Chú giải Pháp Cú · Kệ 188–192 · Dhp 188–192

Tích Quốc Sư Aggidatta

Aggidattabrāhmaṇavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 188–192 Kinh Pháp Cú, phẩm Phật, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 188-189-190-191-192 )

188. “Bahuṃ ve saraṇaṃ yanti,
Pabbatāni vanāni ca;
Ārāmarukkhacetyāni,
Manussā bhayatajjitā.”
“Loài người sợ hoảng hốt,
Tìm nhiều chỗ quy y,
Hoặc rừng rậm, núi non,
Hoặc vườn cây, đền tháp.”
189. “Netaṃ kho saraṇaṃ khemaṃ,
Netaṃ saraṇamuttamaṃ;
Netaṃ saraṇamāgamma,
Sabbadukkhā pamuccati.”
“Quy y ấy không ổn,
Không quy y tối thượng.
Quy y các chỗ ấy,
Không thoát mọi khổ đau?”
190. “Yo ca buddhañca dhammañca,“
Saṅghañca saraṇaṃ gato;
Cattāri ariyasaccāni,
Sammappaññāya passati.”
Ai quy y Đức Phật,
Chánh Pháp và chư Tăng,

Ai dùng chánh tri kiến,
Thấy được bốn Thánh đế.”
191. “Dukkhaṃ dukkhasamuppādaṃ,
Dukkhassa ca atikkamaṃ;
Ariyaṃ caṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ,
Dukkhūpasamagāminaṃ.”
“Thấy khổ và khổ tập,
Thấy sự khổ vượt qua,
Thấy đường Thánh tám ngành,
Đưa đến khổ não tận.”
192. “Etaṃ kho saraṇaṃ khemaṃ,
Etaṃ saraṇamuttamaṃ;
Etaṃ saraṇamāgamma,
Sabbadukkhā pamuccati.”
“Thật quy y an ổn,
Thật quy y tối thượng,
Có quy y như vậy,
Mới thoát mọi khổ đau.”
(Ngài HT Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết lên khi Ngài ngự trú tại Jetavana, đề cập đến vị Quốc Sư của Đức Vua Pasenadi.

Tương truyền rằng: Aggidatta là vị Quốc Sư của Vua Mahākosala. Khi Vua băng hà, ngai vương được trao lại cho Đức Vua Pasenadikosala, Đức Vua Pasenadi suy nghĩ rằng: “Aggidatta là Quốc Sư của Vương Phụ”, nên Ngài vẫn ban cho vị ấy địa vị cũ, khi Quốc Sư Aggidatta đến, Đức Vua đứng dậy tiếp nghinh một cách tôn kính, thỉnh ngôi ngang hàng với mình và phán rằng:

- Thưa thấy! Xin Thầy hãy ngự vào nơi nầy.

Khi ấy, Quốc Sư Aggidatta suy nghĩ:

- Đức Vua nầy rất tôn kính ta, nhưng ta không thể nào làm hài lòng Đức Vua mãi mãi được. Lại nữa, Đức Vua là người còn trẻ, phải là người đồng trang lứa mới hợp với Ngài, đem lại sự an lạc và thoải mái khi Ngài cùng vị ấy bàn chuyện. Còn ta nay đã già, thôi ta hãy xin Ngài được phép xuất gia đi.

Quốc Sư Aggidatta xin Đức Vua cho mình được xuất gia, mặc cho Đức Vua nài nỉ can ngăn, sau cùng Đức Vua đành chìu theo ý của Aggidatta. Quốc Sư cho người đánh trồng truyền rao khắp kinh thành, mang tài sản của mình ra bố thí tất cả trọn bảy ngày, rồi ra đi xuất gia.

Bấy giờ, có 10 ngàn tùy tùng của Quốc Sư cũng xuất gia theo hầu hạ Aggidatta. Du sĩ Aggidatta cùng với đại chúng tùy tùng tuần tự du hành đến xứ Anga, Magadha, Kuru, ban lời giáo huấn rằng:

- Nầy các con! Người nào khi có dục tầm…sanh khởi, người ấy đến bờ sông, múc một nồi cát đem lại đây.

- Thưa thầy! Vâng.

Thế là, trong khi dục tầm…sanh khởi, người đệ tử ấy mục nồi cát ở bờ sông mang đến đồ vào một nơi. Thời gian sau, đống cát trở nên to lớn, khi ấy có con Long Vương đến nơi đống cát ấy mà trú ngụ. Dân xứ ba xứ lớn là Anga, Magadhu, và Kuru đã hộ độ cúng dường các du sĩ ấy mỗi tháng. Aggidatta đã dạy cho nhóm đệ tử nương nhờ rằng:

- Các người hãy nương vào núi, rừng, chùa miếu, đền vắng, cội cay để được thanh tịnh. Các ngươi sẽ được chấm dứt đau khổ với cách nương nhờ như vậy.

Bấy giờ, Đức Đạo Sư đang ngự trú nơi Jetavana trong thành Sāvatthī. Vào rạng đông, Ngài dùng Phật nhãn quán xét thế gian, thấy được hình ảnh của Aggidatta cùng chúng đệ tử của ông trong võng tuệ của Ngài, Ngài biết được rằng: “Những người nầy có duyên lành đắc A La Hán Quả”. Vào buổi chiều, Ngài phán gọi Trưởng Lão Moggallāna rằng:

- Nầy Moggallāna! Ngươi có thấy Bà la môn Aggidatta dạy đại chúng của mình theo con đường phi pháp, là con đường phi giải thấy, không phải là con đường đưa đến bờ kia chăng? Ngươi hãy đến ban lời giáo huấn bọn họ đi.

- Bạch Thế Tôn! Nhóm đại chúng ấy quá đông, một mình con không thể chinh phục được. Nếu Ngài ngự đến thì sẽ chinh phục được nhóm ấy dễ dàng.

- Nầy Moggallāna! Như Lai sẽ đi cùng với ngươi, ngươi hãy đến nơi ấy trước đi.

Trưởng Lão Moggallāna vừa đi vừa suy nghĩ:
- Hội chúng nầy quá đông, họ có nhiều sức mạnh,

nếu ta nói lời chi nghịch ý họ, họ sẽ nổi lên bênh vực nhau. Vậy ta hãy dùng thần lực của mình khiến cho mưa đá rơi xuống, khi những người ấy bị mưa đá sẽ chạy về trú trong Tịnh Xá của mình.

Trưởng Lão đi đến Tịnh thất của Aggidatta nói rằng:

- Nầy Aggidatta.

Nghe tiếng Trưởng Lão, Aggidatta hỏi lại: “Ai đó?”, vì y phát sanh ngã mạn trong tâm rằng:

- Trong thế gian nầy, không ai dám gọi ta là Aggidatta tục danh như thế. Vậy ai đã dám gọi tên ta như thế chứ?

- Nầy Bà la môn! Là Ta đây.

- Nầy ông! Ông vừa nói chi thế?

- Nầy Bà la môn! Ông vừa nói chi thế? Ông hãy soạn nơi nghĩ cho ta đi, ta sẽ nghỉ lại nơi đây một đêm.

- Nầy ông, nơi đây không có chỗ nghỉ, mỗi tịnh thất chỉ vừa cho một người mà thôi.

- Nầy Aggidatta! Lẽ thường! Người đến chỗ người, bò đến chỗ bò, bậc xuất gia thì đến nơi trú của bậc xuất gia. Ông chớ nên xử sự với ta như thế. Ông hãy cho ta chỗ ngụ đi.

- Thế ông là bậc xuất gia hay sao?

- Đúng thế, ta là bậc xuất gia.

- Nếu ông là bậc xuất gia, thì túi Sa môn cụ của ông đâu?

- Ta có thật đấy, nhưng ta thấy rằng túi sa môn cụ mang theo cồng kềnh, khó đi, do đó ta chỉ mang theo một số ít tư cụ Sa môn mà thôi, để đi du hành. Nay Bà la môn y cụ Sa môn ta mang theo trong tâm đây.

Nghe vậy, Bà la môn Aggidatta phát khởi sân tâm với Trưởng Lão:

- Ông không có đem theo vật dụng hay sao?

- Nầy Aggidatta! Ngươi chớ có sân hận với ta, hãy cho ta một chỗ trú đêm nay đi.

- Ở đây không có chỗ cho ngươi.

- Vậy thì, nơi đống cát ấy có ai nghỉ chăng?

- Ở đó có con Long Vương Ahichatta hung ác trú đây.

- Thế thì, ông hãy cho ta chỗ ấy đi.

- Không được, vì Long Vương ấy hung dữ lắm.

- Không sao cả, ông hãy cho ta chỗ ấy đi.

- Nếu ông muốn nơi ấy thì tùy ông.

Trưởng lão đi đến đống cát, Long Vương Ahichatta trông thấy Trưởng lão đi đến, nó nỗi cơn hung ác, suy nghĩ rằng:

- Vị Sa Môn nầy không biết có ta nơi nầy, toan chiếm chỗ trú của ta, ta sẽ phun khói làm vị nầy chết ngạt đi.

Long Vương liền phun khói độc ra, toan sát hại Trưởng Lão. Ngài suy nghĩ: “Long Vương nầy tưởng rằng: Chỉ có ta có thể phun khói được, không ai có thể làm được như nó”. Ta sẽ phun khói ra thu phục nó.

Trưởng lão vận thần lực phun khói ra đối kháng với luồng hung khói của Long Vương. Cả hai luồng khói bốc cao thấu đến Phạm Thiên Giới, nhưng hai luồng khói ấy chẳng tác hại gì đến ai cả, chỉ tác hại riêng đến Long Vương mà thôi. Long Vương không thể chịu đựng được sức mạnh của Trưởng Lão, liền phun lửa ra, Trưởng Lão liền nhập vào hỏa giới, phun lửa ra đấu với lửa Long Vương, ngọn lửa bốc cao lên Phạm Thiên Giới, rồi đốt vào thân của Long Vương. Long Vương như một thân đuốc rực sáng khổng lồ. Các Du sĩ thấy cảnh ấy, suy nghĩ rằng:

- Long Vương hung dữ nầy sẽ thiêu đốt vị Sa môn kia, thật y chết cũng phải, vì chẳng chịu nghe lời chúng ta.

Bây giờ, Đại Đức Moggallāna dùng thần lực của mình, chinh phục được Long Vương, Ngài ngồi trên đống cát. Long Vương dùng thân khoanh tròn đống cát, phùng mang ra thật lớn che trên đầu Đại Đức như mái che lớn.

Các du sĩ đi đến đống cát với sự suy nghĩ rằng:

- Chúng ta hãy đến xem ông Sa môn nầy chết chưa?

Khi trông thấy Trưởng Lão ngồi trên đống cát, được Long Vương che chở như thế, phát sanh tâm kính phục, chấp tay đảnh lễ tán dương rằng: “Thưa Ngài Đại Sa Môn! Long Vương không làm hại Ngài được sao?”

- Các ngươi không thấy Long Vương đang che trên đầu của ta, với mang lớn y bảo vệ ta đó sao?

Các du sĩ đồng thanh tán thán rằng:

- Thật kỳ diệu thay! Bạch Ngài, thần lực của vị Sa môn nầy là như vậy, vị Sa môn đã chinh phục được Hung Long.

Các du sĩ đứng vây quanh Trưởng Lão với lời chúc tụng như thế. Đức Thế Tôn ngự đến, Trưởng lão trông thấy Đức Thế Tôn từ xa đang ngự đến, Ngài đứng lên đảnh lễ Đức Thế Tôn. Các du sĩ hỏi Trưởng Lão rằng:

- Bạch Ngài! Vị Sa môn nầy còn cao quí hơn Ngài nữa sao?

- Thật vậy, vì Ngài là Bậc Đạo Sư của ta! Ta chỉ là đệ tử của Ngài mà thôi.

Đức Thế Tôn ngồi yên trên đống cát, các du sĩ chấp tay đảnh lễ và tán dương Ngài rằng:

- Thần lực của vị đệ tử mà như thế thì con nói gì đến thần lực của Bậc Đạo Sư như Ngài nữa chứ.

Đức Thế Tôn cho phán gọi Aggidatta đến phán dạy rằng:

- Nầy Aggidatta! Ngươi đã giáo huấn môn đệ và các tín thí hộ độ ngươi như thế nào!

Bạch Thế Tôn! Con đã giáo giới đại chúng tùy tùng như vầy: “Các ngươi hãy nương vào nơi núi, rừng, đền miếu… vì rằng: các ngươi nương vào đó sẽ được thanh tịnh, sẽ chấm dứt được đau khổ”.

Nầy Aggidatta! Ngươi đã đi đến các chỗ như núi rừng…nương dựa vào những nơi ấy không thể thoát khổ được. Còn ngươi nương vào Phật, Pháp, Tăng sẽ thoát khỏi khổ trong luân hồi. Rồi Ngài tuyên thuyết lên kệ ngôn rằng:

188. “Bahuṃ ve saraṇaṃ yanti,
Pabbatāni vanāni ca;
Ārāmarukkhacetyāni,
Manussā bhayatajjitā.”
“Loài người sợ hoảng hốt,
Tìm nhiều chỗ quy y,
Hoặc rừng rậm, núi non,
Hoặc vườn cây, đền tháp.”
189. “Netaṃ kho saraṇaṃ khemaṃ,
Netaṃ saraṇamuttamaṃ;
Netaṃ saraṇamāgamma,
Sabbadukkhā pamuccati.”
“Quy y ấy không ổn,
Không quy y tối thượng.
Quy y các chỗ ấy,

Không thoát mọi khổ đau?”
190. “Yo ca buddhañca dhammañca,
Saṅghañca saraṇaṃ gato;
Cattāri ariyasaccāni,
Sammappaññāya passati.”
“Ai quy y Đức Phật,
Chánh Pháp và chư Tăng,
Ai dùng chánh tri kiến,
Thấy được bốn Thánh đế.”
191. “Dukkhaṃ dukkhasamuppādaṃ,
Dukkhassa ca atikkamaṃ;
Ariyaṃ caṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ,
Dukkhūpasamagāminaṃ.”
“Thấy khổ và khổ tập,
Thấy sự khổ vượt qua,
Thấy đường Thánh tám ngành,
Đưa đến khổ não tận.”
192. “Etaṃ kho saraṇaṃ khemaṃ,
Etaṃ saraṇamuttamaṃ;
Etaṃ saraṇamāgamma,
Sabbadukkhā pamuccati.”
“Thật quy y an ổn,
Thật quy y tối thượng,
Có quy y như vậy,
Mới thoát mọi khổ đau.”
(Ngài HT Minh Châu)

188. Con người kinh hãi đi tìm nơi nương tựa ở nhiều nơi núi, rừng, vườn, cây cối và đến miếu.

189. Không, đó không phải là nơi nương tựa an toàn, không phải là nơi nương tựa tối thượng. Ẩn náu như vậy không thể thoát khỏi phiền não.

190-191-192. Người đi tìm nơi nương tựa nơi Đức Phật, Giáo Pháp và Tăng Già, có tri kiến chân chánh để nhận thức Từ Đế: Khổ, nguồn khổ, vượt khỏi khổ và Bát chánh đạo dẫn đến sự diệt khổ.

Đó quả thật là nơi nương tựa an toàn. Đó quả thật là nương tựa tối thượng. Tìm đến các nơi nương tựa ấy ắt thoát ra khỏi mọi phiền não.

CHÚ GIẢI:

Bahuṃ: là bahū nghĩa là nhiều.
Câu Pabbatāni vanāni ca: nghĩa là những người

đó bi nguy hiểm, muốn thoát khổ, hoặc muốn được con, muốn được tài sản, danh vọng… thường đi vào nương nơi những ngọn núi Isigilivepulla và Vebhāra… hay các khu rừng như rừng Mahāvana, Gosingasālavana…hay những cội cây, đền tháp như Udenacetiya, Gotamacetiyā …

Hai câu Netaṃ saraṇamāgamma, sabbadukkhā pamuccati: nghĩa là nương tựa chỗ không an toàn, không cao quí, vì rằng tất cả chúng sanh có sự sanh, già… là lẽ thường, dù một người nương tựa nơi đó thì không thể thoát khỏi khổ được như sanh, già…

Yo ca buddhañca dhammañca: nghĩa là Đức Thế Tôn nói chỗ nương tựa không an toàn, không cao quí, Ngài đề cập đến nơi nương tựa an toàn và cao quí.

Ý nghĩa của câu Yo ca… như vậy: Người cư sĩ hay bậc xuất gia cũng thế, nhờ vào Niệm Xứ tức là ân đức Phật, ân đức Pháp, ân đức Tăng…rằng: “Nương tựa nơi Phật, Pháp, Tăng…rằng: Đức Thế Tôn là bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác, nương tựa nơi Phật, Pháp, Tăng đó là sự nương tựa cao quý. Sự nương nhờ vào rừng, núi… của người vẫn còn tâm phiền não, khiến cho giao động với những điều như sự đảnh lễ của ngoại đạo… Nhưng Đức Thế Tôn tuyên thuyết rằng sự nương tựa vào Phật, Pháp, Tăng ấy là những đối tượng không còn bị giao động với cung kỉnh, lợi đắc, danh vọng…Ngài tuyên bố rằng hãy nương tựa vào Thánh Quả, Đạo Tuệ, rằng:

“Hãy liễu ngộ Tứ Thánh Đế bằng trí tuệ chân chánh”. Vì rằng: Do nương tựa vào Phật, Pháp, Tăng sẽ liễu ngộ được những điều như thế. Đó là chỗ nương tựa tối thượng và an ổn, nương tựa như thế mới thoát khỏi luân hồi.

Do vậy, Đức Thế Tôn mới phán rằng: “Etaṃ kho saraṇaṃ khemaṃ!”

Dứt Pháp thoại, các du sĩ chứng đắc quả A La Hán cũng với tuệ phân tích, đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn xin xuất gia sống đời phạm hạnh trong Giáo Pháp của Ngài. Đức Thế Tôn đưa tay phán:

- Hỡi các Tỳ Khưu, hãy đến đây, thực hành phạm hạnh đi.

Lập tức, râu tóc các du sĩ rụng mất, các tư cụ sa môn xuất hiện cho các vị ấy, tuy mới xuất gia nhưng các Ngài có Tăng tướng như vị Trưởng Lão trăm tuổi hạ.

Hôm ấy, cũng là ngày Uposatha, dân chúng xứ Anga, Magadha và Kura mang lễ vật đến cúng dường các du sĩ, thấy các du sĩ ấy đã xuất gia, có sự suy nghĩ rằng: “Bà la môn Aggidatta của chúng ta cao thượng hơn Sa môn Gotama hay Sa môn Gotama cao thượng hơn Bà la môn của chúng ta nhỉ?”. Và họ lại xác nhận trong tâm:

- Có lẽ Aggidatta lớn hơn, vì Sa môn Gotama phải đến nơi ngụ của Bà la môn Aggidatta.

Với tâm mình, Đức Thế Tôn biết được sự suy nghĩ của đại chúng, Ngài phán rằng:

- Nầy Aggidatta! Ngươi hãy đoạn nghi cho đại chúng đi.

Tôn giả Aggidatta bạch rằng:
- Bạch Thế Tôn! Con cũng đang muốn như thế.

Rồi vị ấy bay lên hư không cao độ 1 cây thốt nốt, hạ xuống đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi lại bay lên cao độ 2 cây thốt nốt, rồi hạ xuống đảnh lễ Đức Thế Tôn. Vị ấy làm như thế 7 lần đến độ cao khoảng 7 cây thốt nốt, đảnh lễ Đức Thế Tôn, và tuyên bố rằng:

- Bạch Thế Tôn! Ngài là Bậc Đạo Sư của con, con là đệ tử của Ngài.

Đại chúng vô cùng hoan hỉ, tiếp theo Đức Thế Tôn thuyết lên Pháp thoại sách tấn, khích lệ làm hoan hỷ đại chúng. Rồi Ngài cùng đại chúng Tỳ Khưu trở về Jetavana.

Phật dạy nơi sanh các thú nòi
Kể từ voi, ngựa, đến bò, voi,…
Nhưng chưa giải chỗ sanh người tốt,
Xin Phật từ bi giải rạch ròi!
Phật đáp theo lời đã hỏi han:
“Thánh nhân xuất hiện ở trần gian,
Chỉ trong một xứ miền Trung Ấn,
Giòng dõi vua, quan, cấp quí sang!
Rất khó tao phùng bậc thánh nhân,
Khác chi gặp gỡ vật cam trân,
Nơi nào kẻ trí sanh, nơi đó,
Hạnh phúc gia đình đủ thập phân.

DỨT TÍCH QUỐC SƯ AGGIDATTA

Aggidattabrāhmaṇavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Bahuṃ ve saraṇaṃ yantīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto vālikarāsimhi nisinnaṃ aggidattaṃ nāma kosalarañño purohitaṃ ārabbha kathesi.

So kira mahākosalassa purohito ahosi. Atha naṃ pitari kālakate rājā pasenadi kosalo “pitu me purohito”ti gāravena tasmiṃyeva ṭhāne ṭhapetvā tassa attano upaṭṭhānaṃ āgatakāle paccuggamanaṃ karoti, “ācariya, idha nisīdathā”ti samānāsanaṃ dāpesi. So cintesi – “ayaṃ rājā mayi ativiya gāravaṃ karoti, na kho pana rājūnaṃ niccakālameva sakkā cittaṃ gahetuṃ. Samānavayeneva hi saddhiṃ rajjasukhaṃ nāma sukhaṃ hoti, ahañcamhi mahallako, pabbajituṃ me yutta”nti. So rājānaṃ pabbajjaṃ anujānāpetvā nagare bheriṃ carāpetvā sattāhena sabbaṃ attano dhanaṃ dānamukhe vissajjetvā bāhirakapabbajjaṃ pabbaji. Taṃ nissāya dasa purisasahassāni anupabbajiṃsu. So tehi saddhiṃ aṅgamagadhānañca kururaṭṭhassa ca antare vāsaṃ kappetvā imaṃ ovādaṃ deti, “tātā, yassa kāmavitakkādayo uppajjanti, so nadito ekekaṃ vālukapuṭaṃ uddharitvā imasmiṃ okiratū”ti. Te “sādhū”ti paṭissuṇitvā kāmavitakkādīnaṃ uppannakāle tathā kariṃsu. Aparena samayena mahāvālukarāsi ahosi, taṃ ahichatto nāma nāgarājā paṭiggahesi. Aṅgamagadhavāsino ceva kururaṭṭhavāsino ca māse māse tesaṃ mahantaṃ sakkāraṃ abhiharitvā dānaṃ denti. Atha nesaṃ aggidatto imaṃ ovādaṃ adāsi – “pabbataṃ saraṇaṃ yātha, vanaṃ saraṇaṃ yātha, ārāmaṃ saraṇaṃ yātha, rukkhaṃ saraṇaṃ yātha, evaṃ sabbadukkhato muccissathā”ti. Attano antevāsikepi iminā ovādena ovadi.

Bodhisattopi katābhinikkhamano sammāsambodhiṃ patvā tasmiṃ samaye sāvatthiṃ nissāya jetavane viharanto paccūsakāle lokaṃ volokento aggidattabrāhmaṇaṃ saddhiṃ antevāsikehi attano ñāṇajālassa anto paviṭṭhaṃ disvā “sabbepi ime arahattassa upanissayasampannā”ti ñatvā sāyanhasamaye mahāmoggallānattheraṃ āha – “moggallāna, kiṃ passasi aggidattabrāhmaṇaṃ mahājanaṃ atitthe pakkhandāpentaṃ, gaccha tesaṃ ovādaṃ dehī”ti. Bhante, bahū ete, ekakassa mayhaṃ avisayhā. Sace tumhepi āgamissatha, visayhā bhavissantīti. Moggallāna, ahampi āgamissāmi, tvaṃ purato yāhīti. Thero purato gacchantova cintesi – “ete balavanto ceva bahū ca. Sace sabbesaṃ samāgamaṭṭhāne kiñci kathessāmi, sabbepi vaggavaggena uṭṭhaheyyu”nti attano ānubhāvena thūlaphusitakaṃ devaṃ vuṭṭhāpesi. Te thūlaphusitakesu patantesu uṭṭhāyuṭṭhāya attano attano paṇṇasālaṃ pavisiṃsu. Thero aggidattassa brāhmaṇassa paṇṇasāladvāre ṭhatvā “aggidattā”ti āha. So therassa saddaṃ sutvā “maṃ imasmiṃ loke nāmena ālapituṃ samattho nāma natthi, ko nu kho maṃ nāmena ālapatī”ti mānathaddhatāya “ko eso”ti āha. “Ahaṃ, brāhmaṇā”ti. “Kiṃ vadesī”ti? “Ajja me ekarattiṃ idha vasanaṭṭhānaṃ tvaṃ ācikkhāhī”ti. “Idha vasanaṭṭhānaṃ natthi, ekassa ekāva paṇṇasālā”ti. “Aggidatta, manussā nāma manussānaṃ, gāvo gunnaṃ, pabbajitā pabbajitānaṃ santikaṃ gacchanti, mā evaṃ kari, dehi me vasanaṭṭhāna”nti. “Kiṃ pana tvaṃ pabbajito”ti? “Āma, pabbajitomhī”ti. “Sace pabbajito, kahaṃ te khāribhaṇḍaṃ, ko pabbajitaparikkhāro”ti. “Atthi me parikkhāro, visuṃ pana naṃ gahetvā vicarituṃ dukkhanti abbhantareneva naṃ gahetvā vicarāmi, brāhmaṇā”ti. So “taṃ gahetvā vicarissasī”ti therassa kujjhi. Atha naṃ so āha – “amhe, aggidatta, mā kujjhi, vasanaṭṭhānaṃ me ācikkhāhī”ti. Natthi ettha vasanaṭṭhānanti. Etasmiṃ pana vālukarāsimhi ko vasatīti. Eko, nāgarājāti. Etaṃ me dehīti. Na sakkā dātuṃ, bhāriyaṃ etassa kammanti. Hotu, dehi meti. Tena hi tvaṃ eva jānāhīti.

Thero vālukarāsiabhimukho pāyāsi. Nāgarājā taṃ āgacchantaṃ disvā “ayaṃ samaṇo ito āgacchati, na jānāti maññe mama atthibhāvaṃ, dhūmāyitvā naṃ māressāmī”ti dhūmāyi. Thero “ayaṃ nāgarājā ‘ahameva dhūmāyituṃ sakkomi, aññe na sakkontī’ti maññe sallakkhetī”ti sayampi dhūmāyi. Dvinnampi sarīrato uggatā dhūmā yāva brahmalokā uṭṭhahiṃsu. Ubhopi dhūmā theraṃ abādhetvā nāgarājānameva bādhenti. Nāgarājā dhūmavegaṃ sahituṃ asakkonto pajjali. Theropi tejodhātuṃ samāpajjitvā tena saddhiṃyeva pajjali. Aggijālā yāva brahmalokā uṭṭhahiṃsu. Ubhopi theraṃ abādhetvā nāgarājānameva bādhayiṃsu. Athassa sakalasarīraṃ ukkāhi padittaṃ viya ahosi. Isigaṇo oloketvā cintesi – “nāgarājā, samaṇaṃ jhāpeti, bhaddako vata samaṇo amhākaṃ vacanaṃ asutvā naṭṭho”ti. Thero nāgarājānaṃ dametvā nibbisevanaṃ katvā vālukarāsimhi nisīdi. Nāgarājā vālukarāsiṃ bhogehi parikkhipitvā kūṭāgārakucchipamāṇaṃ phaṇaṃ māpetvā therassa upari dhāresi.

Isigaṇā pātova “samaṇassa matabhāvaṃ vā amatabhāvaṃ vā jānissāmā”ti therassa santikaṃ gantvā taṃ vālukarāsimatthake nisinnaṃ disvā añjaliṃ paggayha abhitthavantā āhaṃsu – “samaṇa, kacci nāgarājena na bādhito”ti. “Kiṃ na passatha mama upariphaṇaṃ dhāretvā ṭhita”nti? Te “acchariyaṃ vata bho, samaṇassa evarūpo nāma nāgarājā damito”ti theraṃ parivāretvā aṭṭhaṃsu. Tasmiṃ khaṇe satthā āgato. Thero satthāraṃ disvā uṭṭhāya vandi. Atha naṃ isayo āhaṃsu – “ayampi tayā mahantataro”ti. Eso bhagavā satthā, ahaṃ imassa sāvakoti. Satthā vālukarāsimatthake nisīdi, isigaṇo “ayaṃ tāva sāvakassa ānubhāvo, imassa pana ānubhāvo kīdiso bhavissatī”ti añjaliṃ paggayha satthāraṃ abhitthavi. Satthā aggidattaṃ āmantetvā āha – “aggidatta, tvaṃ tava sāvakānañca upaṭṭhākānañca ovādaṃ dadamāno kinti vatvā desī”ti. “Etaṃ pabbataṃ saraṇaṃ gacchatha, vanaṃ ārāmaṃ rukkhaṃ saraṇaṃ gacchatha. Etāni hi saraṇaṃ gato sabbadukkhā pamuccatī”ti evaṃ tesaṃ ovādaṃ dammīti. Satthā “na kho, aggidatta, etāni saraṇaṃ gato sabbadukkhā pamuccati, buddhaṃ dhammaṃ saṅghaṃ pana saraṇaṃ gantvā sakalavaṭṭadukkhā pamuccatī”ti vatvā imā gāthā abhāsi –

“Bahuṃ ve saraṇaṃ yanti, pabbatāni vanāni ca;
Ārāmarukkhacetyāni, manussā bhayatajjitā.

“Netaṃ kho saraṇaṃ khemaṃ, netaṃ saraṇamuttamaṃ;
Netaṃ saraṇamāgamma, sabbadukkhā pamuccati.

“Yo ca buddhañca dhammañca, saṅghañca saraṇaṃ gato;
Cattāri ariyasaccāni, sammappaññāya passati.

“Dukkhaṃ dukkhasamuppādaṃ, dukkhassa ca atikkamaṃ;
Ariyaṃ caṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ, dukkhūpasamagāminaṃ.

“Etaṃ kho saraṇaṃ khemaṃ, etaṃ saraṇamuttamaṃ;
Etaṃ saraṇamāgamma, sabbadukkhā pamuccatī”ti.

Tattha bahunti bahu. Pabbatānīti tattha tattha isigilivepullavebhārādike pabbate ca mahāvanagosiṅgasālavanādīni vanāni ca veḷuvanajīvakambavanādayo ārāme ca udenacetiyagotamacetiyādīni rukkhacetyāni ca te te manussā tena tena bhayena tajjitā bhayato muccitukāmā puttalābhādīni vā patthayamānā saraṇaṃ yantīti attho. Netaṃ saraṇanti etaṃ sabbampi saraṇaṃ neva khemaṃ na uttamaṃ, na ca etaṃ paṭicca jātiādidhammesu sattesu ekopi jātiādito sabbadukkhā pamuccatīti attho.

Yo cāti idaṃ akhemaṃ anuttamaṃ saraṇaṃ dassetvā khemaṃ uttamaṃ saraṇaṃ dassanatthaṃ āraddhaṃ. Tassattho – yo ca gahaṭṭho vā pabbajito vā “itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho”tiādikaṃ buddhadhammasaṅghānussatikammaṭṭhānaṃ nissāya seṭṭhavasena buddhañca dhammañca saṅghañca saraṇaṃ gato, tassapi taṃ saraṇagamanaṃ aññatitthiyavandanādīhi kuppati calati. Tassa pana acalabhāvaṃ dassetuṃ maggena āgatasaraṇameva pakāsanto cattāri ariyasaccāni sammappaññāya passatīti āha. Yo hi etesaṃ saccānaṃ dassanavasena etāni saraṇaṃ gato, etassa etaṃ saraṇaṃ khemañca uttamañca, so ca puggalo etaṃ saraṇaṃ paṭicca sakalasmāpi vaṭṭadukkhā pamuccati, tasmā etaṃ kho saraṇaṃ khemantiādi vuttaṃ.

Desanāvasāne sabbepi te isayo saha paṭisambhidāhi arahattaṃ patvā satthāraṃ vanditvā pabbajjaṃ yāciṃsu. Satthāpi cīvaragabbhato hatthaṃ pasāretvā “etha bhikkhavo, caratha brahmacariya”nti āha. Te taṅkhaṇeyeva aṭṭhaparikkhāradharā vassasaṭṭhikatherā viya ahesuṃ. So ca sabbesampi aṅgamagadhakururaṭṭhavāsīnaṃ sakkāraṃ ādāya āgamanadivaso ahosi. Te sakkāraṃ ādāya āgatā sabbepi te isayo pabbajite disvā “kiṃ nu kho amhākaṃ aggidattabrāhmaṇo mahā, udāhu samaṇo gotamo”ti cintetvā samaṇassa gotamassa āgatattā “aggidattova mahā”ti maññiṃsu. Satthā tesaṃ ajjhāsayaṃ oloketvā, “aggidatta, parisāya kaṅkhaṃ chindā”ti āha. So “ahampi ettakameva paccāsīsāmī”ti iddhibalena sattakkhattuṃ vehāsaṃ abbhuggantvā punappunaṃ oruyha satthāraṃ vanditvā “satthā me, bhante, bhagavā, sāvakohamasmī”ti vatvā sāvakattaṃ pakāsesīti.

Aggidattabrāhmaṇavatthu chaṭṭhaṃ.

XIV. 6. The Monk and the Dragon

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

188-192. To many a refuge men go...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana, sitting on a pile of sand; and it was with reference to Aggidatta, house-priest of the King of Kosala.

It appears that Aggidatta was the house-priest of Mahā Kosala. When Mahā Kosala died, his son, King Pasenadi Kosala, out of respect for Aggidatta, since he had been his father’s house-priest, reappointed him to the same post. Whenever Aggidatta came to wait upon the king, the king would go forth to meet him and would provide him with a seat of equal dignity with himself and say to him, “Teacher, pray sit here.” After a time, however, Aggidatta thought to himself, “This king pays me very great deference, but it is impossible to remain in the good graces of kings for good and all. Life in a king’s household is very pleasant for one who is of equal age with the king. But I am an old man and therefore had best become a monk.” Accordingly Aggidatta asked permission of the king to become a monk, caused a drum to be beaten throughout the city, spent all of his wealth by way of alms in the course of a week, and retired from the world, becoming a monk of an heretical order. Ten thousand men followed his example and became monks.

Aggidatta with his monks took up his residence on the frontier of the country of the Aṅgas and Magadhas and the country of the Kurus. Having so done, he addressed his monks as follows, “Friends, in case any one of you should be troubled with unlawful thoughts, whether lustful, malevolent, or cruel, let each one of you so troubled fill a jar with sand from the river and empty the sand in this place.” “Very well,” said the monks, promising to do so. So whenever they were troubled by unlawful thoughts, whether lustful, malevolent, or cruel, they did as he had commanded them to do. In the course of time there arose a great heap of sand, and Ahicchatta king of the dragons took possession of it. The dwellers in Aṅga and Magadha and the dwellers in the kingdom of the Kurus, month by month, brought rich offerings in honor of those monks and presented them to them. Now Aggidatta admonished them as follows, “So surely as you seek refuge in a mountain, so surely as you seek refuge in a forest, so surely as you seek refuge in a grove, so surely as you seek refuge in a tree, even so surely will you obtain release from all suffering.” With this admonition did Aggidatta admonish his disciples.

At this time the Future Buddha, after going forth on the Great Retirement, and after attaining Complete Enlightenment, took up his residence at Jetavana near Sāvatthi. Surveying the world at dawn he perceived that the Brahman Aggidatta, together with his disciples, had entered the Net of his Knowledge. So he considered within himself, “Do all these living beings possess the faculties requisite for Arahatship?” Perceiving that they possessed the requisite faculties, he said in the evening to Elder Moggallāna the Great, “Moggallāna, do you observe that the Brahman Aggidatta is urging upon the multitude a course of action other than the right one? Go and admonish them.” “Reverend Sir, these monks are very numerous, and if I go alone, I fear that they will prove to be untractable; but if you also go, they will be tractable.” “Moggallāna, I will also go, but you go ahead.”

As the Elder proceeded, he thought to himself, “These monks are both powerful and numerous. If I say a word to them when they are all gathered together, they will all rise against me in troops.” Therefore by his own supernatural power he caused great drops of rain to fall. When those great drops of rain fell, the monks arose, one after another, and each entered his own bower of leaves and grass. The Elder went and stood at the door of Aggidatta’s leaf-hut and called out, “Aggidatta!” When Aggidatta heard the sound of the Elder’s voice, he thought to himself, “There is no one in this world who is able to address me by name; who can it be that thus addresses me by name?” And in the stubbornness of pride, he replied, “Who is that?” “It is I, Brahman.” “What have you to say?” “Show me a place here where I can spend this one night.” “There is no place for you to stay here; here is but a single hut of leaves and grass for a single monk.” “Aggidatta, men go to the abode of men, cattle to the abode of cattle, and monks to the abode of monks; do not so; give me a lodging.” “Are you a monk?” “Yes, I am a monk.” “If you are a monk, where is your khāri-vessel? what monastic utensils have you?” “I have utensils, but since it is inconvenient to carry them about from place to place, I procure them within and then go my way.” “So you intend to procure them within and then go your way!” said Aggidatta angrily to the Elder. The Elder said to him, “Go away, Aggidatta, do not be angry; show me a place where I can spend the night.” “There is no lodging here.” “Well, who is it that lives on that pile of sand?” “A certain dragon-king.” “Give the pile of sand to me.” “I cannot give you the pile of sand; that would be a grievous affront to him.” “Never mind, give it to me.” “Very well; you alone seem to know.”

The Elder started towards the pile of sand. When the dragon-king saw him approaching, he thought to himself, “Yonder monk approaches hither. Doubtless he does not know that I am here. I will spit smoke at him and kill him.” The Elder thought to himself, “This dragon-king doubtless thinks, ‘I alone am able to spit smoke; others are not able to do this.’ ” So the Elder spit smoke himself. Puffs of smoke arose from the bodies of both and ascended to the World of Brahmā. The puffs of smoke gave the Elder no trouble at all, but troubled the dragon-king sorely. The dragon-king, unable to stand the blasts of smoke, burst into flames. The Elder applied himself to meditation on the element of fire and entered into a state of trance. Thereupon he burst into flames which ascended to the World of Brahmā. His whole body looked as if it had been set on fire with torches. The company of sages looked on and thought to themselves, “The dragon-king is burning the monk; the good monk has indeed lost his life by not listening to our words.” When the Elder had overmastered the dragon-king and made him quit his misdoing, he seated himself on the pile of sand. Thereupon the dragon-king surrounded the pile of sand with good things to eat, and creating a hood as large as the interior of a peak-house, held it over the Elder’s head.

Early in the morning the company of sages thought to themselves, “We will find out whether the monk is dead or not.” So they went to where the Elder was, and when they saw him sitting on the pile of sand, they did reverence to him and praised him and said, “Monk, you must have been greatly plagued by the dragon-king.” “Do you not see him standing there with his hood raised over my head?” Then said the sages, “What a wonderful thing the monk did in conquering so powerful a dragon-king!” And they stood in a circle about the Elder.

At that moment the Teacher drew near. The Elder, seeing the Teacher, arose and saluted him. Said the sages to the Elder, “Is this man greater than you?” The Elder replied, “This is the Exalted One, the Teacher; I am only his disciple.” The Teacher seated himself on the summit of the pile of sand. The company of sages said to each other, “If such is the supernatural power of a mere disciple, what must the supernatural power of this man be like?” And extending their clasped hands in an attitude of reverent salutation, they bestowed praise on the Teacher. The Teacher addressed Aggidatta and said, “Aggidatta, in giving admonition to your disciples and supporters, how do you admonish them?” Aggidatta replied, “I admonish them thus, ‘Seek refuge in this mountain, seek refuge in this forest, or grove, or tree. For he who seeks refuge in these obtains release from all suffering.’ ” Said the Teacher, “No indeed, Aggidatta, he who seeks refuge in these does not obtain release from suffering. But he who seeks refuge in the Buddha, the Law, and the Order, he obtains release from the whole round of suffering.” So saying, he pronounced the following Stanzas,

188. To many a refuge men go, to mountains and to forests,
To shrines and trees and groves, when terrified with fear.

189. Such is no sure refuge, such is no final refuge;
Not by resorting to such a refuge does a man obtain release from all suffering.

190. Whoever seeks refuge in the Buddha, the Law, and the Order,
Whoever, with clear understanding, beholds the Four Noble Truths, –

191. Suffering, the Origin of Suffering, the Escape from Suffering,
And the Noble Eightfold Path of Escape from Suffering, –

192. To this sure refuge, to this supreme refuge,
By resorting to this refuge, he obtains release from all suffering.

At the conclusion of the lesson all those sages attained Arahatship, together with the Supernatural Faculties. Thereupon they saluted the Teacher and asked to be admitted to the Order. The Teacher stretched out his hand from under his robe and said, “Come, monks! Lead the Holy Life.” That very instant they were furnished with the Eight Requisites and became as it were Elders of a hundred years’ standing.

Now this was the day when all the dwellers in Aṅga and in Magadha and in the country of the Kurus were accustomed to come with rich offerings. When, therefore, they approached with their offerings, and saw that all those sages had become monks, they thought to themselves, “Is our Brahman Aggidatta great, or is the monk Gotama great?” And because the Teacher had but just arrived, they concluded, “Aggidatta alone is great.” The Teacher surveyed their thoughts and said, “Aggidatta, destroy the doubt that exists in the minds of your disciples.” Aggidatta replied, “That is the very thing I desire most to do.” So by supernatural power he rose seven times in the air, and descending to the ground again and again, he saluted the Teacher and said, “Reverend Sir, the Exalted One is my Teacher and I am his disciple.” Thus did Aggidatta speak, declaring himself the disciple of the Exalted One.

  1. Cf. Hardy, Manual of Buddhism, pp. 313-314. Text: N iii. 241-247.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp cùng chủ đề

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này