Tích Trưởng Lão Kiều Trần Như Gốc Cây
Khāṇukoṇḍaññattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 111 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngàn, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 111)
“Yo ca vassasataṃ jīve,
Duppañño asamāhito;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo,
Paññavantassa jhāyino.”
“Ai sống một trăm năm,
Ác tuệ, không Thiền định,
Tốt hơn sống một ngày,
Có tuệ, tu Thiền định”.
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết khi Ngài ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến Trưởng lão Khāṇukoṇḍañña (Kiều Trần Như Gốc Cây).
Tương truyền: Sau khi thọ giáo đề mục nơi Đức Bổn Sư, Trưởng lão an cư trong rừng, hành đạo đắc quả A La Hán, định về báo tin mừng với Đức Bổn Sư. Đi đường xa mệt mỏi, Trưởng lão dừng chân rẽ vào ngồi nhập Định trên một tảng đá bằng phẳng.
Khi ấy, có một bọn cướp năm trăm tên, vừa mới đánh phá một làng nọ, vơ vét tài vật, gói ghém cột lại, phần người nào người ấy mang đi. Đường xa mệt mỏi, chúng định nghỉ chân, tìm một tảng đá phẳng đặt các gói đồ xuống, rẽ vào tảng đá phẳng có vị Trưởng lão ngồi, nhưng chúng không thấy Ngài, tưởng rằng: “Đây là một gốc cây”.
Thế rồi, một tên cướp đặt gói đồ của mình lên đầu Trưởng lão, một tên khác lại đặt một gói nữa chồng lên trên. Cứ như thế năm trăm tên cướp đặt năm trăm gói hàng lên mình Trưởng lão rồi nằm lăn ra ngủ. Ngủ đã rồi khi mặt trời mọc, bọn cướp mới thức dậy, mạnh ai nấy nhặt gói đồ của mình, sực thấy Trưởng lão chúng tưởng là phi nhân, kinh hoàng bỏ chạy, Trưởng lão bèn gọi họ lại:
- Nầy các Thiện nam đừng sợ, ta là người xuất gia mà.
Bọn cướp quay lại nằm mọp dưới chân Trưởng lão xin sám hối: tưởng lầm Ngài là một gốc cây.
Được Trưởng lão miễn lỗi rồi, tên đầu đảng ngỏ lời xin xuất gia với Trưởng lão, nghe vậy tất cả đồng đảng cũng đồng xin xuất gia một lượt với chúa đảng.
Y như Sa di Saṅkicca (Đòn Xóc), Trưởng lão đã cho năm trăm tên cướp xuất gia. Từ đó về sau Trưởng lão được biết với biệt danh là: Kiều Trần Như gốc cây (khāṇukoṇḍañña).
Trưởng lão vầy đoàn với năm trăm Tỳ khưu mới này về yết kiến với Đức Bổn Sư, Đức Bổn Sư hỏi: “Nầy Kiều Trần Như, thầy mới kiếm được những đệ tử phải không?”.
Nghe vậy Trưởng lão đem hết mọi việc đã qua, thuật lại với Đức Bổn Sư. Ngài hỏi lại: “Nầy các Tỳ khưu, có đúng như vậy chăng?”.
- Bạch Ngài, đúng thật như vậy. Chúng con đã xuất gia với Trưởng lão, vì chúng con chưa từng thấy ai có thần lực như Trưởng lão cả.
Nghe vậy, Đức Bổn Sư dạy rằng:
- Nầy các Tỳ khưu, lúc trước các thầy đã tạo nghiệp Vô Trí tuệ như thế, thì dầu có sống cả trăm năm cũng vô ích không bằng bây giờ chỉ sống một ngày thôi mà có đầy đủ Trí tuệ, tu hành Thiền định.
Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết pháp và kết luận bằng bài kệ rằng:
“Yo ca vassasataṃ jīve,
Duppañño asamāhito;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo,
Paññavantassa jhāyino.”
“Dầu cho sống cả trăm năm,
Thiếu Trí tuệ, chẳng hành thâm pháp Thiền.
Không bằng sống một ngày nguyên,
Là có Trí tuệ, tu Thiền nhất tâm”.
CHÚ GIẢI:
Duppaññno: đồng nghĩa với Nippañño là Vô Trí tuệ.
Paññavantassa: sáng, suốt, có Trí tuệ.
Phần còn lại đồng nghĩa với bài Kệ trước.
Cuối thời Pháp năm trăm Tỳ khưu đắc quả A La Hán với Tuệ Phân tích. Kỳ dư đại chúng đều hưởng được sự lợi ích nhờ thời Pháp của Đức Bổn Sư.
Trưởng lão nhập Thiền như gốc cây,
Nửa đêm, bọn cướp chạy vào đây,
Máng đồ lên đó, lăn ra ngủ,
Sáng dậy, kêu nhau sám hối thầy!
Bỏ nghề cường đạo, xuất gia liền,
Tất cả theo thầy học đạo Thiền,
Thầy trước, trò sau về viếng Phật,
Cùng nhau sấn bước đến Kỳ Viên.
Phật dạy các thầy mới xuất gia:
Một ngày có Tuệ, có Thiền na,
Còn hơn trăm tuổi không Thiền, Tuệ,
Phóng đãng như thời gian đã qua!
DỨT TÍCH TRƯỞNG LÃO KIỀU TRẦN NHƯ GỐC CÂY
Khāṇukoṇḍaññattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Yo ca vassasataṃ jīveti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto khāṇukoṇḍaññattheraṃ ārabbha kathesi.
So kira thero satthu santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā araññe viharanto arahattaṃ patvā “satthu ārocessāmī”ti tato āgacchanto antarāmagge kilanto maggā okkamma ekasmiṃ piṭṭhipāsāṇe nisinno jhānaṃ samāpajji. Athekaṃ gāmaṃ vilumpitvā pañcasatā corā attano balānurūpena bhaṇḍikaṃ bandhitvā sīsenādāya gacchantā dūraṃ gantvā kilantarūpā “dūraṃ āgatāmha, imasmiṃ piṭṭhipāsāṇe vissamissāmā”ti maggā okkamma piṭṭhipāsāṇassa santikaṃ gantvā theraṃ disvāpi “khāṇuko aya”nti saññino ahesuṃ. Atheko coro therassa sīse bhaṇḍikaṃ ṭhapesi, aparopi taṃ nissāya bhaṇḍikaṃ ṭhapesi. Evaṃ pañcasatāpi corā pañcahi bhaṇḍikasatehi theraṃ parikkhipitvā sayampi nisinnā niddāyitvā aruṇuggamanakāle pabujjhitvā attano attano bhaṇḍikaṃ gaṇhantā theraṃ disvā “amanusso”ti saññāya palāyituṃ ārabhiṃsu. Atha ne thero āha – “mā bhāyittha upāsakā, pabbajito aha”nti. Te therassa pādamūle nipajjitvā “khamatha, bhante, mayaṃ khāṇukasaññino ahumhā”ti theraṃ khamāpetvā corajeṭṭhakena “ahaṃ ayyassa santike pabbajissāmī”ti vutte sesā “mayampi pabbajissāmā”ti vatvā sabbepi ekacchandā hutvā theraṃ pabbajjaṃ yāciṃsu. Thero saṃkiccasāmaṇero viya sabbepi te pabbājesi. Tato paṭṭhāya khāṇukoṇḍaññoti paññāyi. So tehi bhikkhūhi saddhiṃ satthu santikaṃ gantvā satthārā “kiṃ, koṇḍañña, antevāsikā te laddhā”ti vutte taṃ pavattiṃ ārocesi. Satthā “evaṃ kira, bhikkhave”ti pucchitvā, “āma, bhante, na no aññassa evarūpo ānubhāvo diṭṭhapubbo, tenamhā pabbajitā”ti vutte, “bhikkhave, evarūpe duppaññakamme patiṭṭhāya vassasataṃ jīvanato idāni vo paññāsampadāya vattamānānaṃ ekāhampi jīvitaṃ seyyo”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Yo ca vassasataṃ jīve, duppañño asamāhito;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo, paññavantassa jhāyino”ti.
Tattha duppañño nippañño. Paññavantassāti sappaññassa. Sesaṃ purimasadisamevāti.
Desanāvasāne pañcasatāpi te bhikkhū saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇiṃsu. Sampattamahājanassāpi sātthikā dhammadesanā ahosīti.
Khāṇukoṇḍaññattheravatthu dasamaṃ.
VIII. 10. The Monk and the Thieves
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
111. Though one should live a hundred years...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the Elder Khāṇu Koṇḍañña.
This Elder, it appears, obtained a Formula of Meditation from the Teacher, and while residing in the forest attained Arahatship. Desiring to inform the Teacher of his attainment, he set out to return from the forest. Growing tired by the way, he left the road, seated himself on a flat stone, and entered into a state of trance. Now at that time a band of five hundred thieves plundered a village, packed up their spoils in sacks of sizes proportioned to the strength of their several members, placed the sacks on their heads, and carried them for a long distance. Becoming weary, they said to themselves, “We have come a long distance; let us rest on the top of this flat rock.” So saying, they left the road, went to the rock, and mistook the Elder for the stump of a tree. One of the thieves placed his sack on the Elder’s head, and another placed his sack near his body. One after another, the five hundred thieves set their sacks in a circle about him and then lay down and went to sleep.
At dawn they woke up and took their sacks. Seeing the Elder, and thinking he was an evil spirit, they started to run away. The Elder said to them, “Lay disciples, have no fear; I am a monk.” Thereupon they prostrated themselves before his feet and begged his pardon, saying, “Pardon us, Reverend Sir; we mistook you for the stump of a tree.” The ringleader of the thieves said, “I intend to become a monk under the Elder.” The rest said, “We also will become monks.” And with one accord all of the thieves requested the Elder to make monks of them. The Elder made monks of them all, just as did the novice Saṁkicca. From that time forward he went by the name of Stump Koṇḍañña, Khāṇu Koṇḍañña.
Accompanied by those monks, he went to the Teacher. When the Teacher asked him, “Koṇḍañña, you have obtained pupils?” he told him what had happened. The Teacher asked, “Monks, is this true?” “Yes, Reverend Sir; we never saw such an exhibition of magical power before and therefore we have become monks.” The Teacher replied, “Monks, it were better for you to live but a single day in the exercise of the wisdom you have just acquired than to live for a hundred years committing such acts of foolishness.” And joining the connection and instructing them in the Law, he pronounced the following Stanza,
111. Though one should live a hundred years, unwise, not meditating,
Yet were it better to live a single day possessed of wisdom, in meditation.
- Text: N ii. 254-255.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.