Tích Vị Tỳ Khưu Ở Thủy Lưu Thôn
Aññatarabhikkhuvatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 35 Kinh Pháp Cú, phẩm Tâm, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 35)
“Dunniggahassa lahuno,
Yatthakāmanipātino;
Cittassa damatho sādhu,
Cittaṃ dantaṃ sukhāvahanti.”
“Lanh lẹ khó kiểm thúc,
Mê say theo ngũ dục.
Lành thay điều phục tâm,
Tâm điều dưỡng hạnh phúc.”
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài ngự tại Tinh xá Jetavana (Tinh xá Kỳ Viên), đề cập đến một vị Tỳ khưu nọ.
Tương truyền rằng: Nơi miền sơn cước, thuộc lãnh thổ vương quốc Kosala, có một ngôi làng tên Mātikagāma (Thủy Lưu thôn), là một địa phương cư dân trù mật.
Một lần nọ, có sáu mươi vị Tỳ khưu xin Đức Bổn Sư khẩu truyền đề mục niệm cho đắc A La Hán quả. Rồi cùng nhau đi kiếm nơi hành đạo và đồng vào khất thực trong Mātikagāma.
Khi ấy, vị thân mẫu của thôn trưởng Mātikagāma trông thấy chư Tăng, bèn rước thỉnh vào nhà, mời ngồi đàng hoàng rồi dâng cúng các thực phẩm thượng vị. Sau đó, bà bạch hỏi rằng: “Bạch Đại đức Tăng, chẳng hay quí Ngài định đi đến đâu?”.
- Nầy bà đại tín nữ, chư Tăng đi tìm chỗ thuận tiện, thuận cảnh.
Bà đại tín nữ hiểu ngay là: “Ý các Ngài muốn tìm kiếm chỗ để an cư.”. Bà liền sụp xuống đảnh lễ và yêu cầu:
- Nếu quí Ngài lưu lại nơi đây trong ba tháng an cư nầy, tôi sẽ xin thọ trì Tam qui và Ngũ giới và thọ luôn Bát giới vào những ngày Bát quan trai.
Chư Tăng bảo nhau: “Chúng ta nương nhờ bà nầy khỏi phải đi khất thực, chắc có thể hành đạo đến nơi rốt ráo được.”. Thế là, chư Tăng hoan hỷ nhận lời.
Bà đại tín nữ lo cất lên một ngôi đạo tràng Tinh xá rồi cúng dường đến chư Tăng.
Một hôm nọ, sau khi đã ở yên, chư Tăng tập hợp đông đủ và cùng khuyến dụ lẫn nhau rằng: “Nầy chư huynh đệ, chúng ta không nên hành đạo một cách dể duôi cẩu thả. Quả thật, tám cảnh địa ngục đang mở rộng cửa chờ kẻ dể duôi, như chờ đón ông chủ sắp trở về nhà. Vả lại, chúng ta đã thọ giáo đề mục do chính Đức Phật hiện thế khẩu truyền rồi mới đến đây. Ân huệ của chư Phật chúng ta không thể nào hưởng bằng cách gian dối được. Ta hãy là người không phóng dật, ta không nên đứng hay ngồi hai vị một chỗ với nhau. Buổi tối, trong giờ phục dịch các vị Trưởng lão, và buổi sáng trong giờ đi khất thực chúng ta sẽ họp mặt nhau. Ngoài ra trong những thời khác, chúng ta không nên ở chung hai vị trong một chỗ. Thảng như có vị Tỳ khưu nào thân thể bất an, đến đánh kẻng ở giữa đạo tràng để kêu gọi, chúng ta nghe tiếng hiệu lịnh sẽ đến lo thuốc men, săn sóc vị ấy.”.
Sau khi đồng ý, chư Tăng giữ đúng theo lời giao ước, mỗi vị ở riêng một nơi để hành đạo.
Thế rồi, một hôm vào buổi sáng, bà đại tín nữ dẫn cả đoàn tôi tớ và gia đinh mang theo những thứ thuốc ngừa bệnh như bơ, đường… đi vào Tinh xá. Vào đến nơi, bà không thấy vị Tỳ khưu nào cả, bà hỏi những người lân cận:
- Các Ngài đi đâu hết cả rồi?
- Chắc các Ngài đang ngồi riêng nơi chỗ hành đạo của mình.
Nghe đáp như vậy, bà lại hỏi:
- Ta phải làm sao mới được gặp các Ngài đây?
Khi ấy, có một người hiểu biết nội qui giao ước của chư Tăng, mới thưa rằng: “Thưa bà! Hễ nghe tiếng kẻng thì chư Tăng sẽ hội lại.”.
Bà đại tín nữ liền sai gia nhân đánh kẻng.
Chư Tỳ khưu nghe được tín hiệu bất thường, nghĩ
chắc có vị Tỳ khưu nào thọ bịnh nên kêu gọi, bèn rời chỗ ngụ riêng biệt của mình, tập trung vào Tinh xá. Khi đi thì mỗi vị từ mỗi ngã đến, không ai đi chung đường với ai. Bà đại tín nữ thấy vậy, lấy làm lạ, nghĩ thầm: “Chắc là các con trai của ta (Mamaputta) đã sanh sự bất hoà với nhau.”
Sau khi đảnh lễ Đại đức Tăng, bà hỏi:
- Bạch chư Đại đức, các Ngài sanh sự bất hòa phải chăng?
- Chư Tăng không có sự bất hoà đâu, nầy bà đại tín nữ.
- Bạch các Ngài, nếu các Ngài không sanh sự bất hòa thì tại sao khi mới đến nhà chúng tôi, tất cả các Ngài cùng đi chung, còn bây giờ thì các Ngài từ chỗ ngụ riêng rẽ, mỗi Ngài đi một mình đến đây?
- Nầy bà đại tín nữ, chư Tăng đang hành Sa môn pháp, thì mỗi vị phải ở riêng mỗi nơi.
- Bạch các Ngài! Sa môn pháp đó là cái chi?
- Nầy bà đại tín nữ, chư Tăng niệm đề mục ba mươi hai thể trược và quán sự sanh diệt của danh sắc.
- Bạch các Ngài! Sự niệm ba mươi hai thể trược và quán sự sanh diệt của danh sắc như vậy, đó là công việc riêng của các Ngài hay là của cả chúng tôi nữa?
- Nầy bà đại tín nữ, pháp đó Đức Thế Tôn không cấm đoán ai cả.
- Thế thì xin các Ngài hoan hỷ dạy chúng tôi niệm ba mươi hai thể trược và quán sự sanh diệt của danh sắc.
Chư Tăng bèn đem pháp Thiền Chỉ - Quán truyền dạy tất cả cho bà đại tín nữ học tập.
Từ đó về sau, bà đại tín nữ lo chăm niệm ba mươi hai thể trược xong, quán luôn sự sanh diệt của danh sắc trong tự ngã, liền chứng đắc đạo quả A Na Hàm trước cả chư Tăng, đồng thời bà cũng đạt được tứ phân tích với thần thông thắng trí.
Sau khi hưởng thụ hương vị đạo quả, bà dùng thiên nhãn quan sát xem thử coi: “Chừng nào các con trai của ta mới đạt đến pháp nầy?”. Bà thấy rằng: “Tất cả chư Tăng đều chưa đắc thiền định đạo quả chi hết. Vì tâm còn vướng tham, sân, si.”. Bà lại quán xét xem: “Các con trai ta có căn lành chứng đắc A La Hán chăng?”. Bà thấy rằng có, bà lại quán xét thử: “Chỗ ngụ có được thích hợp chăng?”. Bà thấy rằng chỗ ngụ thích hợp, bà lại tìm xét rằng: “Bạn lữ có thích hợp chăng?”. Bà lại thấy rằng bạn lữ thích hợp.
Khi quán đến vật thực có thích hợp chăng, bà lại thấy rằng: “Vật thực chẳng thích hợp với chư Tăng!”.
Từ đó về sau, bà lo nấu dọn nhiều thứ khác nhau, vô số thứ kẹo ngọt, nhiều món ăn mới lạ đặc biệt, rồi thỉnh chư Tăng vào ngồi trong nhà, xối nước khai mạc lễ cúng dường và ngỏ lời yêu cầu là:
- Bạch chư Đại đức, các Ngài cần dùng món nào, xin cứ tự tiện lấy món đó mà độ đi.
Được lời thỉnh cầu, chư Tăng thọ dụng món cháo, cơm hay vật thực chi khác, tùy theo sở thích.
Nhờ độ vật thực thích hợp, các Ngài hành thiền đắc định tâm (ekaggaṃ cittaṃ), với tâm định các Ngài càng tăng tiến pháp Minh sát (Vipassanā), không bao lâu chứng đạt A La Hán quả. Khi ấy, chư Tăng nghĩ rằng: “Quả thật, nhờ ơn bà đại tín nữ, chúng ta mới thành đạt được như vầy, nếu thiếu vật thực thích hợp thì chúng ta chẳng hưởng thụ được Đạo Quả. Bây giờ chờ khi ra hạ, tự tứ Tăng rồi, chúng ta sẽ trở về yết kiến Đức Bổn Sư.”.
Đến khi mãn mùa hạ, chư Tăng đến từ giã bà đại tín nữ:
- Hôm nay chư Tăng chúng tôi định về yết kiến Đức Bổn Sư.
Bà đáp: “Lành thay! Bạch các Ngài.”.
Nói rồi, bà theo tiễn chân, đưa chư Tăng đi một đỗi đường, vừa thốt lên những lời ưu ái, bà còn nói:
- Bạch các Ngài, xin các Ngài có dịp nào rảnh thì các Ngài đến thăm viếng, nhắc nhở chúng tôi.
Khi chư Tăng về đến Tinh xá Jetavana, gần thành Sāvatthī, sau khi đảnh lễ Đức Bổn Sư, ngồi qua một bên xong. Đức Bổn Sư phán hỏi: “Nầy các Tỳ khưu! Các ông hành đạo có kham nhẫn không? Có khỏi phải đi bát vất vả không?”. Chư Tỳ khưu đáp:
- Bạch Ngài, chúng con hành đạo kham nhẫn và tự túc dễ dàng. Bạch Ngài, chúng con khất thực không bao giờ vất vả. Thật vậy, nhờ một bà đại tín nữ là mẹ của thôn trưởng ở Mātikagāma biết được tâm niệm của chúng con mỗi khi chúng con ước muốn: “Chà phải chi mình được cúng dường món ăn danh sắc như thế!” Thì bà liền đem cúng dường món ăn mà chúng con ước muốn ngay.
Chư Tỳ khưu hết lời tán dương công đức của bà đại tín nữ.
Một vị Tỳ khưu nọ, được nghe chư Tăng nhập hạ tại Mātikagāma, tán dương công hạnh của bà đại tín nữ. Cũng muốn đến đó hành đạo, bèn xin thọ giáo đề mục thiền định nơi Đức Bổn Sư và bạch rằng: “Bạch Ngài, con sẽ đi đến làng Mātikagāma.”.
Sau khi bái biệt Đức Bổn Sư, Tỳ khưu nầy khởi hành từ Jetavana du hành lần hồi đến làng Mātikagāma, vào ngồi trong Tinh xá, nghĩ rằng: “Nghe đồn bà đại tín nữ nầy có Tha tâm thông. Nay ta đã đến đây, đi đường xa mệt mỏi, không thể quét dọn Tinh xá được, phải chi bà gởi một người nam đến cho phục dịch bần tăng.”
Bà đại tín nữ đang ngồi ở nhà, quán thấy tư tưởng của vị Tỳ khưu mới đến, bèn gọi một gia đinh vào bảo:
- Nầy con, hãy vào Tinh xá, phụ đỡ công việc cho vị Đại đức đi.
Tên gia đinh vânh lịnh chủ, vào quét dọn trong Tinh xá. Khi ấy, vị Tỳ khưu khát nước, bèn ước rằng: “Chà, phải chi bà ấy có nước giải khát gởi đến cho ta dùng nhỉ?”.
Bà tín nữ liền gởi nước giải khát.
Vị Tỳ khưu lại ước: “Phải chi sáng ngày mai bà tín nữ đến cúng dường ta cháo nấu thật nhừ với thực phẩm hảo hạng.”.
Bà đại tín nữ cũng làm thỏa mãn vị ấy. Độ cháo xong rồi, Tỳ khưu lại ước: “Chà, phải chi bà có thứ kẹo bánh ngọt đó thì gởi đến cúng dường cho ta.”.
Bà đại tín nữ lại cho người mang thứ bánh kẹo đó đến dâng. Vị Tỳ khưu lại nghĩ rằng: “Ta ao ước bất cứ thứ gì, bà tín nữ ấy đều gởi đến cả. Bây giờ ta muốn gặp mặt bà, phải chi bà cho người mang cúng dường đến ta thứ vật thực thượng vị, còn bà thì đi tay không đến đây.”.
Bà tín nữ kêu gọi gia đinh: “Con trai ta muốn gặp mặt ta. Vậy các con hãy chờ ta cùng đi một lượt.”.
Cho gia đinh mang theo vật thực, bà đi đến Tinh xá cúng dường vị Tỳ khưu. Độ xong bữa, vị Tỳ khưu hỏi bà đại tín nữ:
- Phải bà là Mātikamātā chăng?
- Bạch Ngài, phải.
- Nầy bà đại tín nữ, bà có Tha tâm thông phải chăng?
- Bạch Ngài, tại sao Ngài lại hỏi tôi như thế?
- Tôi ước trong tâm vật nầy, vật nọ, thấy sao bà làm đúng theo tất cả, nên mới hỏi bà như thế.
- Bạch Ngài, chư Tỳ khưu biết được tâm người khác cũng có nhiều vị.
- Nầy bà đại tín nữ, tôi không hỏi người khác, tôi chỉ hỏi mỗi một mình bà thôi.
Mặc dầu có Tha tâm thông, nhưng bà đại tín nữ cũng không khoe khoang “Tôi biết được tâm người khác”, bà chỉ trả lời: “Nầy con trai (Putta), những ai có Tha tâm thông thường làm như thế đó.”. Nghe vậy, vị Tỳ khưu lo ngại rằng: “Quả thật vậy, việc nầy chướng ngại cho ta quá, còn là phàm nhơn thì trong tâm còn có những tư tưởng quàng xiên ô trược, lẫn lộn với những tư tưởng chơn chánh thanh cao. Nếu rủi mà ta nghĩ đến điều không phải, thì cũng bị bà nầy thấu rõ tới tim đen của ta, y như kẻ trộm bị người nắm chóp mai, bắt được với tất cả tang vật. Vậy ta phải chạy cho xa chỗ nầy.”.
Nghĩ rồi, vị Tỳ khưu bảo bà Mātikamātā rằng:
- Nầy bà tín nữ, tôi sẽ ra đi ngay bây giờ.
- Bạch Đại đức, Ngài đi đâu?
- Tôi trở về với Đức Bổn Sư, bà tín nữ à.
- Bạch Ngài! Xin thỉnh Ngài hãy ở lại đây.
- Tôi không thể ở lại đây đâu. Này bà tín nữ, tôi nhất định sẽ ra đi.
Nói rồi, vị Tỳ khưu ra khỏi Tinh xá, lên đường trở về chỗ ngụ của Đức Bổn Sư.
Khi vị Tỳ khưu về đảnh lễ Đức Bổn Sư, Ngài phán hỏi:
- Nầy Tỳ khưu, ông không còn ở lại tại chỗ ấy sao?
- Vâng, bạch Ngài con không thể ở tại chỗ ấy được.
- Tại cớ nào vậy, Tỳ khưu?
- Bạch Ngài! Bà tín nữ ấy có Tha tâm thông, biết rõ cả những tư tưởng của người khác, con còn là phàm nhân, con có những ý nghĩ thanh cao xen lẫn với những dục vọng bất hảo. Nếu như con nghĩ tưởng đến điều chi sái quấy, sợ e bà ấy biết rõ tâm xấu của con, như người ta nắm lấy chóp mao của kẻ gian phi với những tang vật. Vì vậy, con không dám ở đó, phải trở về đây.
- Nầy Tỳ khưu! Nếu quả như thế thì ông nên ở lại nơi đó.
- Bạch Ngài, con không thể trở lại nơi đó nữa.
- Nầy Tỳ khưu, có thể ở lại nơi đó được, nếu ông có thể gìn được một vật.
- Bạch Ngài, vật chi?
- Cái tâm của ông. Tâm là vật rất khó kềm giữ, nhưng ông phải cố gắng chế ngự nó, đừng nghĩ tưởng đến việc nào khác. Tâm là vật khó bắt giữ được.
Nói đoạn Đức Bổn Sư ngâm lên kệ ngôn:
“Dunniggahassa lahuno,
Yatthakāmanipātino;
Cittassa damatho sādhu,
Cittaṃ dantaṃ sukhāvahanti.”
“Tâm phàm ngũ dục mê sa,
Biến hoá lanh lẹ khó mà bắt thay!
Người thu thúc được tâm nầy,
Mới là thong thả tháng ngày yên vui.”
CHÚ GIẢI:
Dunniggahaṃ: Khó giữ, khó kềm chế cái tâm phàm lắm.
Lahuno: Lanh lẹ, là nói về tốc độ sanh diệt của tâm trong từng sát na (Khaṇa), vì lẽ tâm sanh diệt liền liền, biến đổi luôn luôn nên khó mà nắm giữ kềm chế nó được.
Yatthakāmanipātino: Hễ ưa thích chỗ nào thì sa đọa theo chỗ ấy, không kể gì giới hạnh. Quả thật tâm phàm không biết chỗ nào nên, chỗ nào hư, chỗ nào phải, chỗ nào quấy. Không phân biệt giai cấp, tông tộc chi cả, hễ ưa thích chỗ nào thì nó mê sa theo chỗ ấy mà thôi.
Citassa damatho sādhu: Lành thay, nếu tâm phàm ấy được điều phục bằng bốn Thánh đạo. Lành thay! Nếu tâm phàm ấy được bình tịnh hoá, (cittaṃ dantaṃ sukhāvahaṃ) vì sao? Quả nhiên, vì người điều phục tâm hưởng được hạnh phúc, nhờ tâm định tĩnh, người sẽ hưởng thụ được sự an lạc của đạo quả và sự an lạc tối đại Níp Bàn chẳng sai.
Bài kệ vừa dứt, trong số chư Tăng hiện có, nhiều người chứng đắc Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả, đại chúng thính pháp cũng được hưởng sự lợi ích.
Đức Bổn Sư phủ dụ Tỳ khưu bằng huấn từ sau đây:
- Nầy Tỳ khưu! Ông cứ đi đến đó hành đạo. Đừng lo nghĩ vẩn vơ khác mà làm chi.
Vị Tỳ khưu thọ lãnh huấn từ của Đức Bổn Sư ra đi, đến làng Mātikagāma, ngày đêm chuyên lo gìn giữ tâm mình, ngoài ra không tưởng đến việc chi khác.
Bà đại tín nữ dùng Thiên nhãn thông nhìn thấy Đại đức:
- Bây giờ con trai ta đã thọ lãnh huấn từ của đức Thầy rồi nên trở lại đây.
Bà lại dùng Tâm thông để biết rõ ý muốn của vị Tỳ khưu, rồi cho người nấu nướng thực phẩm thích hợp đem đến cúng dường vị ấy. Nhờ độ vật thực thích hợp, mấy hôm sau, vị Tỳ khưu đắc A La Hán quả, hưởng được tịnh lạc của đạo quả. Vị ấy suy nghĩ: “Bà tín nữ nầy hộ độ ta rất lớn, nhờ sự hộ độ nầy mà ta giải thoát được trần lao! Trong kiếp nầy bà hộ ta như thế, không biết trong những kiếp trước, khi ta còn lang thang trong vòng luân hồi bà có hộ ta hay không?”.
Nghĩ rồi, vị Tỳ khưu dùng Túc mạng thông, nhớ lại từ một cho đến chín mươi chín kiếp của mình. Trong chín mươi chín kiếp, có kiếp bà đại tín nữ nầy là bạn gối chăn của vị Tỳ khưu, nhưng lại sanh tâm ngoại tình và hạ sát chồng, thấy sự trắc nết lang tâm của bà vợ trong kiếp ấy, vị Đại đức nghĩ thầm: “Chao ôi! Bà đại tín nữ nầy đã tạo tội ác nặng nề quá lắm.”.
Ngay lúc ấy, bà đại tín nữ cũng ngồi trong nhà mình dùng Thiên nhãn thông quán sát vị Tỳ khưu: “Không biết con trai đã đạt đến mục đích cứu cánh của bậc xuất gia chưa?”. Khi biết được vị ấy đã đắc thành A La Hán, bà nói thầm: “Nhờ pháp Minh sát mà con ta đã đắc A La Hán quả; đang nghĩ rằng: Ôi! Bà đại tín nữ nầy có công hộ độ ta rất lớn không biết trong đời quá khứ, bà có hộ độ ta như thế không?”.
Vẫn tiếp tục theo dõi tâm vị Tỳ khưu, bà đại tín nữ thấy vị ấy dùng Túc mạng thông, nhớ lại được chín mươi chín kiếp, bà nói thầm: “Trong chín mươi chín kiếp, có kiếp ta đã giao tình cùng kẻ khác và đã sát hại vị nầy. Vị nầy thấy sự lang tâm trắc nết của ta trong những kiếp trước, nghĩ rằng: “Chao ôi! Bà đại tín nữ tạo tội ác nặng nề thay?”.”
Khi được hiểu biết như vậy, bà đại tín nữ tự hỏi:
- Trong khi lang thang trong vòng luân hồi, trong kiếp trước nữa ta có hộ độ con trai ta không?
Nghĩ rồi, bà cố ôn lại kiếp thứ một trăm, trong kiếp nầy bà cũng là vợ của vị ấy, đã hi sinh mạng sống, chết thế cho chồng: “Ôi! Ta đã là một đại ân nhân cho con trai ta vậy.”.
Biết được như thế, bà đại tín nữ ngồi ở nhà mình dùng thần thông nhắc vị ấy rằng: “Ngài hãy hồi cổ xa hơn nữa đi.”. Vị Tỳ khưu nhờ Thiên nhĩ, nghe được tiếng nhắc của bà đại tín nữ, bèn nhớ lại tiền kiếp thứ một trăm, thấy được rằng trong kiếp ấy, bà tín nữ nầy đã hi sinh mạng sống, chết thế cho chồng: “Ôi, bà đại tín nữ nầy cũng đã từng là người hỗ trợ ta trong kiếp quá khứ kia mà!”.
Nghĩ như vậy, vị Tỳ khưu rất hoan hỷ, giải đáp về bốn câu hỏi về quả vị tối cao của đại tín nữ ngay tại chỗ ngồi. Vừa dứt lời thì vị ấy viên tịch, chứng đạt Vô Dư Níp Bàn (Anupādisesanibbāna).
Hai chuyến đi về bến Thủy Lưu,
Cầu mong tín nữ hộ Tỳ khưu,
Nhờ cơm thích hợp thành công lớn,
Mượn cảnh tương nghì, đạt pháp mầu!
Ân trước há đành tâm bội bạc?
Thù sau chi để đạt ưu sầu?
Ngược dòng đời, lướt qua dòng đạo,
Nước chảy thuyền xuôi mãi tận đâu!
DỨT TÍCH TỲ KHƯU Ở THỦY LƯU THÔN
Aññatarabhikkhuvatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Dunniggahassa lahunoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā sāvatthiyaṃ jetavane viharanto aññataraṃ bhikkhuṃ ārabbha kathesi.
Kosalarañño kira vijite pabbatapāde mātikagāmo nāma eko ghanavāso gāmo ahosi. Athekadivasaṃ saṭṭhimattā bhikkhū satthu santike yāva arahattā kammaṭṭhānaṃ kathāpetvā taṃ gāmaṃ gantvā piṇḍāya pavisiṃsu. Atha ne yo tassa gāmassa sāmiko mātiko nāma, tassa mātā disvā gehe nisīdāpetvā nānaggarasena yāgubhattena parivisitvā, “bhante, kattha gantukāmā”ti pucchi. “Yathā phāsukaṭṭhānaṃ mahāupāsike”ti. Sā “vassāvāsaṭṭhānaṃ, ayyā, pariyesanti maññe”ti ñatvā pādamūle nipajjitvā, “sace, ayyā, imaṃ temāsaṃ idha vasissanti, ahaṃ tīṇi saraṇāni, pañca sīlāni gahetvā uposathakammaṃ karissāmī”ti āha. Bhikkhū “mayaṃ imaṃ nissāya bhikkhāya akilamantā bhavanissaraṇaṃ kātuṃ sakkhissāmā”ti adhivāsayiṃsu. Sā tesaṃ vasanaṭṭhānaṃ vihāraṃ paṭijaggitvā adāsi.
Te tattheva vasantā ekadivasaṃ sannipatitvā aññamaññaṃ ovadiṃsu, “āvuso, amhehi pamādacāraṃ carituṃ na vaṭṭati. Amhākañhi sakagehaṃ viya aṭṭha mahānirayā vivaṭadvārāyeva, dharamānakabuddhassa kho pana santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā mayaṃ āgatā, buddhā ca nāma padānupadikaṃ vicarantenāpi saṭhena ārādhetuṃ na sakkā, yathājjhāsayeneva ārādhetuṃ sakkā, appamattā hotha, dvīhi ekaṭṭhāne na ṭhātabbaṃ, na nisīditabbaṃ, sāyaṃ kho pana therūpaṭṭhānakāle pātova bhikkhācārakāle ekato bhavissāma, sesakāle dve ekato na bhavissāma, apica kho pana aphāsukena bhikkhunā āgantvā vihāramajjhe ghaṇḍiyā pahatāya ghaṇḍisaññāya āgantvā tassa bhesajjaṃ karissāmā”ti.
Tesu evaṃ katikaṃ katvā viharantesu ekadivasaṃ sā upāsikā sappitelaphāṇitādīni gāhāpetvā dāsadāsikammakarādīhi parivutā sāyanhasamaye taṃ vihāraṃ gantvā vihāramajjhe bhikkhū adisvā, “kahaṃ nu kho, ayyā, gatā”ti purise pucchitvā, “attano attano rattiṭṭhānadivāṭṭhānesu nisinnā bhavissanti, ayye”ti vutte, “kiṃ nu kho katvā daṭṭhuṃ sakkhissāmī”ti āha. Atha naṃ bhikkhusaṅghassa katikavattaṃ jānanamanussā āhaṃsu – “ghaṇḍiyā pahatāya sannipatissanti, ayye”ti. Sā ca ghaṇḍiṃ paharāpesi. Bhikkhū ghaṇḍisaddaṃ sutvā, “kassaci aphāsukaṃ bhavissatī”ti sakasakaṭṭhānehi nikkhamitvā vihāramajjhe sannipatiṃsu. Dvepi janā ekamaggenāgatā nāma natthi. Upāsikā ekekaṭṭhānato ekekameva āgacchantaṃ disvā, “mama puttehi aññamaññaṃ kalaho kato bhavissatī”ti cintetvā bhikkhusaṅghaṃ vanditvā pucchi – “kalahaṃ nu kho, bhante, karitthā”ti? “Na karoma, mahāupāsike”ti. “Sace vo, bhante, kalaho natthi, atha kasmā yathā amhākaṃ gehaṃ āgacchantā sabbe ekatova āgacchatha, evaṃ anāgantvā ekekaṭṭhānato ekekāva āgatā”ti? “Mahāupāsike, ekekasmiṃ ṭhāne nisīditvā samaṇadhammaṃ karimhā”ti. “Ko esa, bhante, samaṇadhammo nāmā”ti? “Dvattiṃsākāre sajjhāyaṃ karoma, attabhāve ca khayavayaṃ paṭṭhapema, mahāupāsike”ti. “Kiṃ pana, bhante, dvattiṃsākāre sajjhāyaṃ kātuṃ, attabhāve ca khayavayaṃ paṭṭhapetuṃ tumhākameva vaṭṭati, udāhu amhākampīti, kassacipi avārito esa dhammo, mahāupāsike”ti. “Tena hi, bhante, mayhampi dvattiṃsākāraṃ detha, attabhāve ca khayavayapaṭṭhapanaṃ ācikkhathā”ti. “Tena hi uggaṇha, mahāupāsike”ti sabbaṃ uggaṇhāpesuṃ.
Sā tato paṭṭhāya dvattiṃsākāre sajjhāyaṃ katvā attani khayavayaṃ paṭṭhapetvā tehi bhikkhūhi puretarameva tayo magge, tīṇi ca phalāni pāpuṇi. Maggeneva cassā catasso paṭisambhidā lokiyaabhiññā ca āgamiṃsu. Sā maggaphalasukhato vuṭṭhāya dibbacakkhunā oloketvā, “kadā nu kho mama puttehi ayaṃ dhammo adhigato”ti upadhārentī sabbepime sarāgā sadosā samohā jhānavipassanāmattampi tesaṃ natthi, “kiṃ nu kho mayhaṃ puttānaṃ arahattassa upanissayo atthi, natthī”ti āvajjetvā, “atthī”ti disvā, “senāsanasappāyaṃ nu kho atthi, natthī”ti āvajjetvā tampi disvā, “puggalasappāyaṃ nu kho labhanti, na labhantī”ti āvajjesi, puggalasappāyampi disvā, “āhārasappāyaṃ nu kho labhanti, na labhantī”ti upadhārentī “āhārasappāyaṃ nesaṃ natthī”ti disvā tato paṭṭhāya nānāvidhaṃ yāguṃ, anekappakāraṃ khajjakaṃ, nānaggarasañca bhojanaṃ sampādetvā gehe bhikkhū nisīdāpetvā dakkhiṇodakaṃ datvā, “bhante, tumhākaṃ yaṃ yaṃ ruccati, taṃ taṃ gahetvā paribhuñjathā”ti niyyādesi. Te yathāruci yāguādīni gahetvā paribhuñjanti. Tesaṃ sappāyāhāraṃ labhantānaṃ cittaṃ ekaggaṃ ahosi.
Te ekaggena cittena vipassanaṃ vaḍḍhetvā na cirasseva saha paṭisambhidāhi arahattaṃ patvā cintayiṃsu – “aho mahāupāsikā amhākaṃ patiṭṭhā jātā, sace mayaṃ sappāyāhāraṃ na labhimha, na no maggaphalapaṭivedho abhavissa, idāni vuṭṭhavassā pavāretvā satthu santikaṃ gamissāmā”ti. Te “satthāraṃ daṭṭhukāmamhā”ti mahāupāsikaṃ āpucchiṃsu. “Mahāupāsikā sādhu, ayyā”ti. Te anugantvā punapi, “bhante, amhe olokeyyāthā”ti bahūni piyavacanāni vatvā paṭinivatti. Tepi kho bhikkhū sāvatthiṃ gantvā satthāraṃ vanditvā ekamantaṃ nisinnā “kacci, bhikkhave, khamanīyaṃ, kacci yāpanīyaṃ, na ca piṇḍakena kilamitthā”ti vutte “khamanīyaṃ, bhante, yāpanīyaṃ, bhante, piṇḍakena pana neva kilamimha. Amhākañhi mātikamātā nāmekā upāsikā cittācāraṃ ñatvā, ‘aho vata no evarūpaṃ nāma āhāraṃ paṭiyādeyyā’ti cintite yathācintitaṃ āhāraṃ paṭiyādetvā adāsī”ti tassā guṇakathaṃ kathayiṃsu.
Aññataro bhikkhu tassā guṇakathaṃ sutvā tattha gantukāmo hutvā satthu santike kammaṭṭhānaṃ gahetvā, “bhante, taṃ gāmaṃ gamissāmī”ti satthāraṃ āpucchitvā jetavanato nikkhamitvā anupubbena taṃ gāmaṃ patvā vihāraṃ pavisanadivaseyeva cintesi – “ayaṃ kira upāsikā cintitacintitaṃ jānāti, ahañca maggakilanto vihāraṃ paṭijaggituṃ na sakkhissāmi, aho vata me vihārapaṭijaggakaṃ manussaṃ peseyyā”ti. Upāsikā gehe nisinnāva āvajjentī tamatthaṃ ñatvā, “gaccha, vihāraṃ paṭijaggitvā ehī”ti manussaṃ pesesi. Itaropi pānīyaṃ pivitukāmo “aho vata me sakkharapānakaṃ katvā peseyyā”ti cintesi. Upāsikā tampi pesesi. So punadivase “pātova siniddhayāguṃ me sauttaribhaṅgaṃ pesetū”ti cintesi. Upāsikā tathā akāsi. So yāguṃ pivitvā, “aho vata me evarūpaṃ khajjakaṃ peseyyā”ti cintesi. Upāsikā tampi pesesi. So cintesi – “ayaṃ upāsikā mayā sabbaṃ cintitacintitaṃ pesesi, ahaṃ etaṃ daṭṭhukāmo, aho vata me nānaggarasabhojanaṃ gāhāpetvā sayameva āgaccheyyā”ti. Upāsikā “mama putto maṃ daṭṭhukāmo, āgamanaṃ me paccāsīsatī”ti bhojanaṃ gāhāpetvā vihāraṃ gantvā tassa adāsi. So katabhattakicco “mātikamātā nāma tvaṃ, mahāupāsike”ti pucchi. “Āma, tātā”ti. “Tvaṃ paracittaṃ jānāsī”ti? “Kiṃ maṃ pucchasi, tātā”ti? “Mayā cintitacintitaṃ sabbamakāsi, tena taṃ pucchāmī”ti. “Paracittajānanakabhikkhū bahū, tātā”ti? “Nāhaṃ aññe pucchāmi, tuvaṃ pucchāmi, upāsike”ti. Evaṃ santepi upāsikā “paracittaṃ jānāmī”ti avatvā “paracittaṃ jānantā nāma evaṃ karonti puttā”ti āha. So “bhāriyaṃ vatidaṃ kammaṃ, puthujjanā nāma sobhanampi asobhanampi cintenti, sacāhaṃ kiñci ayuttaṃ cintayissāmi, saha bhaṇḍakena coraṃ cūḷāya gaṇhantī viya maṃ vippakāraṃ pāpeyya, mayā ito palāyituṃ vaṭṭatī”ti cintetvā, “upāsike, ahaṃ gamissāmī”ti āha. “Kahaṃ, ayyā”ti? “Satthu santikaṃ, upāsike”ti. “Vasatha tāva, bhante, idhā”ti. “Na vasissāmi, upāsike, gamissāmevā”ti nikkhamitvā satthu santikaṃ agamāsi. Atha naṃ satthā “kiṃ bhikkhu na tvaṃ tattha vasasī”ti pucchi. “Āma, bhante, na sakkā tattha vasitu”nti. “Kiṃ kāraṇā bhikkhū”ti? “Bhante, sā upāsikā cintitacintitaṃ sabbaṃ jānāti, puthujjanā ca nāma sobhanampi asobhanampi cintenti, sacāhaṃ kiñci ayuttaṃ cintessāmi, saha bhaṇḍakena coraṃ cūḷāya gaṇhantī viya maṃ vippakāraṃ pāpessatī”ti cintetvā āgatomhīti. “Bhikkhu, tattheva tayā vasituṃ vaṭṭatī”ti, “na sakkomi, bhante, nāhaṃ tattha vasissāmī”ti. “Tena hi tvaṃ, bhikkhu, ekameva rakkhituṃ sakkhissasī”ti. “Kiṃ, bhante”ti? “Tava cittameva rakkha, cittaṃ nāmetaṃ durakkhaṃ, tvaṃ attano cittameva niggaṇha, mā aññaṃ kiñci cintayi, cittaṃ nāmetaṃ dunniggaha”nti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Dunniggahassa lahuno, yatthakāmanipātino;
Cittassa damatho sādhu, cittaṃ dantaṃ sukhāvaha”nti.
Tattha cittaṃ nāmetaṃ dukkhena niggayhatīti dunniggahaṃ. Lahuṃ uppajjati ca nirujjhati cāti lahu. Tassa dunniggahassa lahuno. Yatthakāmanipātinoti yattha katthacideva nipatanasīlassa. Etañhi labhitabbaṭṭhānaṃ vā alabhitabbaṭṭhānaṃ vā yuttaṭṭhānaṃ vā ayuttaṭṭhānaṃ vā na jānāti, neva jātiṃ oloketi, na gottaṃ, na vayaṃ. Yattha yattha icchati, tattha tattheva nipatatīti “yatthakāmanipātī”ti vuccati. Tassa evarūpassa cittassa damatho sādhu catūhi ariyamaggehi dantabhāvo yathā nibbisevanaṃ hoti, tathā katabhāvo sādhu. Kiṃ kāraṇā? Idañhi cittaṃ dantaṃ sukhāvahaṃ nibbisevanaṃ kataṃ maggaphalasukhaṃ paramatthanibbānasukhañca āvahatīti.
Desanāpariyosāne sampattaparisāya bahū sotāpannādayo ahesuṃ, mahājanassa sātthikā dhammadesanā jātāti.
Satthā tassa bhikkhuno imaṃ ovādaṃ datvā, “gaccha, bhikkhu, aññaṃ kiñci acintayitvā tattheva vasāhī”ti pahiṇi. So bhikkhu satthu santikā ovādaṃ labhitvā tattha agamāsi. Kiñci bahiddhā cintanaṃ nāma na cintesi. Mahāupāsikāpi dibbena cakkhunā olokentī theraṃ disvā, “idāni ovādadāyakaṃ ācariyaṃ labhitvā punāgato mama putto”ti attano ñāṇeneva paricchinditvā tassa sappāyāhāraṃ paṭiyādetvā adāsi. So sappāyabhojanaṃ sevitvā katipāheneva arahattaṃ patvā maggaphalasukhena vītināmento “aho mahāupāsikā mayhaṃ patiṭṭhā jātā, ahaṃ imaṃ nissāya bhavanissaraṇaṃ pattomhī”ti cintetvā, “imasmiṃ tāva me attabhāve patiṭṭhā jātā, saṃsāre pana me saṃsarantassa aññesupi attabhāvesu ayaṃ patiṭṭhā bhūtapubbā, no”ti upadhārento ekūnaattabhāvasataṃ anussari. Sāpi ekūnaattabhāvasate tassa pādaparicārikā aññesu paṭibaddhacittā hutvā taṃ jīvitā voropesi. Thero tassā ettakaṃ aguṇaṃ disvā, “aho mayaṃ mahāupāsikā bhāriyaṃ kammaṃ akāsī”ti cintesi.
Mahāupāsikāpi gehe nisinnāva “kiṃ nu kho mayhaṃ puttassa pabbajitakiccaṃ mattakaṃ pattaṃ, no”ti upadhārayamānā tassa arahattapattiṃ ñatvā uttari upadhāriyamānā, “mama putto arahattaṃ patvā aho vata me ayaṃ upāsikā mahatī patiṭṭhā jātā”ti cintetvā, “atītepi nu kho me ayaṃ patiṭṭhā bhūtapubbā, no”ti upadhārento ekūnaattabhāvasataṃ anussari, “ahaṃ kho pana ekūnaattabhāvasate aññehi saddhiṃ ekato hutvā etaṃ jīvitā voropesiṃ, ayaṃ me ettakaṃ aguṇaṃ disvā ‘aho bhāriyaṃ kammaṃ kataṃ upāsikāyā”ti cintesi. “Atthi nu kho evaṃ saṃsāre saṃsarantiyā mama puttassa upakāro katapubbo”ti upadhārayamānā tato uttariṃ satamaṃ attabhāvaṃ anussaritvā satame attabhāve mayā etassa pādaparicārikāya hutvā etasmiṃ jīvitā voropanaṭṭhāne jīvitadānaṃ dinnaṃ, aho mayā mama puttassa mahāupakāro katapubbo”ti gehe nisinnāva uttariṃ visesetvā “upadhārethā”ti āha. So dibbāya sotadhātuyā saddaṃ sutvā visesetvā satamaṃ attabhāvaṃ anussaritvā tattha tāya attano jīvitassa dinnabhāvaṃ disvā, “aho mama imāya mahāupāsikāya upakāro katapubbo”ti attamano hutvā tassā tattheva catūsu maggaphalesu pañhaṃ kathetvā anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyīti.
Aññatarabhikkhuvatthu dutiyaṃ.
III. 2. The Mind-Reader
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
35. Thoughts are unruly and flighty, and flit and flutter wherever they list.
It is a good thing to tame the thoughts; tamed thoughts bring happiness.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Sāvatthi with reference to a certain monk.
In the country of the king of the Kosalans, it appears, at the foot of a mountain, was a certain thickly settled village named Mātika. Now one day sixty monks who had received from the Teacher a Subject of Meditation leading to Arahatship came to this village and entered it for alms. Now the headman of this village was a man named Mātika. When Mātika’s mother saw the monks, she provided them with seats, served them with rice-porridge flavored with all manner of choice flavors, and asked them, “Reverend Sirs, where do you desire to go?” “To some pleasant place, great lay disciple.” Knowing that the monks were seeking a place of residence for the season of the rains, she flung herself at their feet and said to them, “If the noble monks will reside here during these three months, I will take upon myself the Three Refuges and the Five Precepts and will perform Fast-day duties.” The monks consented, thinking to themselves, “With her assistance we shall be free from anxiety on the score of food and shall be able to effect Escape from Existence.”
Mātika’s mother superintended the erection of a monastery to serve as their place of residence, presented it to them, and the monks took up their residence there. On a certain day they met together and admonished each other as follows, “Brethren, it behooves us not to live the life of Heedlessness, for before us stand the Eight Great Hells with gates wide open, even as our own houses. Now we have come hither thus, having received a Subject of Meditation from the living Buddha. And the favor of the Buddhas cannot be won by a deceitful person, even though he walk in their very footsteps. Only by doing the will of the Buddhas can their favor be won. Therefore be Heedful. Two monks may neither stand nor sit in any one place. In the evening we shall meet together to wait upon the Elder, and early in the morning we shall meet together when it is time to go the rounds for alms. At other times two of us must never be together. If, however, a monk be taken sick, let him come to the monastery court and strike a bell. At the signal given by the stroke on the bell, we will come together and provide a remedy for him.” Having made this agreement, they entered upon residence.
One day, while the monks were in residence, that female lay disciple took ghee, molasses, and other kinds of food and at eventide, accompanied by a retinue of slaves and servants, went to the monastery. Seeing no monks, she asked some men, “Where have the noble monks gone?” “My lady, they must be sitting in their own respective night-quarters and day-quarters.” “What must I do in order to see them?” Men who knew about the agreement made by the Congregation of Monks said, “If you strike the bell, my lady, they will assemble.” So she struck the bell. When the monks heard the sound of the bell, they thought to themselves, “Someone must be sick.” And coming forth from their several quarters, they assembled in the monastery court. No two monks came by the same path.
When the female lay disciple saw them approach one at a time, each from his own quarters, she thought to herself, “My sons must have had a quarrel with each other.” So, after paying obeisance to the Congregation of Monks, she asked them, “Have you had a quarrel, Reverend Sirs?” “No indeed, great lay disciple.” “If, Reverend Sirs, there is no quarrel among you, how is it that, whereas in coming to our house you came all together, to-day you do not approach in this manner, but instead approach one at a time, each from his own quarters?” “Great lay disciple, we were sitting each in his own cell, engaged in the practice of meditation.” “What do you mean, Reverend Sirs, by this expression, ‘practice of meditation’?” “We rehearse the Thirty-two Constituent Parts of the Body, and thus obtain a clear conception of the decay and death inherent in the body, great lay disciple.” “But, Reverend Sirs, are you alone permitted to rehearse the Thirty-two Constituent Parts of the Body, and thus obtain a clear conception of the decay and death inherent in the body; or are we also permitted to do this?” “This practice is forbidden to none, great lay disciple.” “Well then, teach me also the Thirty-two Constituent Parts of the Body and show me how to obtain a clear conception of the decay and death inherent in the body.” “Very well, lay disciple,” said the monks, “learn them.” So saying, they taught her all. She began at once to rehearse the Thirty-two Constituent Parts of the Body, striving thereby to obtain for herself a clear conception of the decay and death inherent in the body. So successful was she that even in advance of those monks she attained the Three Paths and the Three Fruits, and by the same Paths won the Four Supernatural Powers and the Higher Faculties.
Arising from the bliss of the Paths and the Fruits, she looked with Supernatural Vision and considered within herself, “At what time did my sons attain this state?” Immediately she became aware of the following, “All these monks are still in the bondage of Lust, Hatred, Delusion. They have not yet, by the practice of Ecstatic Meditation, induced Spiritual Insight.” Then she pondered, “Do my sons possess the dispositions requisite for the attainment of Arahatship or do they not?” She perceived, “They do.” Then she pondered, “Do they possess suitable lodgings or do they not?” Immediately she perceived that they did. Then she pondered, “Have they proper companions or have they not?” Immediately she perceived that they had. Finally she pondered the question, “Do they receive proper food or do they not?” She perceived, “They do not receive proper food.”
From that time on she provided them with various kinds of rice-porridge and with all manner of hard food and with soft food flavored with various choice flavors. And seating the monks in her house, she offered them Water of Donation and presented the food to them, saying, “Reverend Sirs, take and eat whatever you desire.” As the result of the wholesome food they received, their minds became tranquil; and as the result of tranquillity of mind, they developed Spiritual Insight and attained Arahatship, together with the Supernatural Powers. Then the thought occurred to them, “The great female lay disciple has indeed been our support. Had we not received wholesome food, we should never have attained the Paths and the Fruits. As soon as we have completed our residence and celebrated the Terminal Festival, let us go visit the Teacher.” Accordingly they took leave of the great female lay disciple, saying, “Lay disciple, we desire to see the Teacher.” “Very well, noble sirs,” said she. So she accompanied them on their journey a little way, and then, saying, “Look in on us again, Reverend Sirs,” and many other pleasant words, she returned to her house.
When those monks arrived at Sāvatthi, they paid obeisance to the Teacher and sat down respectfully on one side. The Teacher said to them, “Monks, you have evidently fared well, had plenty to eat, and not been troubled on the score of food.” The monks replied, “We have indeed fared well, Reverend Sir, had plenty to eat, and by no means been troubled on the score of food. For a certain female lay disciple, the Mother of Mātika, knew the course of our thoughts, insomuch that the moment we thought, ‘Oh that she would prepare such and such food for us!’ she prepared the very food we thought of and gave to us.” Thus did they recite her praises.
A certain monk, who heard his brethren praise the virtues of their hostess, conceived a desire to go there. So obtaining a Subject of Meditation from the Teacher, he took leave of the Teacher, saying, “Reverend Sir, I intend to go to that village.” And departing from Jetavana, he arrived in due course at that village and entered the monastery. On the very day he entered the monastery he thought to himself, “I have heard it said that this female lay disciple knows every thought that passes through the mind of another. Now I have been wearied by my journey and shall not be able to sweep the monastery. Oh that she would send a man to make ready the monastery for me!” The female lay disciple, sitting in her house, pondering within herself, became aware of this fact and sent a man thither, saying to him, “Go make ready the monastery and turn it over to him.” The man went and swept the monastery and turned it over to him. Then the monk, desiring to have water to drink, thought to himself, “Oh that she would send me some sweetened water!” Straightway the female lay disciple sent it. On the following day, early in the morning, he thought to himself, “Let her send me rice-porridge with plenty of butter, together with some dainty bits.” The female lay disciple straightway did so. After he had finished drinking the porridge, he thought to himself, “Oh that she would send me such and such hard food!” The female lay disciple straightway sent this also to him.
Then he thought to himself, “This female lay disciple has sent me every single thing I have thought of. I should like to see her. Oh that she would come to me in person, bringing with her soft food seasoned with various choice seasonings!” The female lay disciple thought to herself, “My son wishes to see me, desires me to go to him.” So procuring soft food, she went to the monastery and gave it to him. When he had eaten his meal, he asked her, “Lay disciple, your name is Mother of Mātika?” “Yes, dear son.” “You know the thoughts of another?” “Why do you ask me, dear son?” “You have done for me every single thing I have thought of; that is why I ask you.” “Many are the monks who know the thoughts of another, dear son.” “I am not asking anyone else; I am asking you, lay disciple.” Even under these circumstances the female lay disciple avoided saying, “I know the thoughts of another,” and said instead, “Those who know not the thoughts of another do thus, my son.”
Thereupon the monk thought to himself, “I am in a most embarrassing position. They that are unconverted entertain both noble and ignoble thoughts. Were I to entertain a single sinful thought, she would doubtless seize me by the topknot, bag and baggage, as she would seize a thief, and do me harm. Therefore I had best run away from here.” So he said to the female lay disciple, “Lay disciple, I intend to go away.” “Where are you going, noble sir?” “To the Teacher, lay disciple.” “Reside here for a while, Reverend Sir.” “I can no longer reside here, lay disciple. I must positively go away.” With these words he departed and went to the Teacher.
The Teacher asked him, “Monk, are you no longer residing there?” “No, Reverend Sir, I cannot reside there any longer.” “For what reason, monk?” “Reverend Sir, that female lay disciple knows every single thought that passes through my mind. It occurred to me, ‘They that are unconverted entertain both noble and ignoble thoughts. Were I to entertain a single sinful thought, she would doubtless seize me by the topknot, bag and baggage, as she would seize a thief, and do me harm.’ That is why I have returned.” “Monk, that is the very place where you ought to reside.” “I cannot, Reverend Sir, I will not reside there any longer.” “Well then, monk, can you guard just one thing?” “What do you mean, Reverend Sir?” “Guard your thoughts alone, for thoughts are hard to guard. Restrain your thoughts alone. Do not concern yourself with aught else, for thoughts are unruly.” So saying, he pronounced the following Stanza,
35. Thoughts are unruly and flighty, and flit and flutter wherever they list.
It is a good thing to tame the thoughts; tamed thoughts bring happiness.
When the Teacher had admonished that monk, he dismissed him, saying, “Go, monk, concern yourself with nothing else. Resume residence in that same place.” And that monk, after being admonished by the Teacher, went to that same place and concerned himself with nothing other than his thoughts. The great female lay disciple looked with Supernatural Vision. Seeing the Elder, she determined by her own knowledge alone the following fact, “My son has now gained a Teacher who gives admonition and has returned once more.” And forthwith she prepared wholesome food and gave it to him. Once having received wholesome food, in but a few days the Elder attained Arahatship.
As the Elder passed his days in the enjoyment of the bliss of the Paths and the Fruits, he thought to himself, “The great female lay disciple has indeed been a support to me. By her assistance I have gained Release from Existence.” And he considered within himself, “Has she been a support to me in my present state of existence only, or has she been a support to me in other states of existence also, as I have passed from one state of existence to another in the round of existences?” With this thought in mind he recalled a hundred states of existence less one. Now in a hundred states of existence less one that female lay disciple had been his wife, and her affections had been set on other men, and she had caused him to be deprived of life. When, therefore, the Elder beheld the huge pile of demerit she had accumulated, he thought to himself, “Oh, what wicked deeds this female lay disciple has committed!”
The great female lay disciple also sat in her house, considering within herself the following thought, “Has my son reached the goal of the religious life?” Perceiving that he had attained Arahatship, she continued her reflections as follows, “When my son attained Arahatship, he thought to himself, ‘This female lay disciple has indeed been a powerful support to me.’ Then he considered within himself, ‘Has she been a support to me in previous states of existence also or has she not?’ With this thought in mind he recalled a hundred states of existence less one. Now in a hundred states of existence less one I conspired with other men and deprived him of life. When, therefore, he beheld the huge pile of demerit I thus accumulated, he thought to himself, ‘Oh, what wicked deeds this female lay disciple has committed!’ Is it not possible that, as I have passed from one state of existence to another in the round of existences, I have rendered assistance to him?”
Considering the matter further, she called up before her mind her hundredth state of existence and became aware of the following, “In my hundredth state of existence I was his wife. On a certain occasion, when I might have deprived him of life, I spared his life. I have indeed rendered great assistance to my son.” And still remaining seated in her house, she said, “Discern further and consider the matter.” By the power of Supernatural Audition the monk immediately heard what she said. Discerning further, he called up before his mind his hundredth state of existence and perceived that in that state of existence she had spared his life. Filled with joy, he thought to himself, “This female lay disciple has indeed rendered great assistance to me.” Then and there, reciting the questions relating to the Four Paths and Fruits, he passed into that form of Nibbāna in which no trace of the Elements of Being remains.
- Cf. Hardy’s Manual of Buddhism, pp. 287-290. Text: N i. 290-297.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.