Tích Vị Tỳ Khưu Bất Mãn
Aññataraukkaṇṭhitabhikkhuvatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 36 Kinh Pháp Cú, phẩm Tâm, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 36)
“Sududdasaṃ sunipuṇaṃ,
Yatthakāmanipātinaṃ;
Cittaṃ rakkhetha medhāvī,
Cittaṃ guttaṃ sukhāvahanti.”
“Vi tế khéo lẩn lút,
Đắm chìm trong ngũ dục.
Kẻ trí hộ trì tâm,
Tâm hộ hưởng hạnh phúc.”
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài an ngự tại Jetavana (Kỳ Viên), đề cập đến một vị Tỳ khưu bất mãn.
Tương truyền rằng: Trong thời gian Đức Bổn Sư ngự gần thành Sāvatthī (Xá Vệ), có một Công tử con nhà triệu phú (Seṭṭhiputto) đến bạch với vị Đại đức quen thuộc với gia đình mình như vầy: “Bạch Ngài! Con có ý muốn thoát khổ, xin Ngài hoan hỷ thuyết pháp nào giải khổ được cho con nghe?”.
- Lành thay! Nầy đạo hữu, nếu đạo hữu muốn thoát khỏi khổ, đạo hữu nên hành pháp bố thí. Hãy cúng dường bằng cách rút thăm chia phần, để bát. Hãy tổ chức Trai Tăng mỗi kỳ sóc vọng, hãy hộ độ chư Tăng đang an cư kiết hạ, hãy dâng cúng tứ sự.”.
Đạo hữu nên chia tư sản của mình ra làm ba phần, một phần dành để kinh doanh, một phần cấp dưỡng gia đình vợ con, một phần nữa đem ra bố thí cúng dường Phật pháp.
Lành thay! Bạch Ngài.
Công tử vâng lời vị Đại đức, tuần tự thực hành các pháp bố thí, rồi lại đến bạch hỏi vị Đại đức rằng:
- Bạch Ngài! Những điều Ngài chỉ giáo cho con, con đã làm xong. Bây giờ con phải làm gì thêm khác nữa?
- Đạo hữu nên thọ trì Tam Qui và Ngũ Giới.
Sau khi đã thực hành những điều nầy, Công tử hỏi pháp cao thượng tiếp theo.
- Thế thì, đạo hữu nên thọ trì Thập giới đi.
Công tử vâng chịu: “Lành thay! Bạch Ngài.”. Do nơi cách tạo phước từ thấp tới cao, Công tử được người đương thời mệnh danh là Công tử Tuần Tự (Anupubba).
Sau đó Công tử Anupubba lại bạch hỏi vị Đại đức.
- Bạch Ngài! Còn phước nào cao thượng mà con nên làm nữa chăng?
- Thế thì con hãy xuất gia đi.
Công tử vâng chịu lời vị Đại đức, lìa bỏ gia đình để đi xuất gia. Có được vị Luận Sư là thấy tiếp dẫn và vị Luật Sư là thầy tế độ. Đều là những Đại đức thông suốt về pháp học của mình.
Khi vị tân sư đến gần vị thầy tiếp dẫn, thì được nghe vị ấy thuyết giảng về những đề tài trong tạng Vi Diệu Pháp “Đúng theo chơn lý của Đức Phật đã giác ngộ, pháp nầy nên hành, pháp nầy chẳng nên hành…”. Và khi vị ấy đến gần vị thầy tế độ, thì cũng được nghe thầy mình thuyết giảng những học giới trong Tạng Luật: “Đúng theo chánh pháp của Đức Thế Tôn, điều nầy nên làm, điều nầy chẳng nên làm… Điều nầy hợp lẽ đạo, điều nầy không hợp lẽ đạo…”.
Vị Tỳ khưu ấy suy nghĩ rằng: “Chao ôi! Việc hành đạo nầy thật là phiền phức, ta xuất gia cầu mong đạt được sự thoát khổ, nào ngờ vào tu phải học bù đầu, không được thảnh thơi lúc nào cả. Phải biết trước như thế nầy, ta ở nhà làm cư sĩ, ráng sức tự tu cũng có thể thoát khỏi cái vòng khổ não được vậy.”.
Từ đó về sau, Tỳ khưu Tuần Tự sanh tâm bất mãn, chán nản đề mục ba mươi hai thể trược không niệm, Phạn ngữ cũng không học, hình thể gầy còm tiều tụy, mình mẩy nổi gân xanh, tinh thần bạc nhược, ngồi đâu gãi đó.
Khi ấy, các vị Sa di trẻ tuổi nói với thầy Tỳ khưu Tuần Tự rằng: “Sư ơi! Sư làm gì mà đứng ngồi nơi đâu, sư cũng gãi ghẻ, phải sư mắc bịnh huỳnh đản chăng mà coi sư ốm o tiều tụy, mình đầy gân xanh, bần thần dã dượi vậy?”.
- Nầy các đạo hữu, tôi bất mãn lắm.
- Tại sao vậy sư?
Tỳ khưu Anupubba bèn tỏ thật tâm sự của mình. Mấy ông Sa di bèn đem chuyện nầy bạch lại với ông thầy tiếp dẫn và thầy tế độ. Hai ông nầy bèn dắt Tỳ khưu bất mãn ấy đến chỗ ngụ của Đức Thế Tôn, Đức Bổn Sư phán hỏi:
- Nầy các Tỳ khưu! Các ông đến đây có việc chi cần thiết?
- Bạch Ngài! Tỳ khưu nầy không thỏa mãn ở trong giáo pháp của Ngài.
- Các vị ấy nói thế. Có thật không hỡi Tỳ khưu?
- Dạ đúng, bạch Ngài.
- Tại sao vậy?
- Bạch Ngài, con xuất gia là mong được thoát khổ rồi vô tu, rồi lại được nghe thầy tiếp dẫn thuyết Vi Diệu Pháp, và vị thầy tế độ thuyết về Tạng Luật mà phát mệt, nên con nghĩ rằng: “Nơi đây đầu óc của ta thật là bận rộn, không được thảnh thơi. Phải chi ta cứ làm cư sĩ, ở nhà hành cũng có thể thoát khổ được vậy.”.
- Nầy Tỳ khưu! Nếu ông có thể giữ được một vật nầy thì ngoài nó ra, ông khỏi phải lo phòng hộ cái chi khác nữa.
- Bạch Ngài, vật chi vậy?
- Cái tâm của ông! Ông có thể gìn giữ nó được không?
- Bạch Ngài, con có thể giữ được.
- Thế thì ông hãy hộ trì cái tâm của ông, bấy nhiêu đó đủ để ông thoát khổ được.
Ban huấn từ xong, Đức Thế Tôn thuyết kệ rằng:
“Sududdasaṃ sunipuṇaṃ,
Yatthakāmanipātinaṃ;
Cittaṃ rakkhetha medhāvī,
Cittaṃ guttaṃ sukhāvahanti.”
“Tâm phàm bị ngũ dục cuốn lôi,
Vi tế, u uẩn, ngược xuôi khó nhìn.
Người khôn phòng hộ tâm mình,
Yên vui nhờ khéo giữ gìn bản thân.”
CHÚ GIẢI:
Sududdasaṃ: Do hai tiếng Suṭṭhu và duddasaṃ ghép lại, nghĩa là rất khó thấy, khó biết.
Sunipuṇaṃ: (suṭṭhu nipuṇaṃ) nghĩa là rất mềm, uyển chuyển hết sức vi tế, u ẩn.
Yatthakāmanipātinaṃ: Vui đâu trút đó, cứ để cho ngũ dục cuốn lôi, không kể giai cấp, tông tộc, tuổi tác… Cho cả về mặt giới luật thì bất chấp nên hư, phải quấy cho nên nói là thích đâu là mê sa đó.
Cittaṃ rakkhetha medhāvī: Đối với kẻ ngu si, đần độn thì sự phòng hộ bản tâm không thể có được, còn bậc hiền minh trí tuệ, sau khi làm chủ được tâm, đạt đến mức bình thản vô não hại thì có thể phòng hộ bản tâm, cho nên ông hãy phòng giữ tâm như thế ấy. Quả thật, tâm được phòng hộ thì đem chủ nó đến nơi an lạc, là đạo quả Níp Bàn an lạc vậy.
Khi bài kệ vừa dứt, Tỳ khưu bất mãn phát tâm hoan hỷ chứng đắc Dự Lưu quả. Nhiều vị khác cũng chứng đắc Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả. Kỳ dư đại chúng thính pháp đều hưởng được sự lợi ích.
Công tử đi tu chỉ thích nhàn,
Thấy nhiều Kinh Luật phát bi quan.
Pháp môn bốn vạn chia đầy lối,
Học giới vài trăm rẽ đủ đàng!
Chẳng ở tiếng đời chê bạc nhược,
Không về cửa đạo chán gian nan!
May nhờ Phật dạy dùng tâm hộ,
Vào được dòng xuôi đến Níp Bàn.
DỨT TÍCH TỲ KHƯU BẤT MÃN
Aññataraukkaṇṭhitabhikkhuvatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Sududdasanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā sāvatthiyaṃ viharanto aññataraṃ ukkaṇṭhitabhikkhuṃ ārabbha kathesi.
Satthari kira sāvatthiyaṃ viharante eko seṭṭhiputto attano kulūpagattheraṃ upasaṅkamitvā, “bhante, ahaṃ dukkhā muccitukāmo, ekaṃ me dukkhato muccanakāraṇaṃ kathethā”ti āha. “Sādhāvuso, sacesi dukkhā muccitukāmo, salākabhattaṃ dehi, pakkhikabhattaṃ dehi, vassāvāsikaṃ dehi, cīvarādayo paccaye dehi, attano sāpateyyaṃ tayo koṭṭhāse katvā ekena kammantaṃ payojehi, ekena puttadāraṃ posehi, ekaṃ buddhasāsane dehī”ti āha. So “sādhu, bhante”ti vuttapaṭipāṭiyā sabbaṃ katvā puna theraṃ pucchi – “tato uttariṃ aññaṃ kiṃ karomi, bhante”ti? “Āvuso, tīṇi saraṇāni gaṇha, pañca sīlāni gaṇhāhī”ti. Tānipi paṭiggahetvā tato uttariṃ pucchi. “Tena hi dasa sīlāni gaṇhāhī”ti. “Sādhu, bhante”ti gaṇhi. So evaṃ anupubbena puññakammassa katattā anupubbaseṭṭhiputto nāma jāto. Tato “uttarimpi kattabbaṃ atthi, bhante”ti puna pucchitvā, “tena hi pabbajāhī”ti vutto nikkhamitvā pabbaji. Tasseko ābhidhammikabhikkhu ācariyo ahosi. Eko vinayadharo upajjhāyo. Tassa laddhūpasampadassa ācariyo attano santikaṃ āgatakāle abhidhamme pañhaṃ kathesi – “buddhasāsane nāma idaṃ kātuṃ vaṭṭati, idaṃ na vaṭṭatī”ti. Upajjhāyopissa attano santikaṃ āgatakāle vinaye pañhaṃ kathesi – “buddhasāsane nāma idaṃ kātuṃ vaṭṭati, idaṃ na vaṭṭati, idaṃ kappati, idaṃ na kappatī”ti. So cintesi – “aho bhāriyaṃ idaṃ kammaṃ, ahaṃ dukkhā muccitukāmo pabbajito, idha ca mama hatthapasāraṇaṭṭhānampi na paññāyati, gehe ṭhatvāva dukkhā muccituṃ sakkā, mayā gihinā bhavituṃ vaṭṭatī”ti. So tato paṭṭhāya ukkaṇṭhito anabhirato dvattiṃsākāre sajjhāyaṃ na karoti, uddesaṃ na gaṇhāti, kiso lūkho dhamanisanthatagatto ālassiyābhibhūto kacchuparikiṇṇo ahosi.
Atha naṃ daharasāmaṇerā, “āvuso, kiṃ tvaṃ ṭhitaṭṭhāne ṭhitova nisinnaṭṭhāne nisinnova ahosi, paṇḍurogābhibhūto kiso lūkho dhamanisanthatagatto ālassiyābhibhūto kacchuparikiṇṇo, kiṃ te kata”nti pucchiṃsu. “Ukkaṇṭhitomhi, āvuso”ti. “Kiṃ kāraṇā”ti? So taṃ pavattiṃ ārocesi. Te tassa ācariyupajjhāyānaṃ ācikkhiṃsu. Ācariyupajjhāyā taṃ ādāya satthu santikaṃ agamaṃsu. Satthā “kiṃ, bhikkhave, āgatatthā”ti āha. “Bhante, ayaṃ bhikkhu tumhākaṃ sāsane ukkaṇṭhito”ti. “Evaṃ kira bhikkhū”ti. “Āma, bhante”ti. “Kiṃ kāraṇā”ti? “Ahaṃ, bhante, dukkhā muccitukāmova pabbajito, tassa me ācariyo abhidhammakathaṃ kathesi, upajjhāyo vinayakathaṃ kathesi, svāhaṃ ‘idha me hatthapasāraṇaṭṭhānampi natthi, gihinā hutvā sakkā dukkhā muccituṃ, gihi bhavissāmī’ti sanniṭṭhānamakāsiṃ, bhante”ti. “Sace tvaṃ, bhikkhu, ekameva rakkhituṃ sakkhissasi, avasesānaṃ rakkhanakiccaṃ natthī”ti. “Kiṃ, bhante”ti? “Tava cittameva rakkhituṃ sakkhissasī”ti. “Sakkhissāmi, bhante”ti. “Tena hi attano cittameva rakkhāhi, sakkā dukkhā muccitu”nti imaṃ ovādaṃ datvā imaṃ gāthamāha –
“Sududdasaṃ sunipuṇaṃ, yatthakāmanipātinaṃ;
Cittaṃ rakkhetha medhāvī, cittaṃ guttaṃ sukhāvaha”nti.
Tattha sududdasanti suṭṭhu duddasaṃ. Sunipuṇanti suṭṭhu nipuṇaṃ paramasaṇhaṃ. Yatthakāmanipātinanti jātiādīni anoloketvā labhitabbālabhitabbayuttāyuttaṭṭhānesu yattha katthaci nipatanasīlaṃ. Cittaṃ rakkhetha medhāvīti andhabālo dummedho attano cittaṃ rakkhituṃ samattho nāma natthi, cittavasiko hutvā anayabyasanaṃ pāpuṇāti. Medhāvī pana paṇḍitova cittaṃ rakkhituṃ sakkoti, tasmā tvampi cittameva gopehi. Idañhi cittaṃ guttaṃ sukhāvahaṃ maggaphalanibbānasukhāni āvahatīti.
Desanāpariyosāne so bhikkhu sotāpattiphalaṃ pāpuṇi, aññepi bahū sotāpannādayo ahesuṃ, desanā mahājanassa sātthikā ahosīti.
Aññataraukkaṇṭhitabhikkhuvatthu tatiyaṃ.
II. 3. A Discontented Monk
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
36. Thoughts are exceedingly hard to see, exceedingly subtle, and flit and flutter wherever they list.
A wise man should guard his thoughts; guarded thoughts bring happiness.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to a certain discontented monk.
We are told that while the Teacher was in residence at Sāvatthi, a certain treasurer’s son approached an Elder who resorted to his house for alms and said to him, “Reverend Sir, I desire to obtain Release from Suffering. Tell me some way by which I can obtain Release from Suffering.” The Elder replied, “Peace be unto you, brother. If you desire Release from Suffering, give ticket-food, give fortnightly food, give lodging during the season of the rains, give bowls and robes and the other Requisites. Divide your possessions into three parts: with one portion carry on your business; with another portion support son and wife; dispense the third portion in alms in the Religion of the Buddha.”
“Very well, Reverend Sir,” said the treasurer’s son, and did all in the prescribed order. Having done all, he returned to the Elder and asked him, “Reverend Sir, is there anything else I ought to do?” “Brother, take upon yourself the Three Refuges and the Five Precepts.” The treasurer’s son did so, and then asked whether there was anything else he ought to do. “Yes,” replied the Elder, “take upon yourself the Ten Precepts.” “Very well, Reverend Sir,” said the treasurer’s son, and took upon himself the Ten Precepts. Because the treasurer’s son had in this manner performed works of merit, one after another (anupubbena), he came to be called Anupubba. Again he asked the Elder, “Reverend Sir, is there anything else I ought to do?” The Elder replied, “Yes, become a monk.” The treasurer’s son immediately retired from the world and became a monk.
Now he had a teacher who was versed in the Abhidhamma and a preceptor who was versed in the Vinaya. After he had made his full profession, whenever he approached his teacher, the latter repeated questions found in the Abhidhamma, “In the Religion of the Buddha it is lawful to do this, it is unlawful to do that.” And whenever he approached his preceptor, the latter repeated questions found in the Vinaya, “In the Religion of the Buddha it is lawful to do this, it is unlawful to do that; this is proper, this is improper.” After a time he thought to himself, “Oh, what a wearisome task this is! I became a monk in order to obtain Release from Suffering, but here there is not even room for me to stretch out my hands. It is possible, however, to obtain Release from Suffering, even if one live the house-life. I had best become a householder once more.”
From that time forth, discontented and dissatisfied, he rehearsed the Thirty-two Constituent Parts of the Body no more and received instruction no more. He became emaciated, his skin shriveled up, veins stood out all over his body, weariness oppressed him, and his body was covered with scabs. The probationers and novices asked him, “Brother, how is it that wherever you stand, wherever you sit, you are sick of the jaundice, emaciated, shriveled up, your body covered with scabs? What have you done?” “Brethren, I am discontented.” “Why?” He told them his story, and they told his teacher and his preceptor, and his teacher and his preceptor took him with them to the Teacher.
Said the Teacher, “Monks, why have you come?” “Reverend Sir, this monk is dissatisfied in your Religion.” “Monk, is what they say true?” “Yes, Reverend Sir.” “Why are you dissatisfied?” “Reverend Sir, I became a monk in order to obtain Release from Suffering. My teacher has recited passages from the Abhidhamma, and my preceptor has recited passages from the Vinaya. Reverend Sir, I have come to the following conclusion, ‘Here there is not even room for me to stretch out my hands. It is possible for me to obtain Release from Suffering as a householder. I will therefore become a householder.’ ” “Monk, if you can guard one thing, it will not be necessary for you to guard the rest.” “What is that, Reverend Sir?” “Can you guard your thoughts?” “I can, Reverend Sir.” “Well then, guard your thoughts alone.” Having given this admonition, the Teacher pronounced the following Stanza,
36. Thoughts are exceedingly hard to see, exceedingly subtle, and flit and flutter wherever they list.
A wise man should guard his thoughts; guarded thoughts bring happiness.
- Text: N i. 297-300.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.