Chú giải Pháp Cú · Kệ 102–103 · Dhp 102–103

Tích Tỳ Khưu Ni Tóc Quăn

Kuṇḍalakesittherīvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 102–103 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngàn, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 102-103)

102. “Yo ca gāthāsataṃ bhāse,
Anatthapadasañhitā 1;
Ekaṃ dhammapadaṃ seyyo,
Yaṃ sutvā upasammati.”
“Dầu nói trăm câu kệ,
Nhưng không gì lợi ích,
Tốt hơn một câu Pháp,
Nghe xong, được tịnh lạc.”
103. “Yo sahassaṃ sahassena,
Saṅgāme mānuse jine;
Ekañca jeyyamattānaṃ,
Sa ve saṅgāmajuttamo.”
“Dầu tại bãi chiến trường,
Thắng ngàn ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng.”

Kệ Pháp Cú này, Đức Bổn Sư đã thuyết, khi Ngài an ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến Sư Cô Tóc Quăn (Kuṇḍalakesī). 1)

Anatthapadasaṃhitā (theo bản Pāli của CSCD/Dhammagiri. India).

Tương truyền: Trong thành Rājagaha (Vương Xá) có một nàng tiểu thư con nhà Bá hộ, tuổi vừa hai tám, nhan sắc tuyệt đẹp, con gái khi đến tuổi dậy thì, tình xuân lai láng chớm mộng, thường có ý kiếm chồng. Ông bà Bá hộ cắt một cô tỳ nữ theo giữ gìn, vừa hầu hạ phục vụ tiểu thư và cho hai chủ tở ở trong một căn phòng sang trọng trên tầng chót của tòa lâu đài bảy tầng.

Khi ấy có một chàng thanh niên con nhà tử tế (Kulaputta) lại hành nghề trộm cướp, bị dân chúng bắt trói thúc ké hai tay sau lưng, dẫn đến pháp trường hành quyết. Đến mỗi ngã tư đường, cậu ta bị dân chúng dùng roi đánh đập.

Tiểu thơ nghe tiếng ồn ào của dân chúng tự hỏi: “Cái gì vậy?”. Đứng trên lầu nhìn xuống thấy chàng trai, tiểu thơ phát tâm ái luyến, bỏ cả cơm nước nằm liệt giường.

Bà Bá hộ hỏi tiểu thư: “Con ơi! Con đau làm sao vậy?”.

- Nếu con được lấy chồng là chàng thanh niên bị buộc tội trộm cướp và bị dẫn đi đó, thì con sẽ còn sống. Bằng không chắc mạng căn của con sẽ tuyệt, con sẽ chết tại đây cho mẹ coi.

- Con chớ làm như thế. Con muốn có chồng thì để cha mẹ định đôi gả lứa, kiếm nơi môn đăng hộ đối với nhà ta mà kết sui gia. Con sẽ được lấy người khác làm chồng.

- Con không ưng chồng nào khác cả. Nếu không được chàng trai nầy thì nhất định con sẽ chết.

Thuyết phục con gái mình không được, bà Bá hộ báo tin cho chồng biết, ông cũng khuyên nàng không được. Cuối cùng, ông tự nghĩ: “Phải làm gì mới được đây?”.

Ông sai người nhà cầm ngàn đồng vàng, ra đón đường người lính giải tội, để hối lộ và xin phóng thích tội nhân. Người lính chấp nhận, nhận tiền rồi thả chánh phạm ra và giết chết một tội nhân khác để thế mạng, rồi gởi sớ tâu với đức Vua là tên cướp đã bị hành quyết rồi.

Ông Bá hộ lãnh tên cướp về giao cho tiểu thư.
Muốn làm đẹp lòng chồng, tiểu thư tự mình trang

điểm với tất cả nữ trang và lo việc cơm nước cho chồng hết sức chu đáo.

Nhưng qua mấy ngày sau, tên cướp khởi manh tâm: “Phải giết con này ở đâu để lấy những nữ trang nầy đem bán ở quán rượu rồi ăn nhậu cho thỏa thích.”. Anh ta lập mưu, từ chối những cơm, cháo, nằm liệt giường. Tiểu thơ ân cần hỏi chồng: “Anh có bịnh gì chăng?”.

- Không có bịnh chi cả em à!

- Hay là anh buồn giận cha mẹ em?

- Anh cũng không có buồn giận, em à!

- Nếu vậy anh có tâm sự gì thế?

- Em ơi! Trong khi bị bắt dẫn đi, anh có van vái Chư Thiên ngự nơi vực thẳm, chỗ tử hình (Corappapāte) nên mới được toàn mạng sống. Vả lại, anh được lấy em làm vợ đây, cũng nhờ oai lực của Chư Thiên. Cho nên anh suy nghĩ: “Phải làm sao trả lễ cúng tế Chư Thiên đó em à!”.

- Anh ơi! Anh đừng quá lo âu. Để rồi chúng ta sẽ cúng tế trả lễ Chư Thiên. Anh cho em biết mình cần những thứ gì?

- Cơm sữa nấu với mật ong và ít nước, cùng với ngũ cốc và hương hoa có vậy thôi.

- Lành thay! Anh ơi, để em lo sắm sửa đủ lễ vật rồi chúng mình sẽ đi cúng tế.

- Vậy thì, em ơi, em hãy bảo thân quyến lui về hết đi. Còn em hãy mặc y phục và đeo những món nữ trang quí giá, rồi cười giỡn và chúng mình sẽ lên đường.

Tiểu thơ làm y theo lời chồng bảo.

Khi tới chân núi, tên cướp bảo tiểu thư:

- Em ơi! Từ đây trở đi chúng mình chỉ nên đi hai người thôi. Còn những ai khác em hãy cho họ ngồi xe trở về, một mình em tự đội lấy mâm lễ vật.

Tiểu thơ làm theo lời chồng dặn, đội mâm lễ vật trèo lên núi, chỗ xử tử bọn cướp (Corappapāta). Núi nầy có hai mặt: một mặt có lối đi, người ta theo đó mà lên núi, còn một mặt đứt chân (Chinnatalaṃ) người ta đứng trên chót núi xô kẻ cướp bị tử hình xuống mặt đó, rơi tới đất là tan xương nát thịt, cho nên có tên gọi là vực thẳm xử tử bọn cướp.

Tiểu thơ lên đến chót núi rồi, đứng lại bảo chồng:

- Anh hãy cũng tế lễ vật đi!

Tên cướp làm thinh, tiểu thơ lại hỏi: “Sao anh lại làm thinh vậy?”.

Nghe giục, tên cướp đáp: “Ta cóc cần cúng tế, ta chỉ nói gạt dụ nàng đến đây mà thôi.”.

- Để làm chi thế anh?

- Để giết nàng cướp đoạt trang sức của nàng mà tẩu thoát.

Bấy giờ tiểu thư, bị hăm dọa sợ chết, năn nỉ tên cướp:

- Anh ơi! Cả thân em và những đồ trang sức nầy đều thuộc quyền sở hữu của anh, sao anh lại nói như thế?

Mặc dù tiểu thư nhiều lượt van xin tên cướp: “Anh đừng làm vậy.”. Hắn ta cũng nằng nằng quyết một: “Ta phải giết nàng.”.

Tiểu thơ lại đề nghị: “Thôi anh à, anh khỏi cần giết em làm chi, anh hãy lấy những nữ trang nầy và dung tha mạng sống cho em. Từ giờ trở đi, anh hãy xem em như đã chết rồi. Em nguyện làm nô lệ cho anh.”. Nói rồi tiểu thư ngâm kệ rằng:

“Ime suvaṇṇakeyūrā,
Sabbe veḷuriyā mayā;
Sabbañca gaṇha bhaddante,
Mamaṃ dāsiñca sāvayāti.”
Những xuyến vàng nầy, tất cả đều cẩn bằng ngọc

bích, anh hãy lấy hết đi. Anh ơi, anh hãy gọi em là nữ nô lệ của anh.

Nghe vậy tên cướp nói: “Nếu để nàng sống, nàng sẽ đi thông tin với cha mẹ nàng, ta phải giết nàng mới được. Nàng đừng khóc than cho lắm vô ích.”. Nói rồi, hắn ngâm kệ ngôn:

“Mā bāḷhaṃ paridevesi,
Khippaṃ bhaṇḍakaṃ bandhāhi;
Na tuyhaṃ jītvitaṃ atthi,
Sabbaṃ gaṇhāmi bhaṇḍakanti.”
Nàng đừng than khóc chi nhiều, hãy mau mau bó

buộc các đồ tư trang. Tuổi thọ của nàng đã hết, ta sẽ lấy tất cả tư trang của nàng.

Tiểu thơ tự nghĩ: “Than ôi, nghiệp của anh nầy quá nặng. Lẽ thường bậc Trí tuệ không muốn dùng vật thực chưa được nấu chín. Ta phải dục hoãn cầu mưu, suy tư cho ra phương kế đối phó với anh ta mới được.”.

Thế rồi, tiểu thư nói với tên cướp:

- Anh ơi! Khi anh bị bắt vì tội trộm cướp và bị giải đi, em bày biểu cha mẹ xuất ra ngàn đồng vàng để lo cho anh được thả ra và dắt anh về nhà tạo lập gia thất cho anh. Từ đó về sau, em là người nội trợ của anh. Hôm nay anh hãy niệm tình cho em được phép nhìn rõ mặt anh một lần cuối cùng và bái biệt anh.

Tên cướp đồng ý: “Lành thay, em hãy nhìn kỹ và đảnh lễ đi.”. Nói rồi, hắn đứng ngay bên bờ vực thẳm trên chót núi. Tiểu thơ nhiễu quanh người chồng bất nghĩa ba vòng, đến vòng thứ tư, nàng quì xuống đảnh lễ và nói:

- Anh ơi! Đây là lần cuối cùng anh còn thấy em. Bây giờ em không còn dịp gặp anh cũng như anh không còn dịp gặp em nữa.

Sau khi giả vờ ôm chồng hôn từ phía trước mặt rồi tới phía sau lưng. Tiểu thơ đứng tại mép núi phía sau tên cướp, một tay nắm mình, một tay nắm dây lưng hắn ta, kéo ngược hắn ngã nhào xuống vực thẳm. Xác của hắn bị va vào sườn núi, nát ra manh mún mới tới đất.

Vị Chư Thiên trấn trên đảnh núi, chỗ xử tử bọn cướp, thấy rõ hành động của cặp vợ chồng này, bèn ngâm kệ ngôn tán dương phụ nữ ấy rằng:

“Na so sabbesu ṭhānesu,
Puriso hoti paṇḍito;
Itthīpi paṇḍitā hoti,
Tattha tattha vicakhaṇāti.”

Không phải đàn ông luôn luôn là bậc Hiền trí ở khắp mọi nơi, phụ nữ đôi khi ở đây ở đó cũng tỏ ra là bậc Hiền trí nữa.

Sau khi xô tên cướp rơi xuống vực thẳm rồi, tiểu thư tự nghĩ: “Nếu ta về nhà, cha mẹ ta sẽ hỏi: “Còn chồng con đâu?”. Nếu ta trả lời: “Con đã giết anh ấy chết rồi!” ắt cha mẹ ta sẽ mắng xối vào mặt ta: “Đồ cứng đầu, đã cho ngàn đồng vàng rước chồng về cho mi, bây giờ mi lại giết hắn đi à?”. Dầu cho ta có nói thật: “Anh ấy muốn giết con để cướp lấy nữ trang.”, chắc cha mẹ ta cũng không tin lời ta. Thôi, ta đành vĩnh biệt quê nhà.”.

Tiểu thơ vứt bỏ hết nữ trang có mặt tại đó, rồi đi lang thang vào rừng, lần hồi đến chỗ trú ẩn của nhóm du sĩ Ta bà (Paribbajakānaṃ). Nàng đảnh lễ các vị nầy, xin cho nàng xuất gia nhập đạo của họ. Họ cho nàng xuất gia, sau đó nàng hỏi: “Bạch các Ngài, người xuất gia trong đạo của Ngài có Pháp nào cao thượng nhất?”.

- Nầy hiền hữu! Người xuất gia trong nhóm chúng tôi cần tu hai Pháp nầy là tối thượng nhất: Một là niệm Đề mục Biến xứ (Kasiṇa) cốt để nhập Định, hai là phải học Thiên ngôn luận (Vādasahassa) cho thật nằm lòng.

- Chắc con không có khả năng tham Thiền nhập Định, vậy con xin học Thiên ngôn luận, bạch các Ngài!

Các tu sĩ Ta bà liền bắt đầu dạy cho cô tu nữ mới học Thiên ngôn luận, cho đến khi nàng đã thuần thục rồi, họ bảo nàng:

- Bây giờ con đã học được nghề hay rồi, con hãy đi chu du khắp cõi Diêm Phù Đề để tìm người có khả năng tranh luận biện thuyết với mình.

Sư phụ cô trao cho cô một cành cây Diêm Phù (Jambū: Anh Đào) rồi giục cô ra đi.

- Hãy đi, hỡi đệ tử! Nếu con gặp người cư sĩ nào có thể tranh luận với con thì con hãy theo hầu hạ người ấy, còn nếu con gặp bậc xuất gia có khả năng biện thuyết thì con hãy xin xuất gia với người ấy.

Cô nữ du sĩ từ đây có danh hiệu là nữ du sĩ Diêm Phù (Jambūparibbajikā). Sau khi rời khỏi chỗ ẩn tu, cô đi khắp nơi để tìm cho gặp tay đối thủ về môn biện thuyết. Nhưng không có ai đủ tài tranh biện cùng nàng. Thế rồi, chỉ cần nghe nói: “Nữ du sĩ Anh Đào đến kìa!”, mọi người đều bỏ chạy lánh mặt cả.

Nữ du sĩ đi khất thực ở thôn quê lần đến thị thành, mỗi khi vào đến cửa cổng ở đầu làng thì có vun lên một đống cát cắm cành Anh Đào xuống đó, xong tuyên bố: “Người nào đủ sức tranh luận cùng ta thì hãy chà đạp cành Anh Đào này!”. Rồi cô mới đi vào làng.

Chỗ ở của nữ du sĩ ấy không có một người nào có đủ tài lực để bén mảng đến gần cả. Khi rời chỗ đó đi nơi khác, cô ta cũng làm như vậy, cành Anh Đào cũ có héo thì cô thay cành khác tươi hơn. Đến thành Sāvatthī (Xá Vệ), nàng cũng cắm cành Anh Đào tại cổng thành và tuyên bố như trước, rồi vào thành khất thực.

Lúc bấy giờ, Trưởng lão Sārīputta (Xá Lợi Phất) đi trì bình khất thực, độ xong bữa rồi trở ra ngoài thành, thấy lũ trẻ đứng vây quanh cành Anh Đào. Trưởng lão hỏi: “Cái chi thế?”.

Lũ trẻ tường thuật rành tự sự cho Trưởng lão biết. Trưởng lão bảo chúng:

- Vậy thì, các em hãy chà đạp cành Anh Đào nầy đi.

- Chúng con không dám, bạch Ngài.

- Các em cứ chà đạp đi! Để ta đối đáp với cô ấy!

Nghe Trưởng lão khuyến khích, lũ trẻ hăng hái chà đạp cành Anh Đào, vừa la hét vừa làm cho cát bụi tung lên.

Nữ du sĩ trở về trách mắng lũ trẻ và hỏi chúng rằng:

- Ta với các em không có vấn đề gì để tranh luận. Tại sao các em chà đạp cành Anh Đào của ta?

Lũ trẻ đáp:
- Trưởng lão bảo chúng tôi chà đạp!

- Bạch Trưởng lão! Ngài đã bảo lũ trẻ chà đạp cành Anh Đào của tôi phải chăng?

- Phải đó, này nữ du sĩ!

- Nếu vậy, Ngài hãy tranh luận với tôi.

- Lành thay, ta sẽ tranh luận.

Nữ du sĩ nới rộng áo ở thắt lưng, đến gần Trưởng lão để cật vấn Ngài. Khắp cả kinh thành đều xôn xao vì cái tin hai bậc Đại trí sắp so tài biện bác với nhau. Dân chúng rủ nhau lũ lượt đến đảnh lễ Trưởng lão rồi ngồi nép qua một bên. Nữ du sĩ mở đầu cuộc khẩu chiến.

- Bạch Ngài, tôi mạn phép được hỏi Ngài một câu.

- Này nữ du sĩ, hãy hỏi đi.

Nữ du sĩ mang “Thiên ngôn luận” của mình ra hỏi, hỏi câu nào cũng đều được Trưởng lão giảng giải rành mạch. Sau cùng, Trưởng lão hỏi lại một câu:

- Ngoài những câu hỏi vừa rồi nàng còn câu hỏi nào nữa chăng?

- Bạch Ngài, chỉ có bấy nhiêu thôi ạ!

- Nãy giờ nàng hỏi ta rất nhiều, ta cũng có một câu muốn hỏi, nàng có hứng giải đáp chăng?

- Bạch Ngài, xin Ngài cứ hỏi, nếu tôi biết thì tôi sẽ giải đáp.

Trưởng lão liền đưa ra một câu hỏi về Danh Pháp, nữ du sĩ không biết lối nào mà giải đáp, phải hỏi lại Trưởng lão rằng:

- Bạch Ngài, câu Ngài hỏi có tên là gì?

- Là Phật Chú (Buddhamanto).

- Bạch Ngài, xin Ngài cho tôi câu Phật Chú đó được chăng?

- Chừng nào nàng cùng một đạo với ta, thì ta sẽ cho nàng.

- Nếu vậy, xin Ngài cho tôi xuất gia đi.

Trưởng lão chỉ dẫn cho nữ du sĩ đến Ni viện và giới thiệu cho cô được xuất gia. Sau khi thọ Cụ túc giới, cô được mệnh danh là Tỳ khưu Ni Tóc Quăn và mấy hôm sau đắc quả A La Hán với Tuệ Phân Tích. Các Tỳ khưu câu hội nơi giảng đường, nêu lên vấn đề này: “Tỳ khưu Ni Tóc Quăn không từng nghe thuyết pháp nhiều, thế mà cũng đắc Quả tối thượng của bậc xuất gia. Nghe nói, cô đã một mình đại chiến với tên cướp, thắng được nó mới đến đây xuất gia”…

Đức Bổn Sư đến hỏi:

- Nầy các Tỳ khưu, hôm nay các thầy ngồi đây thảo luận chuyện chi?

- Bạch Ngài, chuyện nầy…

Nghe vậy, Đức Bổn Sư giải thích:

- Này các Tỳ khưu, Pháp của Ta thuyết, chớ có trắc lượng bằng số ít hay số nhiều, thà thuyết một câu Pháp Cú còn hơn nói cả trăm câu vô ích. Vả lại, người thắng được tất cả kẻ cướp không đáng gọi là anh hùng vô địch, chỉ có người thắng được những kẻ cướp là phiền não ở nội tâm mới thật xứng danh vô địch.

Nói xong, Đức Bổn Sư thuyết Pháp giải thêm và tóm tắt bằng hai bài kệ như sau:

102. “Yo ca gāthāsataṃ bhāse,
Anatthapadasañhitā;
Ekaṃ dhammapadaṃ seyyo,
Yaṃ sutvā upasammati.”
“Dầu cho tụng đến trăm câu,
Toàn kệ vô nghĩa thì đâu ích gì?
Thà Kệ Pháp Cú thích nghi,
Một câu nghe cũng đoạn ly khổ sầu!”
103. “Yo sahassaṃ sahassena,
Saṅgāme mānuse jine;
Ekañca jeyyamattānaṃ,
Sa ve saṅgāmajuttamo.
“Chiến trường quyết liệt hơn thua,
Thắng người ngàn trận cũng chưa thật tài,
Thắng mình mới đáng gọi hay,
Chiến công oanh liệt ấy ai dám bì”.

CHÚ GIẢI:

Gāthāsataṃ: người tụng kệ cho nhiều đếm cho đủ số một trăm câu.

Anatthapadasaṃhitā: nhưng toàn là những câu vô ích, chẳng hạn như giải về màu sắc bầu trời.

Dhammapadaṃ: Pháp Cú là câu nào có đầy đủ nghĩa lý, có ích lợi thiết thực.

Ngoại đạo du sĩ cũng có bốn câu Pháp Cú, thế nào là bốn?

Du sĩ là người không tham
Du sĩ là người không tác hại
Du sĩ là người có sự Ghi nhớ (có Chánh niệm)
Du sĩ là người có Chánh Định.

So với Pháp Cú của ngoại đạo như vậy thì một câu Kệ Pháp Cú còn quí hơn!

Yo sahassaṃ sahassena: người nào một mình cầm binh khí ra chiến đấu với một ngàn ngàn (một triệu) người, chỉ trong một trận giao phong mà thắng được cả triệu người, dầu có đem sự thắng lợi về, cũng chưa đáng gọi là người thắng trận tối thượng.

Ekañca jeyya m’attānaṃ: trái lại, người nào luôn cả ngày đêm, ở mọi chỗ, lúc nào cũng tâm tâm niệm niệm, ghi nhớ đề mục Chỉ Quán, tự mình thắng được những phiền não, tham, sân, si, trong nội tâm.

Sa ve saṅgāmajuttamo: người này quả thật là người chiến thắng tối thượng, quí báu, lập được chiến công oanh liệt nhất.

Cuối thời Pháp, nhiều Tỳ khưu đắc Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả.

Thiếu nữ làm eo để cưới chồng,
Vì thương kẻ cướp bị lao lung,
Ngờ đâu, ngựa vẫn quen đường cũ,
Hắn chẳng mang ơn, lại trở lòng.
Dụ được nàng lên đảnh núi cao,

Hắn toan giết, đoạt của, bôn đào,
Nàng khôn, giả cách xin tha mạng,
Lừa thế, xô tên phản bội nhào!...
Giết chồng đâu lẽ trở về nhà?
Sương phụ băng rừng đi xuất gia,
Học được một ngàn câu hỏi đố,
“Diêm Phù” nổi tiếng khắp Ta bà.
Pháp chủ hỏi nàng: “Một là gì?”.
Nàng thua, xin nhập đạo bên Ni,
Về sao đắc quả A La Hán,
Tăng chúng phàm phu có chỗ nghi,
Phật dạy: Kệ vô nghĩa tụng nhiều,
Trăm câu lợi ích chẳng bao nhiêu!
Sao bằng một Kệ nghe vừa dứt,
Tâm được an bình, Khổ não tiêu…
Thắng ngàn quân địch giữa sa trường,
Chẳng phải anh hùng Phật tán dương,
Chỉ có thắng mình là đại thắng,
Chiến công oanh liệt ấy ai đương?...

DỨT TÍCH TỲ KHƯU NI TÓC QUĂN

Kuṇḍalakesittherīvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Yo ca gāthāsataṃ bhāseti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto kuṇḍalakesiṃ ārabbha kathesi.

Rājagahe kira ekā seṭṭhidhītā soḷasavassuddesikā abhirūpā ahosi dassanīyā pāsādikā. Tasmiñca vaye ṭhitā nāriyo purisajjhāsayā honti purisalolā. Atha naṃ mātāpitaro sattabhūmikassa pāsādassa uparimatale sirigabbhe nivāsāpesuṃ. Ekamevassā dāsiṃ paricārikaṃ adaṃsu. Athekaṃ kulaputtaṃ corakammaṃ karontaṃ gahetvā pacchābāhaṃ bandhitvā catukke catukke kasāhi paharitvā āghātanaṃ nayiṃsu. Seṭṭhidhītā mahājanassa saddaṃ sutvā “kiṃ nu kho eta”nti pāsādatale ṭhatvā olokentī taṃ disvā paṭibaddhacittā hutvā taṃ patthayamānā āhāraṃ paṭikkhipitvā mañcake nipajji. Atha naṃ mātā pucchi – “kiṃ idaṃ, ammā”ti? “Sace etaṃ ‘coro’ti gahetvā niyyamānaṃ purisaṃ labhissāmi, jīvissāmi. No ce labhissāmi, jīvitaṃ me natthi, idheva marissāmī”ti. “Amma, mā evaṃ kari, amhākaṃ jātiyā ca gottena ca bhogena ca sadisaṃ aññaṃ sāmikaṃ labhissasī”ti. “Mayhaṃ aññena kiccaṃ natthi, imaṃ alabhamānā marissāmī”ti. Mātā dhītaraṃ saññāpetuṃ asakkontī pituno ārocesi. Sopi naṃ saññāpetuṃ asakkonto “kiṃ sakkā kātu”nti cintetvā taṃ coraṃ gahetvā gacchantassa rājapurisassa sahassabhaṇḍikaṃ pesesi – “imaṃ gahetvā etaṃ purisaṃ mayhaṃ dehī”ti. So “sādhū”ti kahāpaṇe gahetvā taṃ muñcitvā aññaṃ māretvā “mārito, deva, coro”ti rañño ārocesi. Seṭṭhipi tassa dhītaraṃ adāsi.

Sā tato paṭṭhāya “sāmikaṃ ārādhessāmī”ti sabbābharaṇapaṭimaṇḍitā sayameva tassa yāguādīni saṃvidahati, coro katipāhaccayena cintesi – “kadā nu kho imaṃ māretvā etissā ābharaṇāni gahetvā ekasmiṃ surāgehe vikkiṇitvā khādituṃ labhissāmī”ti? So “attheko upāyo”ti cintetvā āhāraṃ paṭikkhipitvā mañcake nipajji, atha naṃ sā upasaṅkamitvā “kiṃ te, sāmi, rujjatī”ti pucchi. “Na kiñci me, bhaddeti, kacci pana me mātāpitaro tuyhaṃ kuddhā”ti? “Na kujjhanti, bhadde”ti. Atha “kiṃ nāmeta”nti? “Bhadde, ahaṃ taṃ divasaṃ bandhitvā niyyamāno corapapāte adhivatthāya devatāya balikammaṃ paṭissuṇitvā jīvitaṃ labhiṃ, tvampi mayā tassā eva ānubhāvena laddhā, ‘taṃ me devatāya balikammaṃ ṭhapita’nti cintemi, bhadde”ti. “Sāmi, mā cintayi, karissāmi balikammaṃ, vadehi, kenattho”ti? “Appodakamadhupāyasena ca lājapañcamakapupphehi cā”ti. “Sādhu, sāmi, ahaṃ paṭiyādessāmī”ti sā sabbaṃ balikammaṃ paṭiyādetvā “ehi, sāmi, gacchāmā”ti āha. “Tena hi, bhadde, tava ñātake nivattetvā mahagghāni vatthābharaṇāni gahetvā attānaṃ alaṅkarohi, hasantā kīḷantā sukhaṃ gamissāmā”ti. Sā tathā akāsi.

Atha naṃ so pabbatapādaṃ gatakāle āha – “bhadde, ito paraṃ ubhova janā gamissāma, sesajanaṃ yānakena saddhiṃ nivattāpetvā balikammabhājanaṃ sayaṃ ukkhipitvā gaṇhāhī”ti. Sā tathā akāsi. Coro taṃ gahetvā corapapātapabbataṃ abhiruhi. Tassa hi ekena passena manussā abhiruhanti, ekaṃ passaṃ chinnapapātaṃ. Pabbatamatthake ṭhitā tena passena core pātenti. Te khaṇḍākhaṇḍaṃ hutvā bhūmiyaṃ patanti. Tasmā “corapapāto”ti vuccati. Sā tassa pabbatassa matthake ṭhatvā “balikammaṃ te, sāmi, karohī”ti āha. So tuṇhī ahosi. Puna tāya “kasmā, sāmi, tuṇhībhūtosī”ti vutte taṃ āha – “na mayhaṃ balikammenattho, vañcetvā pana taṃ ādāya āgatomhī”ti. “Kiṃ kāraṇā, sāmī”ti? “Taṃ māretvā tava ābharaṇāni gahetvā palāyanatthāyā”ti. Sā maraṇabhayatajjitā āha – “sāmi, ahañca ābharaṇāni ca tava santakāneva, kasmā evaṃ vadesī”ti? So, “mā evaṃ karohī”ti, punappunaṃ yāciyamānopi “māremi evā”ti āha. “Evaṃ sante kiṃ te mama maraṇena? Imāni ābharaṇāni gahetvā mayhaṃ jīvitaṃ dehi, ito paṭṭhāya maṃ ‘matā’ti dhārehi, dāsī vā te hutvā kammaṃ karissāmī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Idaṃ suvaṇṇakeyūraṃ, muttā veḷuriyā bahū;
Sabbaṃ harassu bhaddante, maṃ ca dāsīti sāvayā”ti. (apa. therī 2.3.27);

Taṃ sutvā coro “evaṃ kate tvaṃ gantvā mātāpitūnaṃ ācikkhissasi, māressāmiyeva, mā tvaṃ bāḷhaṃ paridevasī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Mā bāḷhaṃ paridevesi, khippaṃ bandhāhi bhaṇḍikaṃ;
Na tuyhaṃ jīvitaṃ atthi, sabbaṃ gaṇhāmi bhaṇḍaka”nti. –

Sā cintesi – “aho idaṃ kammaṃ bhāriyaṃ. Paññā nāma na pacitvā khādanatthāya katā, atha kho vicāraṇatthāya katā, jānissāmissa kattabba”nti, atha naṃ āha – “sāmi, yadā tvaṃ ‘coro’ti gahetvā nīyasi, tadāhaṃ mātāpitūnaṃ ācikkhiṃ, te sahassaṃ vissajjetvā taṃ āharāpetvā gehe kariṃsu. Tato paṭṭhāya ahaṃ tuyhaṃ upakārikā, ajja me sudiṭṭhaṃ katvā attānaṃ vandituṃ dehī”ti. So “sādhu, bhadde, sudiṭṭhaṃ katvā vandāhī”ti vatvā pabbatante aṭṭhāsi. Atha naṃ sā tikkhattuṃ padakkhiṇaṃ katvā catūsu ṭhānesu vanditvā, “sāmi, idaṃ te pacchimadassanaṃ, idāni tuyhaṃ vā mama dassanaṃ, mayhaṃ vā tava dassanaṃ natthī”ti purato ca pacchato ca āliṅgitvā pamattaṃ hutvā pabbatante ṭhitaṃ piṭṭhipasse ṭhatvā ekena hatthena khandhe gahetvā ekena piṭṭhikacchāya gahetvā pabbatapapāte khipi. So pabbatakucchiyaṃ paṭihato khaṇḍākhaṇḍikaṃ hutvā bhūmiyaṃ pati. Corapapātamatthake adhivatthā devatā tesaṃ dvinnampi kiriyaṃ disvā tassā itthiyā sādhukāraṃ datvā imaṃ gāthamāha –

“Na hi sabbesu ṭhānesu, puriso hoti paṇḍito;
Itthīpi paṇḍitā hoti, tattha tattha vicakkhaṇā”ti. (apa. therī 2.3.31);

Sāpi coraṃ papāte khipitvā cintesi – “sacāhaṃ gehaṃ gamissāmi, ‘sāmiko te kuhi’nti pucchissanti, sacāhaṃ evaṃ puṭṭhā ‘mārito me’ti vakkhāmi, ‘dubbinīte sahassaṃ datvā taṃ āharāpetvā idāni naṃ māresī’ti maṃ mukhasattīhi vijjhissanti, ‘ābharaṇatthāya so maṃ māretukāmo ahosī’ti vuttepi na saddahissanti, alaṃ me gehenā”ti tatthevābharaṇāni chaḍḍetvā araññaṃ pavisitvā anupubbena vicarantī ekaṃ paribbājakānaṃ assamaṃ patvā vanditvā “mayhaṃ, bhante, tumhākaṃ santike pabbajjaṃ dethā”ti āha. Atha naṃ pabbājesuṃ. Sā pabbajitvāva pucchi – “bhante, tumhākaṃ pabbajjāya kiṃ uttama”nti? “Bhadde, dasasu vā kasiṇesu parikammaṃ katvā jhānaṃ nibbattetabbaṃ, vādasahassaṃ vā uggaṇhitabbaṃ, ayaṃ amhākaṃ pabbajjāya uttamattho”ti. “Jhānaṃ tāva nibbattetuṃ ahaṃ na sakkhissāmi, vādasahassaṃ pana uggaṇhissāmi, ayyā”ti. Atha naṃ te vādasahassaṃ uggaṇhāpetvā “uggahitaṃ te sippaṃ, idāni tvaṃ jambudīpatale vicaritvā attanā saddhiṃ pañhaṃ kathetuṃ samatthaṃ olokehī”ti tassa hatthe jambusākhaṃ datvā uyyojesuṃ – “gaccha, bhadde, sace koci gihibhūto tayā saddhiṃ pañhaṃ kathetuṃ sakkoti, tasseva pādaparicārikā bhavāhi, sace pabbajito sakkoti, tassa santike pabbajāhī”ti.

Sā nāmena jambuparibbājikā nāma hutvā tato nikkhamitvā diṭṭhe diṭṭhe pañhaṃ pucchantī vicarati. Tāya saddhiṃ kathetuṃ samattho nāma nāhosi. “Ito jambuparibbājikā āgacchatī”ti sutvāva manussā palāyanti. Sā gāmaṃ vā nigamaṃ vā bhikkhāya pavisantī gāmadvāre vālukarāsiṃ katvā tattha jambusākhaṃ ṭhapetvā “mayā saddhiṃ kathetuṃ samattho jambusākhaṃ maddatū”ti vatvā gāmaṃ pāvisi. Taṃ ṭhānaṃ upasaṅkamituṃ samattho nāma nāhosi. Sāpi milātāya jambusākhāya aññaṃ jambusākhaṃ gaṇhāti, iminā nīhārena vicarantī sāvatthiṃ patvā gāmadvāre vālukarāsiṃ katvā jambusākhaṃ ṭhapetvā vuttanayeneva vatvā bhikkhāya pāvisi. Sambahulā gāmadārakā jambusākhaṃ parivāretvā aṭṭhaṃsu. Tadā sāriputtatthero piṇḍāya caritvā katabhattakicco nagarā nikkhanto te dārake jambusākhaṃ parivāretvā ṭhite disvā “kiṃ ida”nti pucchi. Dārakā therassa taṃ pavattiṃ ācikkhiṃsu. “Tena hi dārakā imaṃ sākhaṃ maddathā”ti. “Bhāyāma, bhante”ti. “Ahaṃ pañhaṃ kathessāmi, maddatha tumhe”ti. Te therassa vacanena sañjātussāhā tathā katvā maddantā jambusākhaṃ ukkhipiṃsu. Paribbājikā āgantvā te paribhāsitvā “tumhehi saddhiṃ mama pañhena kiccaṃ natthi, kasmā me sākhaṃ maddathā”ti āha. “Ayyenamhā maddāpitā”ti āhaṃsu. “Bhante, tumhehi me sākhā maddāpitā”ti? “Āma, bhaginī”ti. “Tena hi mayā saddhiṃ pañhaṃ kathethā”ti. “Sādhu kathessāmī”ti.

Sā vaḍḍhamānakacchāyāya pañhaṃ pucchituṃ therassa santikaṃ agamāsi, sakalanagaraṃ saṅkhubhi. “Dvinnaṃ paṇḍitānaṃ kathaṃ suṇissāmā”ti nāgarā tāya saddhiṃyeva gantvā theraṃ vanditvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. Paribbājikā theraṃ āha – “bhante, pucchāmi te pañha”nti. “Puccha, bhaginī”ti. Sā vādasahassaṃ pucchi, pucchitaṃ pucchitaṃ thero vissajjesi. Atha naṃ thero āha – “ettakā eva te pañhā, aññepi atthī”ti? “Ettakā eva, bhante”ti. “Tayā bahū pañhā puṭṭhā, mayampi ekaṃ pucchāma, vissajjissasi no”ti? “Jānamānā vissajjissāmi pucchatha, bhante”ti. Thero “ekaṃ nāma ki”nti (khu. pā. 4.1) pañhaṃ pucchi. Sā “evaṃ nāmesa vissajjetabbo”ti ajānantī “kiṃ nāmetaṃ, bhante”ti pucchi. “Buddhapañho nāma, bhaginī”ti. “Mayhampi taṃ detha, bhante”ti. “Sace mādisā bhavissasi, dassāmī”ti. “Tena hi maṃ pabbājethā”ti. Thero bhikkhunīnaṃ ācikkhitvā pabbājesi. Sā pabbajitvā laddhūpasampadā kuṇḍalakesittherī nāma hutvā katipāhaccayeneva saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇi.

Bhikkhū dhammasabhāyaṃ kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ – “kuṇḍalakesittheriyā dhammassavanañca bahuṃ natthi, pabbajitakiccañcassā matthakaṃ pattaṃ, ekena kira corena saddhiṃ mahāsaṅgāmaṃ katvā jinitvā āgatā”ti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte, “bhikkhave, mayā desitadhammaṃ ‘appaṃ vā bahuṃ vā’ti pamāṇaṃ mā gaṇhatha, anatthakaṃ padasatampi seyyo na hoti, dhammapadaṃ pana ekampi seyyova. Avasesacore jinantassa ca jayo nāma na hoti, ajjhattikakilesacore jinantasseva pana jayo nāma hotī”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imā gāthā abhāsi –

“Yo ca gāthāsataṃ bhāse, anatthapadasaṃhitā;
Ekaṃ dhammapadaṃ seyyo, yaṃ sutvā upasammati.

“Yo sahassaṃ sahassena, saṅgāme mānuse jine;
Ekañca jeyyamattānaṃ, sa ve saṅgāmajuttamo”ti.

Tattha gāthāsatanti yo ca puggalo sataparicchedā bahūpi gāthā bhāseyyāti attho. Anatthapadasaṃhitāti ākāsavaṇṇanādivasena anatthakehi padehi saṃhitā. Dhammapadanti atthasādhakaṃ khandhādipaṭisaṃyuttaṃ, “cattārimāni paribbājakā dhammapadāni. Katamāni cattāri? Anabhijjhā paribbājakā dhammapadaṃ, abyāpādo paribbājakā dhammapadaṃ, sammāsati paribbājakā dhammapadaṃ, sammāsamādhi paribbājakā dhammapada”nti (a. ni. 4.30) evaṃ vuttesu catūsu dhammapadesu ekampi dhammapadaṃ seyyo. Yo sahassaṃ sahassenāti yo eko saṅgāmayodho sahassena guṇitaṃ sahassaṃ mānuse ekasmiṃ saṅgāme jineyya, dasamanussasatasahassaṃ jinitvā jayaṃ āhareyya, ayampi saṅgāmajinataṃ uttamo pavaro nāma na hoti. Ekañca jeyyamattānanti yo rattiṭṭhānadivāṭṭhānesu ajjhattikakammaṭṭhānaṃ sammasanto attano lobhādikilesajayena attānaṃ jineyya. Sa ve saṅgāmajuttamoti so saṅgāmajinānaṃ uttamo pavaro saṅgāmasīsayodhoti.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Kuṇḍalakesittherīvatthu tatiyaṃ.

VIII. 3. The Maiden who Married a Thief

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

102. Though one should recite a hundred Stanzas composed of meaningless sentences,
Yet one Sentence of the Law were better, which if a man hear he is at peace.

103. Though one should conquer a thousand times a thousand men in battle,
Yet would he be the mightiest conqueror who should conquer one, himself.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana concerning Kuṇḍalakesī.

A rich merchant of Rājagaha, it seems, had an only daughter who was about sixteen years of age, and she was exceedingly beautiful and fair to see. (When women reach this age, they burn and long for men.) Her mother and father lodged her on the topmost floor of a seven-storied palace in an apartment of royal splendor, and gave her only a single slave-woman to wait upon her.

Now one day a young man of station was caught in the act of robbery. They bound his hands behind his back and led him to the place of execution, scourging him with lashes at every cross-roads. The merchant’s daughter heard the shouts of the crowd, said to herself, “What is that?” looked down from the top of the palace, and saw him.

Straightway she fell in love with him. So great, in fact, was her longing for him that she took to her bed and refused to eat. Her mother asked her, “What does this mean, my dear daughter?” “If I can have that young man who was caught in the act of committing robbery and who was led through the streets, life will be worth living; if not, life is not worth living; I shall die here and now.” “Do not act in this manner, my dear daughter; you shall have some one else for your husband, some one who is our equal in birth and family and wealth.” “I will have no one else; if I cannot have this man I shall die.”

The mother, unable to pacify her daughter, told the father; but the father likewise was unable to pacify his daughter. “What is to be done?” thought he. He sent a thousand pieces of money to the king’s officer who had captured the robber and who was accompanying him to the place of execution, saying, “Take this money and send the robber to me.” “Very well!” said the king’s officer. He took the money, released the robber, had another man put to death, and sent word to the king, “The robber has been executed, your majesty.”

The merchant gave his daughter in marriage to the robber. She resolved to win the favor of her husband; and from that time on, adorned with all her adornments, she prepared her husband’s meals with her own hand. After a few days the robber thought to himself, “When can I kill this woman, take her jewels and sell them, and so be able to take my meals in a certain tavern? This is the way!”

He took to his bed and refused to eat. She came to him and asked, “Are you in pain?” “Not at all, wife.” “Then perhaps my mother and father are angry with you?” “They are not angry with me, wife.” “What is the matter, then?” “Wife, that day when I was bound and led through the streets, I saved my life by vowing an offering to the deity that lives on Robbers’ Cliff; likewise it was through his supernatural power that I gained you for my wife. I was wondering how I could fulfill my vow of an offering to the deity.” “Husband, do not worry; I will see to the offering; tell me what is needed.” “Rich rice-porridge, flavored with honey; and the five kinds of flowers, including the lāja flower.” “Very well, husband, I will make ready the offering.”

Having prepared the whole offering, she said to her husband, “Come, husband, let us go.” “Very well, wife; let your kinsmen re-main behind; put on your costly garments and adorn yourself with your precious jewels, and we will go gayly, laughing and disporting ourselves.” She did as she was told. When they reached the foot of the mountain, the robber said to her, “Wife, from this point on let us two go alone; we will send back the rest of the company in a conveyance; you take the vessel containing the offering and carry it yourself.” She did as she was told.

The robber took her in his arms and climbed the mountain to the top of Robbers’ Cliff. (One side of this mountain men can climb; but the other side is a precipitous cliff, from the top of which robbers are flung, being dashed to pieces before they reach the bottom; therefore it is called “Robbers’ Cliff.”) Standing on the top of the mountain, she said, “Husband, present the offering.” Her husband made no reply. Again she spoke, “Husband, why do you remain silent?” Then he said to her, “I have no use for the offering; I deceived you in bringing you here with an offering.” “Then why did you bring me here, husband?” “To kill you, seize your jewels, and escape.” Terrified with the fear of death, she said to him, “Husband, both my jewels and my person belong to you; why do you speak thus?” Over and over again she pleaded with him, “Do not do this;” but his only reply was, “I will kill you.” “After all, what will you gain by killing me? Take these jewels and spare my life; henceforth regard me as your mother, or else let me be your slave-woman and work for you.” So saying, she recited the following Stanza,

Take these golden bracelets, all set with beryls.
Take all, and welcome; call me your slave-woman.

The robber, hearing this, said to her, “Despite what you say, were I to spare your life, you would go and tell your mother and father all. I will kill you. That is all. Lament not with vehement lamentation.” So saying, he recited the following Stanza,

Lament not overmuch; tie up your possessions quickly.
You have not long to live; I shall take all your possessions.

She thought to herself, “Oh, what a wicked deed is this! However, wisdom was not made to be cooked and eaten, but rather to make men look before they leap. I shall find a way of dealing with him.” And she said to him, “Husband, when they caught you in the act of committing robbery and led you through the streets, I told my mother and father, and they spent a thousand pieces of money in ransoming you, and they gave you a place in their house, and from that time on I have been your benefactress; to-day do me the favor of letting me pay obeisance to you.” “Very well, wife,” said he, granted her the favor of paying obeisance to him, and then took his stand near the edge of the cliff.

She walked around him three times, keeping him on her right hand, and paid obeisance to him in the four places. Then she said to him, “Husband, this is the last time I shall see you. Henceforth you will see me no more, neither shall I see you any more.” And she embraced him both before and behind. Then, remaining behind him, as he stood off his guard near the edge of the cliff, she put one hand to his shoulder and the other to the small of his back, and flung him over the cliff. Thus was the robber hurled into the abyss of the mountain, and dashed to pieces when he reached the bottom. The deity that dwelt on the top of Robbers’ Cliff observed the actions of the two, and applauding the woman, uttered the following Stanza,

Wisdom is not always confined to men;
A woman, too, is wise, and shows it now and then.

Having thrown the robber over the cliff, the woman thought to herself, “If I go home, they will ask me, ‘Where is your husband?’ and if, in answer to their question, I say, ‘I have killed him,’ they will pierce me with the knives of their tongues, saying, ‘We ransomed the scoundrel with a thousand pieces of money and now you have killed him.’ If, on the other hand, I say, ‘He sought to kill me for my jewels,’ they will not believe me. I’m done with home!” She cast off her jewels, went into the forest, and after wandering about for a time came to a certain hermitage of nuns. She reverently bowed and said, “Sister, receive me into your Order as a nun.” So they received her as a nun.

After she had become a nun, she asked, “Sister, what is the goal of your Religious Life?” “Sister, the development of spiritual ecstasy through the employment of the ten Kasiṇas, or else the memorizing of a thousand articles of faith; this is the highest aim of our Religious Life.” “Spiritual ecstasy I shall not be able to develop. Reverend Sister; but I will master the thousand articles of faith.” When she had mastered the thousand articles of faith, they said to her, “You have acquired proficiency; now go throughout the length and breadth of the Land of the Rose-Apple and look for some one able to match question and answer with you.”

So, placing a branch of rose-apple in her hands, they dismissed her with these words, “Go forth, sister; if any one who is a layman is able to match question and answer with you, become his slave; if any monk, enter his Order as a nun.” Adopting the name “Nun of the Rose-Apple,” she left the hermitage and went about from place to place asking questions of everyone she saw. No one was able to match question and answer with her; in fact, such a reputation did she acquire that whenever men heard the announcement, “Here comes the ‘Nun of the Rose-Apple,’ ” they would run away.

Before entering a town or village for alms, she would scrape a pile of sand together before the village gate and there plant her rose-apple branch. Then she would issue her challenge, “Let him that is able to match question and answer with me trample this rose-apple branch under his feet.” So saying, she would enter the village. No one dared to pass beyond that spot. When one branch withered, she would procure a fresh one.

Traveling about in this way, she arrived at Sāvatthi, planted the branch before the city gate, issued her challenge in the usual way, and went in to seek alms. A number of young boys gathered about the branch and waited to see what would happen. Just then the Elder Sāriputta, who had made his round and eaten his breakfast and was on his way out of the city, saw those boys standing about the branch and asked them, “What does this mean?” The boys explained matters to the Elder. Said the Elder, “Go ahead, boys, trample that branch under your feet.” “We are afraid to, Reverend Sir.” “I will answer the question; you go ahead and trample the branch under your feet.” The Elder’s words supplied the boys with the necessary courage. Forthwith they trampled the branch under their feet, shouting and kicking up the dust.

When the nun returned, she rebuked them and said, “I don’t intend to bandy question and answer with you; how did you come to trample the branch under your feet?” “Our noble Elder told us to.” “Reverend Sir, did you tell them to trample my branch under their feet?” “Yes, sister.” “Well then, match question and answer with me.” “Very well, I will do so.”

As the shades of evening drew on, she went to the Elder’s residence to put her questions. The entire city was stirred up. The people said to each other, “Let us go and hear the talk of the two learned persons.” Accompanying the nun from the city to the Elder’s residence, they bowed to the Elder and seated themselves respectfully on one side.

The nun said to the Elder, “Reverend Sir, I wish to ask you a question.” “Ask it, sister.” So she asked him the thousand articles of faith. Every question the nun asked, the Elder answered correctly. Then he said to her, “You have asked only these few questions; are there any others?” “These are all, Reverend Sir.” “You have asked many questions; I will ask you just one; will you answer me?” “Ask your question, Reverend Sir.” Then the Elder asked her the following question, “What is ‘One’?” She said to herself, “This is a question I should be able to answer;” but not knowing the answer, she inquired of the Elder, “What is it, Reverend Sir?” “That is the Buddha’s question, sister.” “Tell me also the answer, Reverend Sir.” “If you will enter our Order, I will tell you the answer.” “Very well, admit me to the Order.” The Elder sent word to the nuns and had her admitted. After being admitted to the Order, she made her full profession, took the name Kuṇḍalakesī, and after a few days became an Arahat endowed with the Supernatural Faculties.

In the Hall of Truth the monks began a discussion of the incident. “Kuṇḍalakesī heard little of the Law and yet she succeeded in being admitted to the Order; moreover, she came here after fighting a fierce battle with a robber and defeating him.” The Teacher came in and asked them, “Monks, what is it that you are sitting here discussing now?” They told him, “Monks, measure not the Law I have taught as being ‘little’ or ‘much.’ There is no superior merit in a hundred sentences that are meaningless; but one Sentence of the Law is better. He that defeats all other robbers wins no victory at all, but he who defeats the robbers that are his own Depravities, his is victory indeed.” Then he joined the connection, and preaching the Law, pronounced the following Stanzas,

102. Though one should recite a hundred Stanzas composed of meaningless sentences,
Yet one Sentence of the Law were better, which if a man hear he is at peace.

103. Though one should conquer a thousand times a thousand men in battle,
Yet would he be the mightiest conqueror who should conquer one, himself.

  1. Parallels: Aṅguttara Commentary, JRAS., 1893, 771-785; Therī-Gāthā Commentary xlvi: 99-102; Jātaka 318 iii. 58-63; Jātaka 419; iii. 435-438; Peta-Vatthu Commentary, i. 1: 3-9; Kathāsaritsāgara Tawney’s translation), ii. 493. Text: N ii. 217-227.
  2. Cf. the beginning of stories ii. 3, viii. 12, and ix. 8.
  3. That is to say: “What is the answer to Question One of the Novice’s Questions?” See Khuddaka Pāṭha, iv. 1.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này