabhikkhupi bhattakiccaṃ katvā āgacchanto te bhikkhū disvā “kiṃ idaṃ, āvuso”ti pucchitvā “sappo, āvuso”ti vutte iminā “kiṃ karissathā”ti? “Chaḍḍessāma na”nti. Tesaṃ vacanaṃ sutvā “iminā attānaṃ ḍaṃsāpetvā marissāmī”ti “āharatha, ahaṃ taṃ chaḍḍessāmī”ti tesaṃ hatthato kuṭaṃ gahetvā ekasmiṃ ṭhāne nisinno tena sappena attānaṃ ḍaṃsāpeti, sappo ḍaṃsituṃ na icchati. So kuṭe hatthaṃ otāretvā ito cito ca āloleti, ghorasappassa mukhaṃ vivaritvā aṅguliṃ pakkhipati, neva naṃ sappo ḍaṃsi. So “nāyaṃ āsīviso, gharasappo eso”ti taṃ pahāya vihāraṃ agamāsi. Atha naṃ bhikkhū “chaḍḍito te, āvuso, sappo”ti āhaṃsu. “Na so, āvuso, ghorasappo, gharasappo eso”ti. “Ghorasappoyevāvuso, mahantaṃ phaṇaṃ katvā susuyanto dukkhena amhehi gahito, kiṃ kāraṇā evaṃ tvaṃ vadesī”ti āhaṃsu. “Ahaṃ, āvuso, tena attānaṃ ḍaṃsāpentopi mukhe aṅguliṃ pakkhipentopi taṃ ḍaṃsāpetuṃ nāsakkhi”nti. Taṃ sutvā bhikkhū tuṇhī ahesuṃ.

Athekadivasaṃ nhāpito dve tayo khure ādāya vihāraṃ gantvā ekaṃ bhūmiyaṃ ṭhapetvā ekena bhikkhūnaṃ kese ohāreti. So bhūmiyaṃ ṭhapitaṃ khuraṃ gahetvā “iminā gīvaṃ chinditvā marissāmī”ti ekasmiṃ rukkhe gīvaṃ upanidhāya khuradhāraṃ galanāḷiyaṃ katvā ṭhito upasampadāmāḷato paṭṭhāya attano sīlaṃ āvajjento vimalacandamaṇḍalaṃ viya sudhotamaṇikhandhamiva ca nimmalaṃ sīlaṃ addasa. Tassa taṃ olokentassa sakalasarīraṃ pharantī pīti uppajji. So pītiṃ vikkhambhetvā vipassanaṃ vaḍḍhento saha paṭisambhidāhi arahattaṃ patvā khuraṃ ādāya vihāramajjhaṃ pāvisi. Atha naṃ bhikkhū “kahaṃ gatosi, āvuso”ti pucchiṃsu. “‘Iminā khurena galanāḷiṃ chinditvā marissāmī’ti gatomhi, āvuso”ti. Atha “kasmā na matosī”ti? Idānimhi satthaṃ āharituṃ abhabbo jāto. Ahañhi “iminā khurena galanāḷiṃ chindissāmī”ti ñāṇakhurena sabbakilese chindinti. Bhikkhū “ayaṃ abhūtena aññaṃ byākarotī”ti bhagavato ārocesuṃ. Bhagavā tesaṃ kathaṃ sutvā āha – “na, bhikkhave, khīṇāsavā nāma sahatthā attānaṃ jīvitā voropentī”ti. Bhante, tumhe imaṃ “khīṇāsavo”ti vadatha, evaṃ arahattūpanissayasampanno panāyaṃ kasmā ukkaṇṭhati, kimassa arahattūpanissayakāraṇaṃ “kasmā so sappo etaṃ na ḍaṃsatī”ti? “Bhikkhave, so tāva sappo imassa ito tatiye attabhāve dāso ahosi, so attano sāmikassa sarīraṃ ḍaṃsituṃ na visahatī”ti. Evaṃ tāva nesaṃ satthā ekaṃ kāraṇaṃ ācikkhi. Tato paṭṭhāya ca so bhikkhu sappadāso nāma jāto.

Kassapasammāsambuddhakāle kireko kulaputto satthu dhammakathaṃ sutvā uppannasaṃvego pabbajitvā laddhūpasampado aparena samayena anabhiratiyā uppannāya ekassa sahāyakassa bhikkhuno ārocesi. So tassa abhiṇhaṃ gihibhāve ādīnavaṃ kathesi. Taṃ sutvā itaro sāsane abhiramitvā pubbe anabhiratakāle malaggahite samaṇaparikkhāre ekasmiṃ soṇḍitīre nimmale karonto nisīdi. Sahāyakopissa santikeyeva nisinno. Atha naṃ so evamāha – “ahaṃ, āvuso, uppabbajanto ime parikkhāre tuyhaṃ dātukāmo ahosi”nti. So lobhaṃ uppādetvā cintesi – “iminā mayhaṃ pabbajitena vā uppabbajitena vā ko attho, idāni parikkhāre gaṇhissāmī”ti. So tato paṭṭhāya “kiṃ dānāvuso, amhākaṃ jīvitena, ye mayaṃ kapālahatthā parakulesu bhikkhāya carāma, puttadārehi saddhiṃ ālāpasallāpaṃ na karomā”tiādīni vadanto gihibhāvassa guṇaṃ kathesi. So tassa kathaṃ sutvā puna ukkaṇṭhito hutvā cintesi – “ayaṃ mayā ‘ukkaṇṭhitomhī’ti vutte paṭhamaṃ gihibhāve ādīnavaṃ kathetvā idāni abhiṇhaṃ guṇaṃ katheti, ‘kiṃ nu kho kāraṇa”’nti cintento “imesu samaṇaparikkhāresu lobhenā”ti ñatvā sayameva attano cittaṃ nivattesi. Evamassa kassapasammāsambuddhakāle ekassa bhikkhuno ukkaṇṭhāpitattā idāni anabhirati uppannā. Yo pana teneva tadā vīsati vassasahassāni samaṇadhammo kato, svassa etarahi arahattūpanissayo jātoti.

Imamatthaṃ te bhikkhū bhagavato santikā sutvā uttariṃ pucchiṃsu – “bhante, ayaṃ kira bhikkhu khuradhāraṃ galanāḷiyaṃ katvā ṭhitova arahattaṃ pāpuṇāti, uppajjissati nu kho ettakena khaṇena arahattamaggo”ti. “Āma, bhikkhave, āraddhavīriyassa bhikkhuno pādaṃ ukkhipitvā bhūmiyaṃ ṭhapentassa pāde bhūmiyaṃ asampatteyeva arahattamaggo uppajjati. Kusītassa puggalassa hi vassasataṃ jīvanato āraddhavīriyassa khaṇamattampi jīvitaṃ seyyo”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā imaṃ gāthamāha –

“Yo ca vassasataṃ jīve, kusīto hīnavīriyo;
Ekāhaṃ jīvikaṃ seyyo, vīriyamārabhato daḷha”nti.

Tattha kusītoti kāmavitakkādīhi tīhi vitakkehi vītināmento puggalo. Hīnavīriyoti nibbīriyo. Vīriyamārabhato daḷhanti duvidhajjhānanibbattanasamatthaṃ thiraṃ vīriyaṃ ārabhantassa. Sesaṃ purimasadisameva.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Sappadāsattheravatthu ekādasamaṃ.

VIII. 11. On the Razor’s Edge

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

112. Though one should live a hundred years, idle, listless,
Yet were it better to live for a single day, and strive with might and main.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the Elder Sappadāsa.

At Sāvatthi, we are told, the son of a respectable family, after hearing the Teacher preach the Law, was received into the Order and made his full profession. Becoming discontented after a time, he thought to himself, “The life of a layman is not suited to a youth of station like me; but even death would be preferable to remaining a monk.” So he went about considering ways of killing himself.

Now one day, very early in the morning, the monks went to the monastery after breakfast, and seeing a snake in the hall where the fire was kept, put it into a jar, closed the jar, and carried it out of the monastery. The discontented monk, after eating his breakfast, drew near, and seeing the monks, asked them, “What’s that you’ve got, brethren?” “A snake, brother.” “What are you going to do with it?” “Throw it away.” The monk thought to himself, “I will commit suicide by letting the snake bite me.” So he said to the monks, “Let me take it; I’ll throw it away.”

He took the jar from their hands, sat down in a certain place, and tried to make the snake bite him. But the snake refused to bite him. Then he put his hand into the jar, waved it this way and that, opened the snake’s mouth and stuck his finger in, but the snake still refused to bite him. So he said to himself, “It’s not a poisonous snake, but a house-snake,” threw it away, and returned to the monastery. The monks asked him, “Did you throw the snake away, brother?” “Brethren, that was not a poisonous snake; it was only a house-snake.” “Brother, that was a poisonous snake, all the same; it spread its hood wide, hissed at us, and gave us much trouble to catch. Why do you talk thus?” “Brethren, I tried to make it bite me, and even stuck my finger into its mouth, but I couldn’t make it bite.” When the monks heard this, they were silent.

Now the discontented monk acted as barber of the monastery; and one day he went to the monastery with two or three razors, and laying one razor on the floor, cut the hair of the monks with the other. When he removed the razor from the floor, the thought occurred to him, “I will cut my throat with this razor and so put myself out of the way.” So he went to a certain tree, leaned his neck against a branch, and applied the blade of the razor to his windpipe. Remaining in this position, he reflected upon his conduct from the time of his full profession, and perceived that his conduct was flawless, even as the spotless disk of the moon or a cluster of transparent jewels. As he surveyed his conduct, a thrill of joy suffused his whole body. Suppressing the feeling of joy and developing Spiritual Insight, he attained Arahatship together with the Supernatural Faculties. Then he took his razor and entered the monastery inclosure.

The monks asked him, “Where did you go, brother?” “Brethren, I went out thinking to myself, ‘I will cut my windpipe with this razor and so put myself out of the way.’ ” “How did you escape death?” “I can no longer carry a knife. For I said to myself, ‘With this razor will I sever my windpipe.’ But instead of so doing, I severed the Depravities with the Razor of Knowledge.” The monks said to themselves, “This monk speaks falsely, says what is untrue,” and reported the matter to the Exalted One. The Exalted One listened to their words and replied, “Monks, those that have rid themselves of the Depravities are incapable of taking their own life.” “Reverend Sir, you speak of this monk as one who has rid himself of the Depravities. But how comes it that this monk, possessed of the faculties requisite for the attainment of Arahatship, became discontented? How came he to possess those faculties? Why did not that snake bite him?” “Monks, the simple fact is that that snake was his slave in his third previous existence, and therefore did not dare to bite the body of his own master.” Thus briefly did the Teacher explain this cause to them. Thereafter that monk was known as Sappadāsa. (’Having a snake as his slave.’)

11a. Story of the Past: Discontented and covetous

In the dispensation of the Buddha Kassapa, we are told, a certain youth of respectable family, having heard the Teacher preach the Law, was moved to enter the Order. Some time after he had made his full profession, discontent arose within him, and he spoke of it to a certain fellow-monk. The latter spoke to him repeatedly of the disadvantages connected with the life of a householder. The monk listened to his words, and became satisfied once more with the Religious Life.

One day he was seated on the bank of a pool cleansing his monastic utensils of spots they had taken on in the days of his discontent, and his fellow-monk was seated beside him. Said he to his fellow-monk, “Brother, it was my intention on leaving the Order to give these utensils to you.” His fellow-monk thought, “What difference does it make to me whether this monk remains in the Order or leaves it? Now I shall get his utensils away from him.” From that time on, his fellow-monk would say to him, “How now, brother! What is the use of our living, we who go from house to house with potsherds in our hands seeking alms and are forbidden to talk and converse with son and wife?” This and much else did his fellow-monk say to him, dwelling on the advantages of the life of a householder. From listening to the talk of his fellow-monk, he became discontented again. Then the thought occurred to him, “At first, when I told this monk that I was discontented, he spoke of the disadvantages of the life of a householder; now, however, he dwells repeatedly on its advantages; I wonder what can be the reason.” The reason flashed through his mind, “It is because he covets these monastic utensils of mine.” End of Story of the Past.

“Thus it was that because a certain monk became discontented in the dispensation of the Buddha Kassapa, he became discontented in the present time; and because he meditated then for twenty thousand years, he obtained at the present time the faculties requisite for the attainment of Arahatship.” The monks, after hearing the Exalted One explain this matter, asked him a further question, “Reverend Sir, this monk says that he attained Arahatship even as he stood with the blade of his razor pressed against his windpipe. Is it possible to gain the Path of Arahatship in so short a period of time?” “Yes, monks, a monk who strives with all his might may gain the Path of Arahatship in raising his foot, in setting his foot on the ground, or even before his foot touches the ground. For it is better for a man who strives with all his might to live but a single instant than for an idle man to live a hundred years.” So saying, he joined the connection, and preaching the Law, he pronounced the following Stanza,

112. Though one should live a hundred years, idle, listless,
Yet were it better to live for a single day, and strive with might and main.

  1. Cf. Thera-Gāthā Commentary, ccxv. Text: N ii. 256-260.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.