Tích Vị Tỳ Khưu Không Hoan Hỷ
Anabhiratabhikkhuvatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 186–187 Kinh Pháp Cú, phẩm Phật, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 186-187)
186. “Na kahāpaṇavassena,
Titti kāmesu vijjati;
Appassādā dukhā kāmā,
Iti viññāya paṇḍito.”
187. “Api dibbesu kāmesu,
Ratiṃ so nādhigacchati;
Taṇhakkhayarato hoti,
Sammāsambuddhasāvako.”
“Dầu mưa bằng tiền vàng,
Các dục khó thỏa mãn.
Dục đắng nhiều ngọt ít,
Biết vậy là bậc trí.”
“Đệ tử bậc chánh giác,
Không tìm cầu dục lạc,
Dầu là dục Chư Thiên,
Chỉ ưa thích ái diệt.”
(Ngài HT Minh Châu)
Kệ ngôn Pháp cú nầy Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài trú tại Jetavana, đề cập đến vị Tỳ Khưu không hoan hỷ (trong đời sống Phạm Hạnh)
Vào thời Đức Phật, có vị Tỳ Khưu xuất gia, thọ Cụ túc giới, vị Tế Độ Sư bảo rằng:
- Hiền giả hãy đến nơi ấy để học xiên thuật (uddana).
Vị Tỳ Khưu ấy vâng lời. Khi song thân vị ấy lâm trọng bịnh, muốn gặp mặt con, nhưng không có người đến nhắn tin được, song thân y vì thương nhớ vị Tỳ Khưu ấy, nên khi sắp lâm chung, bảo lại với người em trai rằng:
- Nầy em, em hãy dâng y bát đến con trai ta nhé.
Song thân vị ấy trao lại người em số tiền là 100 Kahāpana rồi mệnh chung.
Khi vị Tỳ Khưu trở về, người chú quì dưới chân vị ấy mà than khóc rằng:
- Bạch Ngài! Vì sầu muộn do thương nhớ Ngài, nên song thân của Ngài đã qua đời. Cha Ngài có trao lại cho Ngài số tiền là 100 Kahāpana, vậy tôi sẽ phải làm thế nào với món tiền nầy đối với Ngài đây.
- Nầy chú! Thôi được, tôi chẳng cần chi số tiền ấy đâu.
Thời gian sau, vị ấy suy nghĩ: “Lợi ích chi mà ta phải đi bát từng nhà để nuôi mạng sống, ta có thể nhờ vào 100 Kahāpana để nuôi mạng sống cũng được. Vậy ta hãy hoàn tục đi”.
Thế là, vị ấy không còn hoan hỷ trong đời sống phạm hạnh nữa, y bỏ trì tụng kinh điển và bỏ rơi việc Thiền Định, chẳng bao lâu y trở nên ôm o gầy còm, chư Tỳ Khưu trẻ và các Sa di hỏi thăm, vị ấy bày tỏ ý mình rằng: “Tôi bị cảm dục, tôi muốn hoàn tục”
Chư Tỳ Khưu trẻ cùng các Sa di mang vị Tỳ Khưu ấy đến trình bạch cùng với Đức Thế Tôn. Bậc Đạo Sư phán hỏi rằng:
- Nầy Tỳ Khưu! Có thật chăng? Được nghe nói rằng ngươi bị cảm dục nên muốn lìa bỏ đời sống phạm hạnh.
- Bạch Thế Tôn! Có thật như vậy.
- Nầy Tỳ Khưu! Vì sao ngươi lại hành động như thế? Ngươi có chi làm duyên để nuôi mạng chăng?
- Bạch Thế Tôn! Có.
- Vậy ngươi có cái chi?
- Thưa con có được 100 Kahāpana, bạch Thế Tôn.
- Nếu thế, ngươi hãy mang một số sỏi, ngươi hãy tính thử xem. Ngươi có thể nuôi mạng sống với số Kahāpana bấy nhiêu chăng? Hay là không thể đủ nuôi mạng sống.
Vị Tỳ Khưu ấy mang sỏi đến, Bậc Đạo Sư phán dạy y rằng:
- Ngươi hãy bỏ ra 50 đồng vàng mua vật thực trước, bỏ ra 25 đồng vàng mua đôi bò, bỏ ra bao nhiêu đây để mua hạt giống, bấy nhiêu đây để mua ách và cày, bấy nhiêu mua cuốc, bấy nhiêu mua rựa và búa. Khi ngươi tính như vậy rồi, thì 100 Kahāpana nầy cũng không đủ được.
Rồi Bậc Đạo Sư phán dạy vị Tỳ Khưu ấy rằng:
- Nầy các Tỳ Khưu! Số Kahāpana mà ngươi có được
quá ít, ngươi nhờ số Kahāpana nầy để tầm cầu thì làm sao thỏa mãn được. Được nghe rằng: Thời trước bậc trí làm Vua Chuyển Luân, chỉ cần vỗ tay thì mưa bảy báu rơi xuống ngập đến ngang lưng trong khoảng 12 do tuần, dù cho vị Chuyển Luân Vương ấy làm chúa nửa cõi Đạo Lợi suốt khoảng thời gian của 36 vị Đế Thích, nhưng cũng không hề thỏa mãn, phải mệnh chung.
Theo lời thỉnh cầu của chư Tỳ Khưu, Đức Thế Tôn thuyết lên Bổn Sanh Đức Vua Mandhātu theo chi tiết rằng:
“Mặt trời và mặt trăng (thường xoay tròn) rọi sáng các hướng như thế nào, tất cả chúng sanh sống trên trái đất nầy thường là kẻ nô lệ của Vua Mandhātu như vậy?”
Rồi Ngài tuyên thuyết lên kệ ngôn rằng:
186. “Na kahāpaṇavassena,
Titti kāmesu vijjati;
Appassādā dukhā kāmā,
“Dầu mưa bằng tiền vàng,
Các dục khó thỏa mãn.
Dục đắng nhiều ngọt ít,
Iti viññāya paṇḍito.”
187. “Api dibbesu kāmesu,
Ratiṃ so nādhigacchati;
Taṇhakkhayarato hoti,
Sammāsambuddhasāvako.”
Biết vậy là bậc trí.”
187. “Đệ tử bậc chánh giác,
Không tìm cầu dục lạc,
Dầu là dục Chư Thiên,
Chỉ ưa thích ái diệt.”
(Ngài HT Minh Châu)
186-187. Trận mưa bạc mưa vàng không làm cho hạnh tri túc phát sanh đến người dục lạc. Khoái lạc vật chất đem lại chút ít êm đềm và nhiều đau khổ. Biết như thế, người thiện trí không tìm được thỏa mãn trong khoái lạc, dầu ở cảnh giới trời. Hàng môn đệ của Đấng Toàn Giác hoan hỉ tận diệt ái dục.
CHÚ GIẢI:
Kahāpaṇavassena: Nghĩa là bậc trí vỗ tay khiến cho mưa 7 báu rơi xuống, mưa bảy báu nầy Ngài gọi là Kahāpaṇavasseṃ trong bài kệ nầy. Gọi là dục và phiền não dục cũng không sao thỏa mãn được, dù là mưa bảy báu. Chính sự tham dục ấy khó được thỏa mãn như vậy
Appassādā: Tức là có sự vui ít, vì giá trị của dục ví như giấc mộng…
Dukhā: Tức gọi là khổ thì có nhiều, chắc chắn do tác động của khổ đưa đến như trong bài kinh Đại khổ uẩn…
Iti viññāya: Tức là biết rõ các dục với điều như thế
Api dibbesu: Nghĩa là nếu có ai mời thiên dục. Dù như vậy, các Ngài vẫn không hoan hỷ trong các dục ấy, giống như Ngài Samiddhi được Chư Thiên mời.
Taṇhakkhayarato: Nghĩa là người hoan hỷ nhất với A La Hán và Níp Bàn, tức là mong muốn A La Hán với Níp Bàn.
Vị Tỳ Khưu hành giả chứng quả được do nghe Pháp của Đức Chảnh Đẳng Giác thuyết. Đó gọi là đệ tử của Bậc Chánh Đẳng Giác.
Dứt Pháp thoại vị Tỳ Khưu ấy chứng Quả Dự Lưu. Pháp thoại mang lại nhiều lợi ích cho thính chúng.
Mười ngàn đạo sĩ nhắm theo gương
Hỏa thí làm nên một đạo trường.
Họ lấy núi, rừng, vườn, thọ tháp,
Làm nơi diệt khổ, để mà nương.
Phật sai Đại đức Mục Kiền Liên,
Thâu phục Long Vương tại nhãn tiền,
Để độ mười ngàn tu sĩ ấy,
Qui y Tam Bảo hợp tiền duyên,
Phật kêu Hỏa Thí, dạy ông rằng:
Hãy sớm nương nhờ Phật Pháp Tăng,
Minh sát khổ đau, qua tập, diệt,
Mở đường Bát Chánh, để siêu thăng!
Bấy nhiêu lời pháp đủ cho ông
Với cả mười ngàn đạo sĩ đồng.
Đắc quả Vô sanh, phân tích tuệ,
Tu bằng y bát bởi thần thông…
DỨT TÍCH VỊ TỲ KHƯU KHÔNG HOAN HỶ
Anabhiratabhikkhuvatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Na kahāpaṇavassenāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto ekaṃ anabhiratabhikkhuṃ ārabbha kathesi.
So kira sāsane pabbajitvā laddhūpasampado “asukaṭṭhānaṃ nāma gantvā uddesaṃ uggaṇhāhī”ti upajjhāyena pesito tattha agamāsi. Athassa pituno rogo uppajji. So puttaṃ daṭṭhukāmo hutvā taṃ pakkosituṃ samatthaṃ kañci alabhitvā puttasokena vippalapantoyeva āsannamaraṇo hutvā “idaṃ me puttassa pattacīvaramūlaṃ kareyyāsī”ti kahāpaṇasataṃ kaniṭṭhassa hatthe datvā kālamakāsi. So daharassa āgatakāle pādamūle nipatitvā pavaṭṭento roditvā, “bhante, pitā te vippalapantova kālakato, mayhaṃ pana tena kahāpaṇasataṃ hatthe ṭhapitaṃ, tena kiṃ karomī”ti āha. Daharo “na me kahāpaṇehi attho”ti paṭikkhipitvā aparabhāge cintesi – “kiṃ me parakulesu piṇḍāya caritvā jīvitena, sakkā taṃ kahāpaṇasataṃ nissāya jīvituṃ, vibbhamissāmī”ti. So anabhiratiyā pīḷito vissaṭṭhasajjhāyanakammaṭṭhāno paṇḍurogī viya ahosi. Atha naṃ daharasāmaṇerā “kiṃ ida”nti pucchitvā “ukkaṇṭhitomhī”ti vutte ācariyupajjhāyānaṃ ācikkhiṃsu. Atha naṃ te satthu santikaṃ netvā satthu dassesuṃ. Satthā “saccaṃ kira tvaṃ ukkaṇṭhito”ti pucchitvā, “āma, bhante”ti vutte “kasmā evamakāsi, atthi pana te koci jīvitapaccayo”ti āha. “Āma, bhante”ti. “Kiṃ te atthī”ti? “Kahāpaṇasataṃ, bhante”ti. Tena hi katthaci tāva sakkharā āhara, gaṇetvā jānissāma “sakkā vā tāvattakena jīvituṃ, no vā”ti. So sakkharā āhari. Atha naṃ satthā āha – “paribhogatthāya tāva paṇṇāsaṃ ṭhapehi, dvinnaṃ goṇānaṃ atthāya catuvīsati, ettakaṃ nāma bījatthāya, yuganaṅgalatthāya, kuddālavāsipharasuatthāyā”ti evaṃ gaṇiyamāne taṃ kahāpaṇasataṃ nappahoti. Atha naṃ satthā “bhikkhu tava kahāpaṇā appakā, kathaṃ ete nissāya taṇhaṃ pūressasi, atīte kira cakkavattirajjaṃ kāretvā apphoṭitamattena dvādasayojanaṭṭhāne kaṭippamāṇena ratanavassaṃ vassāpetuṃ samattho yāva chattiṃsa sakkā cavanti, ettakaṃ kālaṃ devarajjaṃ kāretvāpi maraṇakāle taṇhaṃ apūretvāva kālamakāsī”ti vatvā tena yācito atītaṃ āharitvā mandhātujātakaṃ (jā. 1.3.22) vitthāretvā –
“Yāvatā candimasūriyā pariharanti, disā bhanti virocanā;
Sabbeva dāsā mandhātu, ye pāṇā pathavissitā”ti. –
Imissā gāthāya anantarā imā dve gāthā abhāsi –
“Na kahāpaṇavassena, titti kāmesu vijjati;
Appassādā dukhā kāmā, iti viññāya paṇḍito.
“Api dibbesu kāmesu, ratiṃ so nādhigacchati;
Taṇhakkhayarato hoti, sammāsambuddhasāvako”ti.
Tattha kahāpaṇavassenāti yaṃ so apphoṭetvā sattaratanavassaṃ vassāpesi, taṃ idha kahāpaṇavassanti vuttaṃ. Tenapi hi vatthukāmakilesakāmesu titti nāma natthi. Evaṃ duppūrā esā taṇhā. Appassādāti supinasadisatāya parittasukhā. Dukhāti dukkhakkhandhādīsu āgatadukkhavasena pana bahudukkhāva. Iti viññāyāti evamete kāme jānitvā. Api dibbesūti sace hi devānaṃ upakappanakakāmehi nimanteyyāpi āyasmā samiddhi viya evampi tesu kāmesu ratiṃ na vindatiyeva. Taṇhakkhayaratoti arahatte ceva nibbāne ca abhirato hoti, taṃ patthayamāno viharati. Sammāsambuddhasāvakoti sammāsambuddhena desitassa dhammassa savanena jāto yogāvacarabhikkhūti.
Desanāvasāne so bhikkhu sotāpattiphale patiṭṭhahi, sampattaparisāyapi sātthikā dhammadesanā ahosīti.
Anabhiratabhikkhuvatthu pañcamaṃ.
XIV. 5. The Buddha cures a Monk of Discontent
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
186. Not with a rain of coins can the lusts be satisfied;
The wise man understands that the lusts afford but temporary satisfaction, and bring suffering in their train.
187. Even in celestial pleasures the wise man takes no delight;
The disciple of the Supremely Enlightened takes delight only in the destruction of Craving.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to a certain discontented monk.
The story goes that after this monk had been admitted to the Order and had made his full profession, his preceptor sent him forth, saying, “Go to such and such a place and learn the Ordinances.” No sooner had the monk gone there than his father fell sick. Now the father desired greatly to see his son, but found no one able to summon him. When he was at the point of death, he began to chatter and prattle for love of his son. Putting a hundred pieces of money in the hands of his youngest son, he said to him, “Take this money and use it to buy a bowl and robe for my son.” So saying, he died.
When the young monk returned home, his youngest brother flung himself at his feet, and rolling on the ground, wept and said, “Reverend Sir, your father chattered and prattled of you when he died and placed in my hand a hundred pieces of money. What shall I do with it?” The young monk refused the money, saying, “I have no need of this money.” After a time, however, he thought to himself, “What is the use of living if I am obliged to gain my living by going from house to house for alms? These hundred pieces of money are enough to keep me alive; I will return to the life of a layman.”
Oppressed with discontent, he abandoned the recitation of the Sacred Texts and the Practice of Meditation, and began to look as though he were suffering from the jaundice. The young novices asked him, “What is the matter?” He replied, “I am discontented.” So they reported the matter to his preceptor and to his teacher, and the latter conducted him to the Teacher and explained what was the matter with him.
The Teacher asked him, “Is the report true that you are discontented?” “Yes, Reverend Sir,” he replied. Again the Teacher asked him, “Why have you acted thus? Have you any means of livelihood?” “Yes, Reverend Sir.” “How great is your wealth?” “A hundred pieces of money, Reverend Sir.” “Very well; just fetch a few potsherds hither; we will count them and find out whether or not you have sufficient means of livelihood.” The discontented monk brought the potsherds. Then the Teacher said to him, “Now then, set aside fifty for food and drink, twenty-four for two bullocks, and an equal number for seed, for a two-bullock-plow, for a spade, and for a razor-adze.” The result of the count proved that the hundred pieces of money would be insufficient.
Then said the Teacher to him, “Monk, the pieces of money which you possess are but few in number. How can you hope to satisfy your desire with so few as these? In times past lived men who exercised sway as Universal Monarchs, men who by a mere waving of the arms were able to cause a rain of jewels to fall, covering the ground for twelve leagues waist-deep with jewels; these men ruled as kings until Thirty-six Sakkas had died; and, although exercising sovereignty over the gods for so long, died, when they did die, without having fulfilled their desires.” When the Teacher had thus spoken, the monks requested him to relate this Story of the Past. The Teacher accordingly related the Mandhātā Jātaka in detail.
As far as the moon and the sun revolve, and the resplendent quarters are bright,
All are slaves of Mandhātā, as many living beings as are on the earth.
Then he pronounced the two Stanzas which immediately follow the preceding Stanza,
186. Not with a rain of coins can the lusts be satisfied;
The wise man understands that the lusts afford but temporary satisfaction, and bring suffering in their train.
187. Even in celestial pleasures the wise man takes no delight;
The disciple of the Supremely Enlightened takes delight only in the destruction of Craving.
- Text: N iii. 238-241.
- Jātaka 258: ii. 310-314. Cf. Divyāvadāna, xvii: 210 S.; and Tibetan Tales, i: 1-20. The story tells of King Mandhātā, whose desire could not be satisfied on earth, nor in the world of the gods.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.