Chú giải Pháp Cú · Kệ 47 · Dhp 47

Tích Viḍūḍabha (Lưu Ly Vương)

Viṭaṭūbhavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 47 Kinh Pháp Cú, phẩm Hoa, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 47)

“Pupphāni h'eva pacinantaṃ,
Byāsattamanasaṃ naraṃ;
Suttaṃ gāmaṃ mahogho'va,
Maccu ādāya gacchati.”

“Kẻ đang mãi hái hoa,
Tâm còn vọng tưởng xa.
Bị Tử thần bắt mất,
Như làng ngủ bị lụt.”

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài an ngự tại Jetavana (Kỳ Viên), đề cập đến vua Viḍūḍabha (Lưu Ly Vương) và đoàn tùy giá viễn chinh, đã chết trôi vì nạn lụt.

Thuở ấy ở ba nước láng giềng có ba vị Đông cung Thái tử đồng trang lứa với nhau: Thái tử Pasenadi (Ba Tư Nặc) con vua xứ Kosala (Kiều Tát La), Thái tử Mahāli con dòng Licchavī xứ Vesāli và Thái tử Bandhula con vua Malla xứ Kusinārā.

Ba Thái tử cùng đi du học văn võ với một vị danh sư lừng danh ở thành Takkasilā. Ba vị Thái tử gặp gỡ nhau trong một quán trọ ngoại thành. Sau khi hỏi thăm nhau, biết rõ mục đích cuộc hành trình cùng danh tánh tông tích của nhau, họ bèn kết nghĩa đệ huynh, và đồng đến xin nhập môn một lượt. Không bao lâu cả ba vị Thái tử đồng song nầy văn ôn võ luyện đã đến mức tinh thông thuần thục. Đồng cùng nhau bái tạ Sư trưởng ra đi, ai về xứ nấy.

Trong ba vị, Thái tử Pasenadi được phụ vương đẹp dạ, truyền ngôi cửu ngũ, sau khi thấy Thái tử biểu diễn tài nghệ cho Ngài duyệt lãm.

Thái tử Mahāli thuộc dòng Licchavī, trong lúc biểu diễn vì dụng lực thái quá, nên hai mắt bị nổ. Các vua Licchavī đồng thanh bảo rằng:

- Ôi! Thật chẳng mai cho sư phó của chúng ta, Ngài đã bị mù cả đôi mắt, không lẽ chúng ta bỏ rơi Ngài, chúng ta phải có bổn phận chăm lo phụng dưỡng Ngài mãn đời mới trọn đạo thầy trò.

Các vua đồng ý tặng cho Thái tử chức Huỳnh môn quan, quyền trấn một cửa cổng thành, trị giá một trăm ngàn đồng.

Nhậm chức rồi, Thái tử liền nhận năm trăm Thái tử dòng Licchavī đến xin thọ giáo để học tập văn võ.

Thái tử Bandhula về nước Kusinārā để biểu diễn nghệ thuật. Các hoàng tộc dòng Malla đích thân bó tre thành từng bó, mỗi bó là sáu mươi cây, ở giữa mỗi bó lại đệm một giáo sắt, đoạn treo nó giữa hư không, hỏng mặt đất và thách Thái tử chém cho đứt rơi xuống.

Thái tử bái Tổ xong rồi, cất mình phóng lên hư không cao tám mươi hắc tay. Chân vừa rơi chấm đất, Thái tử hươi gươm chém tới lia lịa, đến bó tre cuối cùng, Thái tử chợt nghe tiếng giáo sắt bị khua chạm lên, bèn hỏi: “Cái gì thế?”.

Khi biết được trong sáu mươi bó tre có đệm giáo sắt, Thái tử ném gươm khóc rằng: “Trong tất cả thân bằng quyến thuộc của ta nơi đây, không một ai thương yêu ta nói cho ta biết trước việc nầy. Nếu ta biết trước thì ta sẽ chém đứt cả sáu mươi bó tre mà không cho phát lên tiếng khua chạm giáo sắt.”.

Thái tử day lại thưa với phụ hoàng cùng mẫu hậu rằng:

- Tâu phụ vương và mẫu hậu! Xin hãy tru lục bọn nầy rồi trị quốc mới yên.

- Nầy vương nhi! Chiếu theo luật vua phép nước, không thể làm việc ấy được (vì quyền trị quốc chỉ có thể truyền tử lưu tôn mà thôi.).

Sau khi nài nỉ song thân nhiều phen không kết quả, Thái tử bèn yêu cầu: “Thế thì phụ hoàng và mẫu hậu cho con sang xứ của bạn con.”. Được mẹ cha chuẩn tấu, Thái tử lên đường đến kinh thành Sāvatthī.

Quốc vương Pasenadi nghe tin Thái tử Bandhula ly hương sang nước mình, liền ngự giá ra đến rước bạn ở ngoài thành, rất trọng thể. Về triều giao cho bạn giữ chức Đại Nguyên soái, thống lãnh quân đội hoàng gia. Khi nhận chức rồi, Thái tử phái người thân tín trở về Kusinārā rước cả phụ vương và mẫu hậu về cùng ở chung với mình nơi thành Sāvatthī.

Một hôm, Quốc vương Pasenadi nhìn xuống đường phố khi Ngài đứng trên lầu ngự của mình thấy chư Tỳ khưu lũ lượt vào thành thọ bát nơi nhà các đại thí chủ như ông Anāthapiṇḍika, Cullānāthapiṇḍika, bà Visākhā, nàng Suppavāsā… Quốc vương phán hỏi thị thần:

- Chư Đại đức đi đâu vậy?

- Tâu Bệ hạ! Mỗi ngày có độ hai ngàn vị Tỳ khưu đến nhà ông Anāthapiṇḍika để dự lễ Trai Tăng hoặc thọ thực do thí chủ dâng cúng hợp pháp đến chư Tăng, rút thăm hoặc là chư Tỳ khưu bịnh chẳng hạn. Nơi nhà của Trưởng giả Cullānāthapiṇḍika có khoảng năm trăm vị đến thọ thực thường xuyên, nơi nhà của bà Visākhā và bà Suppavāsā cũng như thế.

Nghe xong, đức vua phát tâm muốn làm người hộ Tăng, bèn ngự giá đến Tinh xá Jetavana cung thỉnh Đức Bổn Sư với một ngàn vị Tỳ khưu vào hoàng cung thọ thực.

Quốc vương đích thân đứng ra trông coi việc đặt bát cúng dường trọn cả bảy ngày liền.

Đến ngày thứ bảy, đức vua đảnh lễ Đức Bổn Sư và yêu cầu:

- Bạch Ngài! Quả nhân xin thỉnh Ngài cùng năm trăm vị Tỳ khưu thường xuyên thọ thực nơi Hoàng cung.

- Tâu đại vương! Chư Phật không bao giờ thọ thực thường xuyên một nơi, vì còn nhiều chúng sanh chờ đợi các Ngài ngự đến.

- Nếu vậy xin Ngài phái một vị Tỳ khưu nào đó có thể đến hằng ngày.

Đức Thế Tôn giao phận sự nầy cho Đại đức Ānanda. Trong bảy ngày đầu, khi chư Tăng đến Quốc vương đích thân ngự ra rước bát, đứng trông nom chỉ bảo cho nội thần quyến thuộc hộ độ các Ngài rất chu đáo.

Đến ngày thứ tám, Quốc vương vì long thể bất an, nên xao lãng phận sự hộ độ chư Tăng, chư Tăng vào hoàng cung, không ai soạn sẵn chỗ ngồi, thỉnh các Ngài an tọa và dâng cúng thực phẩm đến tay các Ngài. Chư Tăng bàn với nhau rằng:

- Trong hoàng cung vì thừa hành lịnh của đức vua, nên không ai dám tự chuyên, đứng ra mời chư Tăng ngồi và phục dịch cả.

Vắng mặt Quốc vương, chắc chúng ta không thể nào đến đây lâu được.

Thế là nhiều vị bỏ ra đi.
Qua những ngày sau, Quốc vương cũng vẫn chểnh

mảng như thế, nhiều vị Tỳ khưu khác lại bỏ ra đi.

Qua những ngày sau đó, tình trạng cũng chẳng lấy làm khả quan hơn, thế là tất cả năm trăm Tỳ khưu đều lần lượt ra đi cả. Chỉ còn lại một mình Đại đức Ānanda (những bậc đại phúc đức bao giờ cũng đầy đủ uy tín, giữ đức tin trong sạch của hàng tại gia cư sĩ. Đệ tử của Đức Như Lai trong hàng xuất gia có Đại đức Sārīputta, Đại đức Moggallāna là hai Thượng Thinh Văn, Tỳ khưu Ni Khemā (An Bình), Tỳ khưu Ni Uppalavaṇṇā là hai nữ Thượng Thinh Văn, trong hàng tại gia cư sĩ thì có Trưởng giả Citta, Dạ xoa Āḷavaka là hai Thượng Thinh Văn thiện nam, về tín nữ thì có nàng Veḷukaṇṭakī Nandamātā và nàng Khujjuttarā là hai nữ Thượng Thinh Văn tín nữ. Tám vị nầy đáng được liệt kê ở hàng đầu trong tứ chúng. Ngoài ra tất cả các vị Thinh Văn ở các quốc độ, hễ đã hoàn thành thập độ rồi cũng đều là những bậc Đại phúc đức viên mãn hạnh nguyện hết. Đại đức Ānanda cũng vậy, Ngài đã trải qua một trăm ngàn đại kiếp, hoàn thành đủ pháp độ Ba la mật (Pāramī), hạnh nguyện đã viên mãn, Ngài có đầy đủ uy tín, giữ vững đức tin của hàng tại gia cư sĩ, một mình Ngài được hoàng tộc thỉnh mời ngồi và dâng cúng đàng hoàng tử tế. Sau khi chư Tăng ra về, Quốc vương ngự vào trai đường, trông thấy thực phẩm loại cứng loại mềm còn nguyên trên bàn, bèn phán hỏi nội thị rằng:

- Chư Đại đức không đến thọ bát hay sao?

- Tâu bệ hạ chỉ có một mình Đại đức Ānanda đến mà thôi.

Quốc vương nghe tâu, buồn giận chư Tỳ khưu, nghĩ rằng:

- Các Ngài đã cắt dứt con đường thiện duyên của trẫm rồi.

Quốc vương ngự đến bái kiến Đức Bổn Sư và bạch rằng:

- Bạch Ngài quả nhân đã chuẩn bị cả năm trăm cổ phần để sớt bát cúng dường chư Tăng, mà nghe rằng: Chỉ có một mình Đại đức Ānanda đến thọ thực… Số thực phẩm dọn ra mà còn y nguyên. Năm trăm vị Tỳ khưu không thấy vào hoàng cung, không biết vì lý do nào?

Đức Bổn Sư không quở trách chư Tỳ khưu, Ngài chỉ vỗ về đức vua Pasenadi rằng:

- Tâu đại vương! Chắc là chư Thinh Văn của Như Lai không có tình thân mật với đại vương, cho nên không đi vào cung nội.

Kế đó, Đức Bổn Sư kêu gọi chư Tăng vào và giảng dạy những trường hợp nào chư Tăng không đến thọ thực nơi nhà thí chủ và những trường hợp nào nên đến. Đoạn Ngài kết thúc bằng bài kinh nầy:

“Navahi bhikkhave aṅgehi samannāgataṃ kulaṃ anupagantvā ca nālaṃ upagantuṃ upagantvā ca nālaṃ

upanisīdituṃ.

Katamehi navahi? Na manāpena

paccuṭṭhenti, na manāpena abhivādenti, manāpena asanaṃ denti, santamassa pariguyhanti, bahukamhi thokaṃ denti, paṇītamhi lūkhaṃ denti, asakkaccaṃ denti, no sakkaccaṃ, na upanisīdanti dhammassavanāya, bhāsantassa na rañjiyanti. Imehi kho bhikkhave navahi aṅgehi samannāgataṃ kulaṃ anupagantvā ca nālaṃ upagantuṃ upagantvā ca nālaṃ upanisīdituṃ.” Navahi bhikkhave aṅgehi samannāgataṃ kulaṃ anupagantvā ca alaṃ upangantuṃ upagantvā vā alaṃ upanisīdituṃ.”.

“Nầy các Tỳ khưu, có chín điều mà gia tộc nào hội đủ thì Tăng không nên đến đó nếu chưa đến. Hoặc không nên ngồi nếu đã đến đó. Thế nào là chín?

1. Họ không hoan hỷ đứng dậy tiếp rước.
2. Họ không hoan hỷ đảnh lễ.

3. Họ không hoan hỷ mời ngồi.
4. Có vật dụng mà họ giấu.
5. Có nhiều mà họ dâng ít.
6. Có đồ ngon mà họ dâng đồ dở.
7. Họ dâng bằng cách không cung kính.
8. Họ không giữ lễ, không ngồi gần.
9. Họ không thỏa thích trong khi nghe nói pháp
giảng đạo.

Nầy các Tỳ khưu, chín điều nầy gia tộc nào hội đủ thì Tăng không nên đến đó nếu chưa đến, hoặc không nên ngồi nếu đã đến rồi.

Nầy các Tỳ khưu, có chín điều mà gia tộc nào hội đủ thì chư Tăng nên đến đó nếu chưa đến, hoặc nên ngồi nơi đó nếu đã đến rồi. Thế nào là chín?

1. Họ hoan hỷ mời ngồi.
2. Họ hoan hỷ đứng dậy tiếp rước.
3. Họ hoan hỷ đảnh lễ.
4. Có vật dụng họ không giấu.
5. Có nhiều mà họ dâng nhiều.
6. Có đồ ngon mà họ dâng đồ ngon.
7. Họ dâng bằng cách cung kính.
8. Họ giữ lễ phép, ngồi gần.
9. Họ thỏa thích nghe pháp, nói đạo.

Nầy các Tỳ khưu, chín điều nầy, gia tộc nào mà hợp đủ thì Tăng nên đến đó nếu chưa đến, hoặc nên ngồi nếu đã đến rồi.”

Dứt bài kinh, Đức Thế Tôn lại tiếp chuyện với nhà vua:

- Tâu đại vương! Chắc là các Thinh Văn của Như Lai không tìm được thân mật nơi đại vương, cho nên mới không đi vào ngự như vậy. Quả thật, bậc hiền trí ngày xưa, cho dầu được hộ độ chu đáo, nhưng ở chỗ thiếu tình thân mật cũng đã thọ khổ gần chết được, đến nỗi phải ra đi trở về nơi có tình thân mật.

- Bạch Ngài, vào thời nào vậy?

Đức Thế Tôn liền thuật lại tiền tích rằng:

Thuở xưa, dưới triều đại vua Brahmadatta, đóng đô tại thành Bārāṇasī. Có một Quốc vương là Kesava (Quyền Phát) đã từ bỏ ngai vàng điện ngọc, ra đi xuất gia làm đạo sĩ, năm trăm tùy tướng cũng xuất gia theo làm môn đệ của Kesava, người thợ cạo của đức vua cũng xuất gia làm thị giả của đạo sĩ, có tên là Kappaka (Lý Phát).

Đạo sĩ Kesava cùng với những môn sinh tu ở miền Tuyết Sơn (Himavanta) trong tám tháng nắng ráo. Đến mùa mưa, đạo nhân dắt đoàn đạo sĩ môn đệ ra đi đến thành Bārāṇasī, khất thực trong kinh thành.

Khi ấy, vua Brahmadatta trông thấy đạo sĩ Kesava thì phát tâm trong sạch. Thỉnh được đạo nhân nhận lời an cư bốn tháng trong hoàng thành, đức vua cho người sửa sang vườn ngự uyển để đạo nhân lưu trú. Mỗi ngày hai lượt, sáng và chiều đức vua ngự đến lo việc hộ độ các đạo nhân.

Ở được vài ba ngày, các đạo sĩ đệ tử điếc tai vì các tiếng voi, ngựa hí, chịu không nổi nên xin thầy cho mình rút lui. Đạo nhân hỏi:

- Chư hiền đồ sẽ đi về đâu?

- Bạch Sư phụ, chúng con về núi Tuyết Sơn.

- Nầy chư hiền đồ, ngày mới đến đây ta đã nhận lời của Quốc vương ở trú an cư nơi nầy bốn tháng, sao chư hiền đồ lại tính bỏ ra đi?

- Bạch Sư phụ, tại vì Sư phụ nhận lời mà không cho chúng con hay biết. Nơi đây, chúng con không thể ở lại đây, xin cho chúng con kiếm chỗ ở gần nơi đây, hầu có thể nghe ngóng tin tức của Sư phụ.

Nói rồi, cả đoàn đệ tử đảnh lễ từ biệt Kesava đạo nhân. Chỉ còn lại mình đạo sĩ Kappaka là vị thị giả ở lại hầu thầy mà thôi.

Khi đến hộ độ các đạo nhân, Quốc vương hỏi:
- Chư đạo sĩ đi đâu hết rồi?

- Tâu đại vương, chư hiền đồ bất mãn nên đã xin trở về núi Tuyết Sơn cả rồi.

Không bao lâu, đạo sĩ Kappaka cũng không thể kham nhẫn, bèn tỏ thật với thầy: “Bạch Sư phụ, con cũng không thể cố gắng ở lại đây lâu hơn nữa được.”.

Sau khi xin phép nhiều lần, vị thị giả được đạo nhân Kesava bằng lòng cho đi về Tuyết Lãnh Sơn nhập chung với các bạn đồng tu, ở một nơi cách đó không bao xa để có thể nghe ngóng tin tức Sư phụ được dễ dàng.

Thời gian sau, đạo sĩ Kesava sanh chứng đau bụng vì nỗi nhớ nhung các đệ tử thân yêu. Quốc vương khiến ngự y đến điều trị, nhưng bịnh tình không thuyên giảm chút nào cả.

Đạo nhân thấy đức vua ân cần săn sóc, bèn hỏi:

- Tâu đại vương! Có thật đại vương muốn tôi khỏi bịnh chăng?

- Bạch Ngài ! Nếu quả nhân có cách nào làm cho Ngài mau bình phục thì quả nhân sẽ thi hành ngay.

- Tâu đại vương ! Nếu đại vương muốn cho tôi mau lành bịnh được yên lành, thì đại vương cho người đưa tôi về với các môn sinh.

- Bạch Ngài, được lắm.

Quốc vương truyền lịnh cho nội thị đặt đạo nhân nằm trên một chiếc giường, rồi khiến bốn vị đại thần, có quan Nārada lãnh đạo, đưa đạo nhân đi với lời ủy thác: “Chư khanh đi đến nơi rồi hãy lưu lại, chờ xem bao giờ đạo trưởng bình phục sức khỏe thì báo cho trẫm biết.”.

Thị giả Kappaka nghe tin Sư phụ đã về, lật đật ra đi tiếp đón. Đạo nhân hỏi: “Còn các hiền đồ khác ở đâu?”.

Đạo sĩ Kappala đáp: “Bạch Sư phụ, nghe nói các sư huynh sư đệ của con ở tại nơi đó.”.

Các đạo sĩ môn đệ hay tin thầy trở về, cũng đều qui tụ lại đông đủ, chung lo chăm sóc đạo nhân, như dâng nước nóng, các thứ trái cây rừng và thực phẩm khác.

Chỉ trong chốc lát, đạo nhân khỏi bịnh và vài ba ngày sau da dẻ đã sáng ánh như vàng ròng. Khi ấy đại thần Nārada hỏi đạo nhân:

“Manussindaṃ jahitvāna,
Sabbakāmasamiddhinaṃ;
Kathannu bhagavā kesi,
Kappassa ramasi assameti.”
“Chốn thảo am đủ mùi dục lạc,
Sao Thế Tôn Quyền Phát bỏ đi.
Thảo am Lý Phát có chi,
Mà Ngài lưu luyến làm gì cho cam?”.

“Sādūni ramaṇīyāni,
Santi rukkhā manoramā;
Subhāsitāni kappassa,
Nārada ramayanti manti.”
“Nārada nầy, chốn thảo am,
Là nơi ta thích, không nhàm chán đâu.
Cỏ cây đẹp mát rừng sâu,
Có trì Lý Phát bạn bầu sớm hôm.”

“Sālīnaṃ odanaṃ bhutvā,
Sucimaṃsūpasecanaṃ;
Kathaṃ sāmākanivārā,
Aloṇā sādayanti tanti.”
“Cơm Sà Li thơm ngon trộn thịt,
Ngài quen dùng thỏa thích sẵn sàng.
Sá chi kê lạt tồi tàn,
Mà Ngài lưu luyến buộc ràng nơi đây?”

“Asāduṃ yadi vā sāduṃ,
Appaṃ vā yadi vā bahuṃ;
Vissaṭṭho yattha bhuñjeyya,
Vissāsaparamā rasāti.”
“Dầu ngon dầu dở trối thây,
Dầu nhiều dầu ít, dạ nầy chẳng lo.
Chung vui bạn lữ thầy trò,
Ăn sao cũng được, miễn cho thâm tình.”

Thuyết dứt tích Bổn Sanh nầy, Đức Bổn Sư dẫn giải rằng:

- Quốc vương thời ấy nay là Moggallāna, Nārada nay là Sārīputta, thị giả Kappaka nay là Ānanda và đạo sĩ Kesava chính là đấng Như Lai vậy.

Đức Bổn Sư nói tiếp: “Tâu đại vương, những bậc hiền trí thời xưa đã từng thọ khổ gần đến mạng chung, chỉ vì thiếu tình thân mật như thế đó. Các Thinh Văn của Như Lai, sở dĩ không vào hoàng cung cũng bởi vì không được thân mật với đại vương vậy.”.

Quốc vương Pasenadi suy nghĩ: “Bây giờ quả nhân phải làm sao để cho Tăng chúng thân thiện với quả nhân đây? À quả nhân nên cầu hôn với hoàng tộc Thích Ca là quyến thuộc của Đức Chánh Biến Tri, được như vậy các Tỳ khưu và Sa di sẽ thấy quả nhân là quyến thuộc của Đấng Chánh Biến Tri, ắt hẳn sẽ thân thiện với quả nhân và sẽ lui tới trong đền ngự.”.

Nghĩ vậy, Quốc vương phái sứ giả sang cầu hôn với dòng Thích Ca: “Khanh hãy đại diện cho trẫm, qua nạp sính lễ cầu hôn, xin cưới một Công chúa thuộc huyết thống Thích Ca rồi trở về đây phục lịnh.”,

Sứ thần lãnh mạng ra đi cầu hôn với dòng họ Thích. Tại thành Kapilavatthu, tất cả những vị tai mắt, đại diện cho hoàng tộc Thích Ca, đều được các Quốc vương triệu thỉnh nhóm đại hội dòng tộc biểu, để tham khảo ý kiến. Ai cũng cho rằng: “Vua Pasenadi không phải là dòng môn đăng hộ đối, dòng huyết thống ngang với chúng ta. Nhưng nếu chúng ta không nhận gả con cho y, thì y sẽ dấy động can qua, hưng binh đánh chiếm nước ta chẳng sai. Vậy ta nên làm gì bây giờ?”.

Đức vua Mahānāma (Đại Danh) bèn đề nghị rằng:

- Đứa con gái, tức thế nữ của trẫm, tên là Vāsabhakhattiya, có nhan sắc tuyệt đẹp, ta hãy đem gả cho vua ấy.

Giải pháp nầy được hoàng tộc Thích Ca chấp nhận. Đức vua bèn đáp lời cùng sứ giả: “Quả nhân vui lòng gả Công chúa cho Quốc vương.”.

Sứ giả tâu rằng: “Công chúa ấy là con vị vua nào?”.

- Công chúa là con gái của đức vua Mahānāma, là biểu đệ của Đức Chánh Biến Tri, mỹ hiệu là Vāsabhakhattiya.

Sứ thần về nước mang tin mừng nầy tâu lên vua Pasenadi. Đức vua phán: “Nếu vậy thì tốt lắm, khanh hãy qua nghênh đón Công chúa về đây cho mau. Nhưng hãy nên cẩn thận đề phòng, dòng Sát Đế Lỵ Thích Ca thường man trá. Sợ e đem con gái của bọn phi tần đấy. Khanh hãy nài cho được thấy Công chúa dùng cơm chung một mâm với phụ vương trong bữa ăn tiệc tiễn hành cho chắc ý, rồi sẽ rước về.”

Các sứ thần mai dong tuân lịnh vua Pasenadi ra đi, gặp vua Mahānāma thì tâu rằng:

- Tâu bệ hạ! Quốc vương của tôi muốn cho Công chúa được ngồi dùng cơm chung với Ngài trong bữa tiệc tiễn hành.

- Tốt lắm, nầy chư hiền sĩ.

Đoạn Quốc vương Mahānāma khiến Công chúa trang điểm hoàn bị, đến giờ ngự thiện thì dùng chung mâm với đức vua cho sứ thần trông thấy. Xong bữa, đức vua chuyển giao Công chúa cho sứ giả hộ giá vu qui.

Đưa dâu về đến thành Sāvatthī, các sứ giả tâu với Quốc vương các việc mình đã mục kích tận tường. Quốc vương cả đẹp bèn phong cho Công chúa làm Chánh hậu, chưởng quản một nhóm năm trăm cung phi.

Không bao lâu sao, chánh hậu hạ sanh được một hoàng nam, màu da sáng chói như vàng ròng, đến ngày lễ đặt tên cho hoàng tử, Quốc vương phán quan nội giám đến thỉnh ý hoàng Thái hậu.

- Công chúa Vāsabhakhattiya dòng Thích Ca, là chánh cung hoàng hậu vừa mới hạ sanh hoàng tử, Tổ mẫu ưng đặt tên gì cho cháu nội?

Quan Thái giám lãnh lịnh của Quốc vương là người có tật lãng tai, khi đến tư cung của hoàng Thái hậu, ông trình bày sứ mạng của ông xong, Thái hậu đáp rằng:

- Thái tử là con của hoàng hậu Vāsabhakhattiya, lúc chưa sanh cũng đã thu phục được lòng người rồi. Bây giờ đây chắc hẳn là được quốc vương sủng ái vô cùng vậy?

Viên nội giám lãng tai, nghe lầm tiếng Vallabha (Đắc Sủng) thành ra tiếng Viḍūḍabha (Lưu Ly), rồi in trí như thế, nên trở về tâu với Quốc vương:

- Tâu bệ hạ, xin bệ hạ đặt Thái tử tên là Viḍūḍabha.

Quốc vương nghĩ thầm: “Chắc đây là một tên rất xưa trong hoàng tộc trẫm.”. Nghe theo lời của viên nội giám lãng tai, Quốc vương đặt tên cho Thái tử là Viḍūḍabha.

Ngay từ khi thái tử còn ở tuổi thiếu niên, quốc vương muốn lấy lòng Đức Bổn Sư, đã phong thái tử làm chức Hàm đô thống đại nguyên soái.

Lúc mới bảy tuổi, thái tử Viḍūḍabha trông thấy các vương tôn hoàng tử đồng tuế được ngoại tổ gởi cho đồ chơi như hình voi, hình ngựa hoặc thứ nầy thứ nọ, thì hỏi mẹ:

- Mẫu hậu ơi! Sao mấy hoàng nam khác có ngoại tổ gởi đồ chơi đủ thứ, còn con không có ai gởi tặng món chi hết vậy? Bộ con không có ngoại tổ phụ mẫu hay sao?

Chánh hậu đáp rằng: “Nầy vương nhi con! Ngoại tổ của con là dòng Thích Ca, ở cách đây xa lắm, cho nên không gởi quà tặng cho con được.”.

Đến khi được mười sáu tuổi, thái tử Viḍūḍabha lại thưa với mẹ:

- Tâu mẫu hậu! Con muốn được về thăm dòng họ bên ngoại.

Chánh hậu gạt ngang, bảo rằng:
- Thôi vương nhi! Con về bên ấy mà làm gì?

Thái tử cứ theo mẹ mà van xin mãi. Sau cùng Chánh hậu phải chìu theo: “Vương nhi muốn đi thì con cứ đi.”.

Chánh hậu Vāsabhakhattiya khiến người mang thơ đi trước thái tử về báo tin cho vua Mahānāma hay, nói rằng: “Con ở đây vẫn bình yên, xin hoàng tộc Thích Ca đừng lộ vẻ gì khác biệt với chồng con, đừng cho thái tử cùng quan hộ giá trông thấy.”.

Hoàng tộc Thích Ca hay tin thái tử Viḍūḍabha sắp đến Kapilavatthu, thì thương nghị cùng nhau và quyết định rằng:

- Không thể để cho con cháu chúng ta đảnh lễ, chào đón nó.

Thế là bao nhiêu hoàng tôn, thái tử nhỏ tuổi hơn thái tử Viḍūḍabha đều được gởi về miền quê đổi gió. Các vị lớn tuổi ở lại tập trung nơi tòa khách thính trong thành Kapilavatthu.

Thái tử Viḍūḍabha được đưa vào thành, khi đứng trước các vị ấy, họ tự giới thiệu rằng: “Nầy vương nhi, đây là ngoại tổ của con. Đây là cửu phụ của con.”.

Thái tử đảnh lễ ra mắt tất cả mọi người xong, không thấy có ai đảnh lễ lại mình, thì hỏi rằng:

- Sao không ai đảnh lễ con hết vậy?

Quyến thuộc Thích Ca trả lời rằng:

- Nầy vương nhi! Các thái tử hoàng tôn tuổi nhỏ hơn con mắc về quê cả rồi.

Và họ sắp đặt tiệc đãi đằng hoàng tử Viḍūḍabha rất trọng hậu. Thái tử lưu lại Kapilavatthu vài ba hôm chơi, rồi tạ từ dòng họ Thích Ca lên đường về xứ.

Khi ấy, các cung nữ đến dọn dẹp quét tước ngôi khách thính, lấy sữa tươi rửa cẩm đôn, nơi mà hoàng tử Viḍūḍabha đã ngồi, vừa rửa vừa mắng rằng: “Đây là chỗ ngồi của con trai cung nữ Vāsabhakhattiya.”. Bất ngờ thay, có một viên tùy tướng của thái tử bỏ quên khí giới, nên trở lại khách thính lấy, y nghe được những lời nầy, bèn gạn hỏi rõ nguyên nhân, mới biết rằng: “Chánh hậu Vāsabhakhattiya tuy là con của đức vua Mahānāma dòng Thích Ca, nhưng mẹ nàng lại là một cung nữ.”.

Viên tùy tướng đem chuyện nầy thuật lại cho quân sĩ nghe. Thế là, trong sĩ tốt có tiếng xôn xao, đồn rằng: “Bà Vāsabhakhattiya là con gái của một cung nữ.”. Thái tử Viḍūḍabha nghe rõ câu chuyện, chàng căm tức dòng họ Thích Ca, thề rằng: “Mặc cho bọn nó giỏi lấy sữa tươi mà rửa chỗ ngồi của ta, khi nào lên làm vua ta sẽ lấy máu cổ họng chúng nó mà rửa lại chỗ ấy.”.

Khi thái tử về đến thành Sāvatthī, các quan tùy giá thuật lại sự tích ấy do cung nữ Kapilā (Vệ Kim Thành) đã thổ lộ, nguồn gốc của chánh hậu lên đức vua Pasenadi. Quốc vương rất căm thù dòng họ Thích Ca, nghĩ rằng: “Bọn nầy đã mạo muội gả con gái cung nhân cho trẫm.”.

Quốc vương hạ lịnh tước đoạt phẩm vị của Chánh cung hoàng hậu và Đông cung thái tử, biếm xuống làm cung nhân.

Cách mấy hôm sau, Đức Bổn Sư ngự vào hoàng cung, an ngự vào chỗ ngồi soạn sẵn, quốc vương bèn đảnh lễ Ngài và bạch rằng: “Bạch Ngài, quả nhân xin cho Ngài hay biết các quyến thuộc của Ngài đã mạo hôn, gả con gái cung nữ cho quả nhân, vì vậy, cho nên quả nhân đã tước hết phẩm vị Chánh hậu và Đông cung thái tử, cho làm cung nhân, nô tỳ vì phận vị ấy hợp với họ.”.

Đức Bổn Sư phán rằng: “Tâu đại vương, việc nầy rất oan uổng cho họ, Chánh hậu đã được dòng Thích Ca nhìn nhận ngang hàng mới đem gả cho đại vương. Như Lai xác nhận việc nầy. Đại vương, mẫu hệ không nghĩa lý gì, chỉ có phụ hệ là đáng kể mà thôi.

Như bậc hiền trí thuở xưa đã phong cho một thiếu nữ bần hàn đi mót củi khô lên làm chánh hậu, thái tử do nàng ấy sanh ra về sau lãnh tụ, là vị chúa tể thống trị cả quốc độ Bārāṇasī rộng đến mười hai do tuần, có danh hiệu là Kaṭṭhavāhanarāja (Tiều Phu Vương).

Nhân dịp nầy, Đức Bổn Sư thuật tích Bổn Sanh Nữ tiều phu (Kaṭṭhahāriyajātaka).

Quốc vương Pasenadi nghe pháp rồi, công nhận chỉ có phụ hệ là đáng kể nên phát tâm hoan hỷ, bèn truyền lịnh ân xá chánh hậu và thái tử, cho phục hồi cựu vị.

Nói về đô thống tướng quân Bandhula kết hôn với Công chúa Mallikā (Mạt Lỵ), là con vua xứ Malla, đã lâu ngày không có con. Gia tộc Bandhula kết tội nàng là “vô hậu”, nên đuổi Công chúa trở về cố quốc. Công chúa định đến bái biệt Đức Bổn Sư rồi sẽ lên đường. Vào Tinh xá Jetavana, Công chúa đảnh lễ Đức Như Lai rồi đứng qua một bên. Đức Bổn Sư phán hỏi:

- Con đi đâu đây?

- Bạch Ngài, con trở về sanh quán.

- Tại sao vậy?

- Bạch Ngài, vì con hiếm muộn, chồng con kết tội vô hậu, nên đuổi về xứ.

- Nếu thế thì con khỏi cần đi về quê, con hãy trở lại nhà chồng.

Công chúa mừng rỡ, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi trở gót về nhà Thống soái Bandhula, Bandhula hỏi nàng rằng:

- Tại sao nàng trở lại?

- Đức Thập Lực bảo thiếp trở lại.

Đại Tướng quân Bandhula bằng lòng cho vợ ở lại và nghĩ: “Chắc Đức Thập Lực tiên tri, thấy được vị lai. Thôi ta hãy ráng chờ xem.”.

Quả thật, chẳng bao lâu Công chúa thọ thai, sanh chứng ốm nghén, thèm khát không chịu đựng được, bèn tỏ thật cùng chồng. Tướng quân Bandhula hỏi: “Nàng thèm món chi?”.

- Thưa tướng quân, tại kinh đô Vesālī, trong ngự uyển của vương tộc Licchavī, có hồ sen mà họ dành dùng làm lễ tôn vương. Thiếp thèm tắm rửa và uống nước trong hồ ấy.

Tướng quân Bandhula nói: “Được.”. Đoạn Đại tướng lấy chiếc cung thần có sức mạnh gấp ngàn lần cung nỏ thường đeo lên vai. Gióng xe ra khỏi thành Sāvatthī, nhắm ngay thành Vesālī tiến tới và đột nhập vào thành Vesālī, do cửa của Thái tử Mahāli trấn giữ. Tư dinh của Thái tử Mahāli gần cửa kinh thành, Mahāli nhủ thầm: “Đây là tiếng xe của Tướng quân Bandhula. Hôm nay chắc các vua dòng Licchavī phải kinh tâm tán đởm.”.

Các hồ cấm có hộ vệ quân trấn giữ, phòng thủ trong ngoài cẩn mật. Trên mặt hồ có lưới nhặt mắt, bao phủ kín mít một con chim nhỏ chui qua cũng không lọt.

Thế mà, Đô thống tướng Bandhula xuống xe tuốt gươm đánh đuổi lực lượng phòng vệ thật mau lẹ, chém đứt lưới đồng bao phủ mặt hồ, dìu vợ xuống tắm dưới hồ. Khi Công chúa tắm xong và uống nước thỏa mãn rồi, Tướng quân cũng tự mình xuống tắm.

Xong rồi, Đại tướng lái xe vượt qua khỏi thành Vesālī lên đường trở về bổn quốc.

Quân lính giữ ao hồ báo tin cho các vua Licchavī, các vua nổi giận, thắng năm trăm cỗ chiến xa, tức tốc dẫn binh xông ra khỏi thành, quyết theo bắt cho được Bandhula và Mallikā.

Các vua ghé vào dinh của Mahāli để cho biết ý định thì Thái tử cản rằng: “Thôi chư vương, đừng đuổi theo. Bandhula sẽ giết sạch chư vương, không sót một mạng.”.

Các vua đồng thanh nói:
- Dầu sao chúng tôi cũng sẽ rượt theo hắn.

Mahāli dặn rằng: “Nếu vậy, chư vương nên lưu ý đề phòng. Hễ khi nào trông thấy bánh chiến xa của y lún xuống tới bùn thì nên thu quân trở lại. Nếu không, khi chư vương tiến tới mà nghe tiếng nổ vang như sấm, lúc ấy nên lui binh, bằng không chư vương sẽ thấy các đầu chiến xa của mình đứt đoạn nát tan. Đến đây, chư vương không nên liều lĩnh tiến xa hơn nữa mà nguy đến tánh mạng.”.

Các vua Licchavī bất chấp lời khuyên ngăn của Thái tử Mahāli, đem hết toàn lực đuổi theo Bandhula Tướng quân. Công chúa Mallikā nhìn lại phía sau lưng, thấy bụi bay mù mịt, nàng nói với chồng: “Thưa phu tướng, hình như có nhiều chiến xa đuổi theo chúng ta.”.

- Nếu vậy, nàng hãy nhìn cho kỹ, chừng nào thấy chiếc xe đầu tiên rõ rệt thì hãy bảo ta.

Khi thấy tất cả đoàn xe hiện ra như một chiếc xe giữa đám bụi mù. Công chúa Mallikā bảo chồng:

- Thưa phu tướng, giờ thiếp thấy rõ như một cái đầu xe.

Tướng quân Bandhula trao dây cương ngựa qua cho vợ, dặn rằng: “Nếu vậy, nàng hãy cầm giữ dây cương nầy, lái xe cho đi thẳng đường, để một mình ta đối phó với họ.”.

Nói rồi Bandhula lấy thế đứng vững trên xe, lắp sẵn tên vào chiếc cung thần.

Khi thấy chiếc chiến xa của tướng Bandhula bị lún bánh xuống tới bùn, các vua thấy vậy cũng chẳng lui bước. Tướng quân Bandhula cho xe mình đi một quãng đường ngắn rồi giơ tay búng dây cung thần, một tiếng nổ vang trời vang lên như tiếng sấm. Các vua Licchavī nghe vậy cũng chẳng nao núng mà còn đuổi theo rất gấp. Bandhula đứng trên xe bắn mũi tên, mũi tên ấy đâm lủng đầu năm trăm cỗ chiến xa địch, xuyên qua mình năm trăm vua Licchavī ngay chỗ dây ngọc đái, rồi cắm phập xuống đất; các vua Licchavī không hay rằng mình đã trúng tên địch, hăng hái xông tới thét lớn: “Tiểu tốt vô danh, có giỏi thì đứng đó đừng chạy.”.

Bandhula dừng xe lại, đợi các vua Licchavī đến gần mắng rằng: “Đồ chết bắn, ta không thèm giao chiến với những xác chết đâu.”.

Các vua Licchavī bảo: “Ngươi hãy xem cho kỹ, chúng ta không phải là những xác chết.”.

Bandhula nói: “Tất cả các ngươi đồng chung số phận, các ngươi hãy cởi mở ngọc đái của tên thủ lãnh ra xem.”.

Các vua Licchavī vừa mở dây ngọc đái của tên thủ lãnh thì vị nầy ngã xuống chết.

- Tất cả các ngươi đều đồng chung số phận với tên đầu lãnh, mỗi người hãy trở về nhà sắp đặt việc hậu sự, từ giã vợ con quyến thuộc, rồi hãy cởi bỏ khôi giáp.

Bandhula đưa Công chúa Mallikā về thành Sāvatthī. Từ đó về sau, Công chúa sanh mười sáu lần sanh đôi con trai. Tất cả đều là những tay vũ dũng, có đởm lược anh hùng, đến tuổi trưởng thành đều am tường lục thao tam lược, mỗi chàng đền có ngàn sĩ tốt bộ hạ. Mỗi lần Bandhula tướng quân về triều yết kiến quốc vương, các công tử và bộ hạ đi theo vào đứng chật cả sân rồng trong đền ngự.

Một hôm, các quan tòa xử án, nhiều người vì bị xử hiếp trong một vụ kiện, trông thấy tướng quân Bandhula đi tới, la ó lên, phản đối các thẩm phán thiên vị và cậy nhờ tướng quân can thiệp. Bandhula tướng quân vào đến giữa tòa, minh xét lại bản án, làm cho rõ ngay gian và giúp cho người sở hữu chủ được thắng kiện. Quần chúng dự thính hoan hô vang dậy.

Quốc vương nghe tiếng reo hò phán hỏi thị thần: “Chuyện chi thế?”. Khi biết rõ nguyên do, Quốc vương rất hài lòng, giáng chức các quan tòa cũ và bổ nhậm Bandhula cầm đầu Tam pháp y. Từ ngày nhậm chức mới, Bandhula xử đoán rất công minh. Các vị tài phán bị cách chức, mất cả danh lợi đâm ra thù ghét Bandhula, nên kiếm chuyện đâm thọc với hoàng thân quốc thích, tuyên truyền rằng: “Bandhula âm mưu tạo phản.”.

Quốc vương nghe các quyến thuộc tâu vào tâu ra mãi, cũng mắc kế của bọn gian thần, sanh tâm nghi ngờ người bạn cố tri, muốn tru lục cha con Bandhula để trừ hậu hoạn.

- Nếu trẫm ra lịnh hành quyết ngay tại nơi đây, ắt là mang tiếng người đời chê trách.

Quốc vương liền mật sai những tướng quân tâm phúc giả làm quân phiến loạn, đánh phá nơi biên thùy. Đoạn triệu tướng Bandhula vào triều phán rằng:

- Có tin biên thùy dấy loạn, trẫm phú cho hiền đệ và các hiền điệt đi tiểu trừ và bắt cho được bọn cướp thảo khấu ấy.

Tướng quân lãnh mạng ra đi, không ngờ Quốc vương ngầm sai những tướng tài khác đi kèm theo với mấy cha con, với lịnh truyền rằng: “Chém đầu Bandhula với ba mươi hai công tử, đem thủ cấp về đây.”.

Trong lúc đội binh mã rầm rộ kéo đi ra biên thùy. Bọn khấu tặc nghe tin Đô thống tướng Bandhula xuất chinh, bèn tan rã hàng ngũ, bỏ chạy trước. Tướng quân vào thành lập lại trật tự vỗ an bá tánh, xong rồi kéo đại binh trở về gần tới kinh đô, các tướng sĩ lãnh lịnh vua thi hành bản án tử hình. Bắt hết cha con tướng quân Bandhula xử trảm một lượt.

Hôm ấy, nhằm ngày Công chúa Mallikā cung thỉnh hai vị Thượng Thinh Văn và năm trăm Tỳ khưu đến soái phủ thọ thực. Vào buổi sáng hôm ấy, công chúa nhận được thư báo của gia nhân: “Chồng và các con đã bị xử trảm.”. Được biết hung tin công chúa vẫn lặng thinh, nhét phong thơ vào trong vạt áo, lo việc hộ độ chư Tăng, như không có việc gì quan hệ xảy xa, khi ấy bọn nữ tỳ của Công chúa, sau khi dâng cơm đến chư Tỳ khưu, đang bưng cái bình sanh tô (bơ tươi) đến trước hai vị Đại đức thì sút tay, buông rơi cái bình xuống nền bể nát.

Đức Sārīputta nói an ủi rằng:

- Của tạm bợ vô thường, lỡ bể thì thôi, chẳng nên ân hận.

Công chúa Mallikā liền lật vạt áo lên, lấy phong thơ đưa ra và nói: “Bạch Ngài, ba mươi hai đứa con trai và cha nó vừa bị xử trảm, khi được người nhà đưa thư báo tin nầy, đệ tử đọc rồi còn chẳng ân hận, huống chi là việc bể cái bình sanh tô mà đệ tử ân hận hay sao?”

Đức Tướng quân Chánh pháp liền thuyết lên kệ ngôn rằng:

“Animittamanaññātaṃ,
Maccānaṃ idha jīvitaṃ;
Kasirañca parittañca,
Tañca dukkhena saṃyuttanti.”
“Sanh tử không kỳ hạn,
Tuổi thọ khó tiên đoán.
Đời tồi tệ nhỏ nhen,
Đầy khổ đau hoạn nạn.”

Kế đó, Đại đức thuyết tiếp một thời pháp, rồi đứng lên rời Soái phủ, trở về Tinh xá.

Công chúa cho gọi hết ba mươi hai cô dâu đến phán dạy rằng:

- Chồng các con phải chết vì tay người khác, chẳng qua là trả quả của nghiệp tiền khiên, các con chớ nên buồn rầu khóc lóc, cũng đừng đem lòng oán hận đức vua.

Các thám tử của quốc vương nghe được những lời nầy, nên về tâu lên quốc vương việc các quả phụ không đem lòng oán hận Ngài. Nghe vậy, quốc vương sanh tâm kinh cảm, ngự đến tư dinh của công chúa Mallikā để xin chịu lỗi với công chúa và các nàng dâu góa bụa, xong rồi ban cho công chúa một ân huệ.

Công chúa tâu: “Thần thiếp xin nhận lãnh ân huệ của bệ hạ.”.

Sau khi quốc vương ngự giá về cung, công chúa cử hành tang lễ, trai Tăng cầu siêu, đoạn tắm gội sạch sẽ vào triều yết kiến quốc vương:

- Tâu đại vương! Bệ hạ hứa ban ân huệ, nhưng thần thiếp không cầu mong việc chi khác, ngoài việc xin bệ hạ gia ân cho thần thiếp và ba mươi hai con dâu được trở về xứ sở quê hương.

Quốc vương chuẩn tấu. Công chúa sắp đặt cho ba mươi hai nàng dâu ai về nhà nấy, riêng mình cũng lên đường trở về quê quán trong thành Kusinārā.

Quốc vương ấn phong cháu trai của tướng quân Bandhula là Dīghakārāyana (Trường Lao) làm Đô thống đại Nguyên soái.

Nhưng Dīghakārāyana căm thù quốc vương đã xử trảm Bandhula nên hằng chờ cơ hội để trả thù cho cậu mình.

Lúc bấy giờ, Đức Bổn Sư đang ngự trong thị trấn Meḍalapa của dòng Thích Ca, quốc vương ngự giá đến đó, an dinh hạ trại cách chùa không bao xa, đoạn rời khỏi đại quân tùy giá vào chùa đảnh lễ Đức Bổn Sư, trước khi vào hương thất một mình, quốc vương cởi hết những phù hiệu của nhà vua (mão, hia, kiếm, trướng và hốt), giao cho Dīghakārāyana gìn giữ (đoạn nầy trong kinh Dhammacetiya sutta (Pháp Tháp) trong Trung Bộ Kinh có giải rõ từng chi tiết).

Thừa lúc quốc vương Pasenadi vào trong hương thất, Dīghakārāyana lấy hết phù hiệu vương vị, tôn Thái tử Viḍūḍabha lên làm vua, kéo rốc toàn quân trở về thành Sāvatthī, chỉ chừa lại cho quốc vương một con ngựa già và bà thế nữ hầu hạ vua mà thôi.

Sau khi đàm đạo thân ái với Đức Bổn Sư, quốc vương đảnh lễ Ngài trở ra, không thấy binh lính, hỏi bà thế nữ mới tỏ rõ mọi sự. Quốc vương nghĩ thầm: “Quả nhân phải nhờ Vương sanh (cháu kêu Ngài bằng dượng, tức là vua Ajātasattu) tiếp viện mà bắt Viḍūḍabha mới được.”.

Khi quốc vương Pasenadi đến thành Rājagaha thì đã quá giờ lưu thông, các cổng thành đều đóng kín. Quốc vương buộc lòng phải nghỉ đỡ trong một ký túc xá. Cả ngày đi nắng lại bị trúng gió cảm sương, quốc vương thăng hà vào lúc nửa đêm. Thế nữ theo hầu đức vua khóc lóc thở than:

- Bệ hạ ơi! Bệ hạ là chúa của toàn dân xứ Kosala, mà sao phải chọn nằm cô quạnh lạnh lùng…

Khi đêm tàn, trời hừng sáng, nhiều người nghe tiếng nức nở của bà thế nữ, hỏi ra mới biết là đức vua Pasenadi thăng hà ở nơi quán trọ ngoài thành, bèn vào báo tin với quốc vương Ajātasattu, quốc vương bèn ra lịnh hỏa táng một cách trọng thể, y theo nghi lễ tống chung của bậc đại vương.

Thái tử Viḍūḍabha sau khi tức vị, nhớ lại mối hận ngày xưa, bèn chiêu tập binh mã, kéo hết đại binh ra khỏi thành Sāvatthī, trong tâm tính rằng: “Trẫm sẽ tận sát dòng Thích Ca.”. Ngày ấy, lúc quán sát thế gian trong buổi sáng, Đức Bổn Sư thấy rằng dòng họ Thích Ca của Ngài sắp bị tiêu diệt. Ngài tự nghĩ: “Như Lai phải đi về độ tông tộc mới được.”. Thế rồi, trong buổi sáng Ngài đi khất thực, độ xong bữa, Ngài trở về hương thất. Buổi trưa, Ngài nằm thiền, nghiêng mình về phía phải như con hùng sư, và buổi xế Ngài bay đến Kapilavatthu, an tọa dưới một gốc cây có bóng mát loang lổ, nơi giáp ranh hai nước.

Phía bên kia ranh thuộc lãnh thổ của Viḍūḍabha có cây đa to, tàn nhánh rậm rạp có nhiều bóng mát.

Vừa trông thấy Đức Bổn Sư, vua Viḍūḍabha vội đến gần Ngài đảnh lễ và bạch rằng:

- Bạch Ngài ! Trong lúc nắng nôi thế nầy, sao Ngài lại ngồi chi dưới gốc cây có bóng râm loang lổ, xin thỉnh Ngài qua ngồi bên gốc cây đa to có nhiều bóng mát, ở đằng kia.

Đức Bổn Sư đáp rằng: “Tâu đại vương! Bóng râm của thân quyến bao giờ cũng mát mẻ.”.

Nghe vậy, đức vua Viḍūḍabha nghĩ rằng: “Chắc Đức Bổn Sư ngồi đây để bảo vệ gia quyến của Ngài.”. Đức vua đảnh lễ rồi cáo từ Đức Bổn Sư và thâu binh trở về Sāvatthī. Đức Bổn Sư cũng đứng dậy bay về Jetavana.

Quốc vương Viḍūḍabha không thể quên được mối hận thù đối với dòng Thích Ca, xuất binh lần thứ hai đến chỗ giáp ranh hai nước, cũng gặp Đức Bổn Sư như lần trước, nên lại thu quân trở về. Đến lần thứ ba đức vua lại xuất binh, lại gặp Đức Bổn Sư nơi đó và lại thu quân trở về một lần nữa.

Đến lần xuất binh thứ tư của vua Viḍūḍabha, Đức Bổn Sư không can thiệp để cứu quyến thuộc của Ngài nữa. Vì Ngài quán thấy ác nghiệp của họ ở tiền kiếp, đã bỏ thuốc độc xuống dòng sông thuốc cá chết, nay quả tới thời trổ quả rồi, không thể che chở cứu vãn được nữa.

Với quyết tâm: “Trẫm sẽ tận diệt dòng họ Thích Ca.”, Viḍūḍabha đem đại đội hùng binh ra đi, không còn bị Đức Bổn Sư cản trở. Quyến thuộc của Đức Bổn Sư kiên trì giữ giới sát sanh, thà chịu chết chớ không dám xuống tay giết hại kẻ khác, nghe tin địch quân kéo đến, họ nghĩ ngay rằng: “Chúng ta là những tay thiện xạ bá phát bá trúng, nhưng ta không thể phá giới mà giết hại địch quân, ta chỉ nên bắn dọa cho họ sợ mà chạy thôi.”.

Thấy tên bắn như mưa, vua Viḍūḍabha bảo các tùy tướng:

- Các khanh nghĩ sao? Có phải dòng Thích Ca giữ giới không sát sanh, thế mà bây giờ họ giết hại binh sĩ của trẫm.

Khi ấy, một tùy tướng tâu rằng:

- Tâu chúa thượng, vì sao chúa thượng lại lui quân?

- Dòng Thích Ca giết hại binh sĩ của trẫm.

- Ba quân tướng sĩ không có ai bị thương cả. Xin chúa thượng hãy cho kiểm lại quân sĩ xem.

Khi kiểm lại quân sĩ, không thấy thiệt mạng ai cả, vua Viḍūḍabha lại truyền lịnh tấn công và dặn rằng:

- Nầy ba quân tướng sĩ! Các khanh hãy giết sạch những kẻ nào nhận là dòng Thích Ca, trừ những ai đứng gần ngoại tổ của trẫm là vua Mahānāma, thì các khanh hãy dung tha mạng sống cho họ.

Quân binh của Viḍūḍabha phá cửa thành Kapilavatthu tuôn vào như nước vỡ bờ, đi lục soát bắt dòng Thích Ca để tru lục. Có nhiều người không cam tâm chịu chết vô cớ, bèn cắn cỏ hoặc cầm lau sậy đứng chực sẵn. Hễ quân nghịch đến hỏi: “Ngươi có phải là dòng họ Thích Ca không?” Thì nhóm cắn cỏ đáp: “Không phải Thích Ca, cỏ.” (No sāko tiṇanti), còn nhóm cầm lau thì đáp: “Không phải Thích Ca, vi lô.” (No sāko naḷoti). Quân lính ngoại quốc nghe không rành, tưởng họ phủ nhận dòng Thích Ca, nên không hạ sát họ, các người nầy dầu có chết cũng không dám phạm giới nói dối, nên đã dùng mẹo khéo nói trớ như vậy mà được sống sót (tiếng Phạn Sāka là rau, đọc mường tượng như Sākya là Năng Nhân Thích Ca), cả những người chạy theo đứng gần với vua Mahānāma cũng được tồn sanh. Do đó, về sau có danh từ Thảo Thích Ca (Tiṇasākiya) để chỉ những người cắn cỏ và danh từ Vi lô Thích Ca (Naḷasākiya) để chỉ nhóm người đứng cầm lau.

Ngoài ba nhóm kể trên, tất cả hoàng tộc Thích Ca dầu là trẻ con còn bú cũng không toàn mạng. Vua Viḍūḍabha ra lịnh cắt cổ họ đem dội máu lên cẩm đôn mà mình đã ngồi khi trước.

Tông tộc Thích Ca đã bị vua Viḍūḍabha tru lục như thế, vua Viḍūḍabha ra lịnh bắt vua Mahānāma đem theo làm tù binh rồi mới rút lui trở về nước.

Đến giờ sáng vua Viḍūḍabha đình bộ, xuống một nơi thung lũng nghỉ, cho quân hầu bưng cơm và khiến người đi thỉnh ông ngoại đến để cùng ngồi ăn chung một mâm.

Dòng Sát Đế Lỵ thà bỏ mạng chớ không bao giờ chịu ngồi ăn chung mâm với con trai của thế nữ, cho nên vua Mahānāma nhìn xuống một ao hồ và nói:

- Nầy vương điệt, mình trẫm lấm lem cát bụi, để trẫm đi tắm đã.

- Vâng, ngoại tổ hãy đi tắm đi.

Vua Mahānāma nghĩ thầm: “Nếu ta không ngồi ăn chung với thằng nầy, thì chắc chắn nó sẽ giết chết ta, thà là ta tự sát cho rồi.”.

Vua bèn xả búi tóc ra, cột thắt gút phía ngọn tóc, đoạn xỏ hai chân vào cái nồi, rồi nhảy ùm xuống nước. Do oai lực cao độ của vua Mahānāma, thủy cung của loài rồng phát hiện, Long vương tự hỏi: “Có chuyện gì thế?”. Khi quán thấy được nguyên nhân, Long vương liền rước vua Mahānāma để ngồi trên mang của mình rồi đưa về thủy cung. Vua Mahānāma lưu trú nơi đây trong mười hai năm trường.

Vua Viḍūḍabha ngồi chờ ngoại tổ đã lâu, bèn khiến quân lính túa đi tìm kiếm dưới nước trên bờ, đến tối cũng không thấy, thắp đuốc soi đường mà tìm cũng chẳng thấy được nhà vua mất tích. Sau cùng, vua Viḍūḍabha cho rằng vua Mahānāma đã trốn thoát, nên rút quân lên đường, đại binh đến sông Aciravatī vào lúc ban đêm, nên chia làm hai đội, đóng trại nghỉ tại bờ sông, một đội ngủ trên cồn cát dưới sông, một đội thì ngủ trên bờ cao. Những người ngủ tại cồn cát mà không tạo ác nghiệp thì bị kiến cắn thức dậy la lên: “Chỗ tôi nằm bị kiến cắn.”, thế là họ lên trên bờ cao mà nằm. Còn những người nằm ở trên bờ cao mà tạo ác nghiệp nặng cũng bị kiến cắn, họ thức dậy la rằng: “Chỗ tôi nằm có kiến.”, và họ lại đi xuống cồn cát mà nằm. Ngay lúc ấy, mây đen kéo mù mịt, mưa tuôn như thác đổ, nước sông dâng lên trong nháy mắt, ngập lụt cả bờ sông, cuốn vua Viḍūḍabha cùng đoàn quân ngủ trên cồn cát đưa luôn ra biển. Tất cả những người tạo ác trọng nghiệp đều làm mồi cho cá và rùa.

Đại chúng Tỳ khưu đề khởi lời nghị luận rằng:

- Dòng Thích Ca bị diệt vong quả thật là oan uổng, khi không bị bọn người khát máu, cho rằng dòng Thích Ca đáng bị tru lục, rồi gặp ai chém nấy. Như thế thật là phi lý bất công.

Đức Bổn Sư nghe được lời đàm thoại của chư Tỳ khưu, bèn dạy rằng:

- Nầy chư Tỳ khưu ! Trong kiếp hiện tại, dòng Thích Ca bị diệt vong như thế là bất xứng, nhưng không có gì oan uống vì họ chỉ gặt hái cái quả tương xứng với ác nghiệp mà họ đã tạo ra trong dĩ vãng mà thôi.

- Bạch Ngài ! Dòng họ Thích Ca đã tạo nghiệp gì trong dĩ vãng?

- Trong dĩ vãng, họ đã vầy thành đoàn, xuống sông bỏ thuốc độc làm cho cá và rùa chết thật nhiều, do cộng nghiệp ấy mà dòng Thích Ca phải bị tiêu diệt như vậy.

Qua ngày sau, chư Tỳ khưu lại nhóm trong giảng đường và đề khởi pháp thoại như vầy:

- Vua Viḍūḍabha hạ sát cả dòng họ Thích Ca, trở về không đến được xứ. Vì nuôi tham vọng quá mức mà dắt dẫn cả bao nhiêu người đi theo làm mồi cho cá và rùa ở dưới biển sâu.

Đức Bổn Sư ngự đến giảng đường, phán hỏi rằng:

- Nầy các Tỳ khưu ! Các ông đang hội thảo về việc chi vậy?

Chư Tăng đáp: “Bạch Ngài, chuyện như vầy…”.

- Nầy các Tỳ khưu ! Cũng như dòng nước lũ ngập lụt cả xóm làng đang mê ngủ, tử thần bắt những chúng sanh nầy trong lúc họ còn ôm ấp tham vọng chưa thỏa mãn, cắt đứt mạng căn của họ, nhận chìm họ xuống biển tứ ác đạo vậy.

Nói xong, Đức Bổn Sư thuyết kệ rằng:
“Pupphāni h'eva pacinantaṃ,
Byāsattamanasaṃ naraṃ;
Suttaṃ gāmaṃ mahogho'va,

Maccu ādāya gacchati.”
“Kẻ mãi hái hoa ngũ trần,
Tâm còn mê vọng, tử thần bắt đi.
Như làng xóm ngủ li bì,
Nửa đêm bị nước cuốn đi thình lình.”

CHÚ GIẢI:

Trong bài kệ Phạn Ngữ, câu byāsattamanasaṃ nghĩa là: Tâm còn lưu luyến đến chỗ đã đến, hoặc đến chỗ chưa đến cũng như thợ làm tràng hoa, vào hoa viên để hái hoa, tuy còn đang hái ở đây mà tâm đã vọng tưởng đến chỗ khác, người ấy đưa tâm đi chu du khắp vườn hoa, dự định hái hết chỗ nầy sang qua chỗ kia, vừa đi vừa hái hoa, vừa để tâm lông bông như thế nào, thì cũng như thế ấy, người say mê, đắm nhiễm ngũ trần, khi chiếm hữu một bông hoa biết nói, có một nhan sắc ưa nhìn, hoặc có thinh, hương, vị, xúc vừa lòng đẹp ý rồi, cũng còn hướng tới mơ ước những bông hoa khác nữa, người ấy chưa hề biết đủ và còn thả tâm hồn đi lông bông theo các bông hồng xa lạ. Cũng đồng một nghĩa như trên, đối với người thế thì bông hoa ấy là bò, trâu, tôi tớ, trai gái, ruộng vườn, làng, xứ, quận chẳng hạn, còn đối với bậc xuất gia thì là cốc liêu, tịnh thất, y, bát chẳng hạn, đó là những bông hoa có tên là ngũ trần dục lạc mà người mải mê thâu nhặt hết chỗ nầy đến chỗ khác, là người tâm còn vọng tưởng ngũ trần vậy.

Suttaṃ gāmaṃ (làng ngủ say), không phải là đồ vật trong làng như nhà cửa, vách phên… ngủ mà gọi là làng ngủ say, đây là nói về những chúng sanh như người và súc vật đang ngủ yên giấc lúc ban đêm, làng ngủ bị tử thần là nước dâng lên ngập lụt cả hai ba do tuần cả chiều dài lẫn chiều sâu bị lôi cuốn đem đi.

Cũng như thế ấy, tử thần là dòng nước lũ, lôi cuốn tất cả chúng sanh trong làng không sót một ai, dầu là đàn ông hay đàn bà, bò, trâu, gà, vịt chi cũng bị đưa ra biển làm mồi cho cá và rùa, thì sự tử vong cũng vậy, nó bắt những kẻ đang mê vọng ngũ trần, cắt đứt mạng căn của mình, kẻ ấy bị nhận chìm xuống biển tứ ác đạo.

Khi thời pháp chấm dứt, nhiều vị Tỳ khưu chứng đắc Thánh quả, nhứt là Sơ quả. Đại chúng thính pháp cũng đều hưởng được sự lợi ích.

Vì chút tư thù khởi chiến tranh,
Lưu Ly Vương tạo nghiệp không lành.
Làn tên hữu ý dầu miễn tử,
Núi kiếm vô tình chẳng phóng sanh?
Máu đỏ loang hồng tòa khách sảnh,
Lòng son tô thắm đất Kim Thành.
Diệt dòng giới vức vui chưa trọn,
Bụng cá vùi thây chẳng hổ danh.

DỨT TÍCH VUA VIḌŪḌBHA

Viṭaṭūbhavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Pupphāniheva pacinantanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā sāvatthiyaṃ viharanto saparisaṃ mahoghena ajjhottharitvā māritaṃ viṭaṭūbhaṃ ārabbha kathesi.

Tatrāyaṃ anupubbikathā – sāvatthiyañhi mahākosalarañño putto pasenadikumāro nāma. Vesāliyaṃ licchavirañño putto licchavikumāro mahāli nāma, kusinārāyaṃ mallarājaputto bandhulo nāmāti ime tayo disāpāmokkhassācariyassa santike sippuggahaṇatthaṃ takkasilaṃ gantvā bahinagare sālāya samāgatā aññamaññassa āgatakāraṇañca kulañca nāmañca pucchitvā sahāyakā hutvā ekatova ācariyaṃ upasaṅkamitvā sippaṃ sikkhantā na cirasseva uggahitasippā ācariyaṃ āpucchitvā ekatova nikkhamitvā sakasakaṭṭhānāni agamaṃsu. Tesu pasenadikumāro pitu sippaṃ dassetvā pasannena pitarā rajje abhisitto. Mahālikumāro licchavīnaṃ sippaṃ dassento mahantena ussāhena dassesi, tassa akkhīni bhijjitvā agamaṃsu. Licchavirājāno “aho vata amhākaṃ ācariyo akkhivināsaṃ patto, na naṃ pariccajissāma, upaṭṭhahissāma na”nti tassa satasahassuṭṭhānakaṃ ekaṃ dvāraṃ adaṃsu. So taṃ nissāya pañcasate licchavirājaputte sippaṃ sikkhāpento vasi. Bandhulakumāro saṭṭhiṃ saṭṭhiṃ veḷū gahetvā majjhe ayasalākaṃ pakkhipitvā saṭṭhikalāpe ussāpetvā ṭhapite mallarājakulehi “ime kappetū”ti vutto asītihatthaṃ ākāsaṃ ullaṅghitvā asinā kappento agamāsi. So osānakalāpe ayasalākāya “kirī”ti saddaṃ sutvā, “kiṃ eta”nti pucchitvā sabbakalāpesu ayasalākānaṃ ṭhapitabhāvaṃ ñatvā asiṃ chaḍḍetvā rodamāno “mayhaṃ ettakesu ñātisuhajjesu ekopi sasineho hutvā imaṃ kāraṇaṃ nācikkhi. Sace hi ahaṃ jāneyyaṃ, ayasalākāya saddaṃ anuṭṭhāpentova chindeyya”nti vatvā, “sabbepime māretvā rajjaṃ kareyya”nti mātāpitūnaṃ kathesi. Tehi “paveṇirajjaṃ nāma, tāta, idaṃ na labbhā evaṃ kātu”nti nānappakārena vārito “tena hi mama sahāyakassa santikaṃ gamissāmī”ti sāvatthiṃ agamāsi.

Pasenadi kosalo rājā tassāgamanaṃ sutvā paccuggantvā mahantena sakkārena taṃ nagaraṃ pavesetvā senāpatiṭṭhāne ṭhapesi. So mātāpitaro pakkosāpetvā tattheva vāsaṃ kappesi. Athekadivasaṃ rājā uparipāsāde ṭhito antaravīthiṃ olokayamāno “anāthapiṇḍikassa cūḷaanāthapiṇḍikassa visākhāya suppavāsāyā”ti etesaṃ gehe niccaṃ bhattakiccatthāya gacchante anekasahasse bhikkhū disvā, “kahaṃ, ayyā, gacchantī”ti pucchitvā, “deva, anāthapiṇḍikassa gehe niccabhattasalākabhattagilānabhattādīnaṃ atthāya devasikaṃ dve bhikkhusahassāni gacchanti, cūḷaanāthapiṇḍikassa gehe pañcasatāni, tathā visākhāya tathā suppavāsāyā”ti vutte sayampi bhikkhusaṅghaṃ upaṭṭhahitukāmo vihāraṃ gantvā bhikkhusahassena saddhiṃ satthāraṃ nimantetvā sattāhaṃ sahatthā dānaṃ datvā sattame divase satthāraṃ vanditvā, “bhante, pañcahi me bhikkhusatehi saddhiṃ nibaddhaṃ bhikkhaṃ gaṇhathā”ti āha. “Mahārāja buddhā nāma ekaṭṭhāne nibaddhaṃ bhikkhaṃ na gaṇhanti, bahū janā buddhānaṃ āgamanaṃ paccāsīsantī”ti. “Tena hi ekaṃ bhikkhuṃ nibaddhaṃ pesethā”ti āha. Satthā ānandattherassa bhāraṃ akāsi. Rājā bhikkhusaṅghe āgate pattaṃ gahetvā, “ime nāma parivisantū”ti avicāretvāva sattāhaṃ sayameva parivisitvā aṭṭhame divase vikkhittacitto pamajjamakāsi. Rājakule nāma anāṇattā āsanāni paññāpetvā bhikkhū nisīdāpetvā parivisituṃ na labhanti “na mayaṃ idha ṭhātuṃ sakkhissāmā”ti bahū bhikkhū pakkamiṃsu. Rājā dutiyadivasepi pamajji, dutiyadivasepi bahū bhikkhū pakkamiṃsu. Tatiyadivasepi pamajji, tadā ānandattheraṃ ekakameva ṭhapetvā avasesā pakkamiṃsu. Puññavantā nāma kāraṇavasikā honti, kulānaṃ pasādaṃ rakkhanti. Tathāgatassa ca sāriputtatthero mahāmoggallānattheroti dve aggasāvakā, khemā uppalavaṇṇāti dve aggasāvikā, upāsakesu citto, gahapati, hatthako āḷavakoti dve aggaupāsakā, upāsikāsu veḷukaṇṭhakī nandamātā, khujjuttarāti dve aggaupāsikā, iti ime aṭṭha jane ādiṃ katvā ṭhānantarapattā sabbepi sāvakā ekadesena dasannaṃ pāramīnaṃ pūritattā mahāpuññā abhinīhārasampannā. Ānandattheropi kappasatasahassaṃ pūritapāramī abhinīhārasampanno mahāpuñño attano kāraṇavasikatāya kulassa pasādaṃ rakkhanto aṭṭhāsi. Taṃ ekakameva nisīdāpetvā parivisiṃsu.

Rājā bhikkhūnaṃ gatakāle āgantvā khādanīyabhojanīyāni tatheva ṭhitāni disvā, “kiṃ, ayyā, nāgamiṃsū”ti pucchitvā, “ānandatthero ekakova āgato devā”ti sutvā, “addhā ettakaṃ me bhattacchedanamakaṃsū”ti bhikkhūnaṃ kuddho satthu santikaṃ gantvā, “bhante, mayā pañcannaṃ bhikkhusatānaṃ bhikkhā paṭiyattā, ānandatthero kira ekakovāgato, paṭiyattā bhikkhā tatheva ṭhitā, pañcasatā bhikkhū mama gehe saññaṃ na kariṃsu, kiṃ nu kho kāraṇa”nti āha. Satthā bhikkhūnaṃ dosaṃ avatvā, “mahārāja, mama sāvakānaṃ tumhehi saddhiṃ vissāso natthi, tena na gatā bhavissantī”ti vatvā kulānaṃ anupagamanakāraṇañca upagamanakāraṇañca pakāsento bhikkhū āmantetvā imaṃ suttamāha –

“Navahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṃ kulaṃ anupagantvā vā nālaṃ upagantuṃ, upagantvā vā nālaṃ upanisīdituṃ. Katamehi navahi? Na manāpena paccuṭṭhenti, na manāpena abhivādenti, na manāpena āsanaṃ denti, santamassa pariguhanti, bahukampi thokaṃ denti, paṇītampi lūkhaṃ denti, asakkaccaṃ denti no sakkaccaṃ, na upanisīdanti dhammassavanāya, bhāsitamassa na sussūsanti. Imehi kho, bhikkhave, navahaṅgehi samannāgataṃ kulaṃ anupagantvā vā nālaṃ upagantuṃ, upagantvā vā nālaṃ upanisīdituṃ.

“Navahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṃ kulaṃ anupagantvā vā alaṃ upagantuṃ, upagantvā vā alaṃ upanisīdituṃ. Katamehi navahi? Manāpena paccuṭṭhenti, manāpena abhivādenti, manāpena āsanaṃ denti, santamassa na pariguhanti, bahukampi bahukaṃ denti, paṇītampi paṇītaṃ denti, sakkaccaṃ denti no asakkaccaṃ, upanisīdanti dhammassavanāya, bhāsitamassa sussūsanti. Imehi kho, bhikkhave, navahaṅgehi samannāgataṃ kulaṃ anupagantvā vā alaṃ upagantuṃ, upagantvā vā alaṃ upanisīditu”nti (a. ni. 9.17).

Iti kho, mahārāja, mama sāvakā tumhākaṃ santikā vissāsaṃ alabhantā na gatā bhavissantīti. Porāṇakapaṇḍitāpi hi avissāsikaṭṭhāne sakkaccaṃ upaṭṭhiyamānāpi māraṇantikaṃ vedanaṃ patvā vissāsikaṭṭhānameva agamiṃsūti. “Kadā, bhante”ti raññā puṭṭho atītaṃ āhari –

Atīte bārāṇasiyaṃ brahmadatte rajjaṃ kārente kesavo nāma rājā rajjaṃ pahāya isipabbajjaṃ pabbaji. Taṃ pañca purisasatāni anupabbajiṃsu. So kesavatāpaso nāma ahosi. Pasādhanakappako panassa anupabbajitvā kappako nāma antevāsiko ahosi. Kesavatāpaso parisāya saddhiṃ aṭṭha māse himavante vasitvā vassārattasamaye loṇambilasevanatthāya bārāṇasiṃ patvā bhikkhāya pāvisi. Atha naṃ rājā disvā pasīditvā catumāsaṃ attano santike vasanatthāya paṭiññaṃ gahetvā uyyāneva vasāpento sayaṃ sāyaṃpātaṃ assa upaṭṭhānaṃ gacchati. Avasesā tāpasā katipāhaṃ vasitvā hatthisaddādīhi ubbāḷhā hutvā ukkaṇṭhitvā, “ācariya, ukkaṇṭhitamhā, gacchāmā”ti āhaṃsu. “Kahaṃ, tātā”ti? “Himavantaṃ, ācariyā”ti. Rājā amhākaṃ āgatadivaseyeva catumāsaṃ idha vasanatthāya paṭiññaṃ gaṇhi. “Kathaṃ gamissatha, tātā”ti? “Tumhehi amhākaṃ anācikkhitvāva paṭiññā dinnā, mayaṃ idha na sakkoma vasituṃ, ito avidūre tumhākaṃ pavattissavanaṭṭhāne vasissāmā”ti vanditvā pakkamiṃsu. Kappantevāsikena saddhiṃ ācariyo ohīyi.

Rājā upaṭṭhānaṃ āgato, “kahaṃ, ayyā”ti pucchi. “Sabbe ukkaṇṭhitamhāti vatvā himavantaṃ gatā, mahārājā”ti āha. Kappakopi na cirasseva ukkaṇṭhitvā ācariyena punappunaṃ vāriyamānopi “na sakkomī”ti vatvā pakkāmi. Itaresaṃ pana santikaṃ agantvā ācariyassa pavattiṃ suṇanto avidūre ṭhāne vasi. Aparabhāge ācariyassa antevāsike anussarantassa kucchirogo uppajji. Rājā vejjehi tikicchāpesi, rogo na vūpasammati. Tāpaso āha – “kiṃ, mahārāja, icchasi me rogavūpasama”nti? “Bhante, sacāhaṃ sakkuṇeyyaṃ, idāneva vo phāsukaṃ kareyya”nti. “Mahārāja, sace me phāsukaṃ icchasi, maṃ antevāsikānaṃ santikaṃ pesehī”ti. Rājā “sādhu, bhante”ti taṃ mañcake nipajjāpetvā nāradaamaccappamukhe cattāro amacce “mama ayyassa pavattiṃ ñatvā, mayhaṃ sāsanaṃ pahiṇeyyāthā”ti uyyojesi. Kappantevāsiko ācariyassa āgamanaṃ sutvā paccuggamanaṃ katvā itare “kaha”nti vutte, “asukaṭṭhāne kira vasantī”ti āha. Tepi ācariyassāgamanabhāvaṃ sutvā tattheva samosaritvā ācariyassa uṇhodakaṃ datvā phalāphalaṃ adaṃsu. Taṃ khaṇaññeva rogo vūpasammati. So katipāheneva suvaṇṇavaṇṇo ahosi. Atha naṃ nārado pucchi –

“Manussindaṃ jahitvāna, sabbakāmasamiddhinaṃ;
Kathaṃ nu bhagavā kesī, kappassa ramati assame.

“Sādūni ramaṇīyāni, santi vakkhā manoramā;
Subhāsitāni kappassa, nārada ramayanti maṃ.

“Sālīnaṃ odanaṃ bhuñje, suciṃ maṃsūpasecanaṃ;
Kathaṃ sāmākanīvāraṃ, aloṇaṃ chādayanti taṃ.

“Sāduṃ vā yadi vāsāduṃ, appaṃ vā yadi vā bahuṃ;
Vissattho yattha bhuñjeyya, vissāsaparamā rasā”ti. (jā. 1.4.181-184);

Satthā imaṃ dhammadesanaṃ āharitvā jātakaṃ samodhānento “tadā rājā moggallāno ahosi, nārado sāriputto, kappantevāsiko ānando, kesavatāpaso ahamevā”ti vatvā, “evaṃ, mahārāja, pubbepi paṇḍitā māraṇantikaṃ vedanaṃ patvā vissāsikaṭṭhānaṃ gamiṃsu, mama sāvakā tumhākaṃ santike vissāsaṃ na labhanti maññe”ti āha. Rājā “bhikkhusaṅghena saddhiṃ mayā vissāsaṃ kātuṃ vaṭṭati, kathaṃ nu kho karissāmīti sammāsambuddhassa ñātidhītaraṃ mama gehe kātuṃ vaṭṭati, evaṃ sante ‘daharā ca sāmaṇerā ca sammāsambuddhassa ñātirājā’ti mama santikaṃ vissatthā nibaddhaṃ āgamissantī”ti cintetvā – “ekaṃ me dhītaraṃ dentū”ti sākiyānaṃ santikaṃ sāsanaṃ pesesi. “Katarassa sakyassa dhītā”ti ca pucchitvā, “ñatvā āgaccheyyāthā”ti vatvā dūte āṇāpesi. Dūtā gantvā sākiye dārikaṃ yāciṃsu. Te sannipatitvā, “pakkhantariko rājā, sace na dassāma, vināsessati no, na kho pana amhehi kulena sadiso, kiṃ nu kho kātabba”nti mantayiṃsu. Mahānāmo “mama dāsiyā kucchimhi jātā vāsabhakhattiyā nāma dhītā rūpasobhaggappattā atthi, taṃ dassāmā”ti vatvā dūte āha – “sādhu, rañño dārikaṃ dassāmā”ti. “Sā kassa, dhītā”ti? “Sammāsambuddhassa cūḷapituputtassa mahānāmassa sakkassa dhītā vāsabhakhattiyā nāmā”ti.

Te gantvā rañño ārocayiṃsu. Rājā “yadi evaṃ, sādhu, sīghaṃ ānetha, khattiyā ca nāma bahumāyā, dāsidhītarampi pahiṇeyyuṃ, pitarā saddhiṃ ekabhājane bhuñjantiṃ āneyyāthā”ti pesesi. Te gantvā, “deva, tumhehi saddhiṃ ekato bhuñjantiṃ rājā icchatī”ti āhaṃsu. Mahānāmo “sādhu, tātā”ti taṃ alaṅkārāpetvā attano bhojanakāle pakkosāpetvā tāya saddhiṃ ekato bhuñjanākāraṃ dassetvā dūtānaṃ niyyādesi. Te taṃ ādāya sāvatthiṃ gantvā taṃ pavattiṃ rañño ārocesuṃ. Rājā tuṭṭhamānaso taṃ pañcannaṃ itthisatānaṃ jeṭṭhikaṃ katvā aggamahesiṭṭhāne abhisiñci. Sā na cirasseva suvaṇṇavaṇṇaṃ puttaṃ vijāyi.

Athassa nāmaggahaṇadivase rājā dārakassa ayyakassa santikaṃ pesesi “sakyarājadhītā vāsabhakhattiyā puttaṃ vijātā, kimassa nāmaṃ karomā”ti? Taṃ pana sāsanaṃ gahetvā gato amacco thokaṃ badhiradhātuko, so gantvā rañño ayyakassa ārocesi, so taṃ sutvā “vāsabhakhattiyā puttaṃ avijāyitvāpi sabbajanaṃ abhibhavi, idāni pana rañño ativiya vallabhā bhavissatī”ti āha. Badhiro amacco “vallabhā”ti vacanaṃ dussutaṃ sutvā “viṭaṭūbho”ti sallakkhetvā rājānaṃ upagantvā, “deva, kumārassa kira ‘viṭaṭūbho’ti nāmaṃ karothā”ti āha. Rājā “porāṇakaṃ no kulasantakaṃ nāmaṃ bhavissatī”ti cintetvā taṃ nāmaṃ akāsi. Athassa daharakāleyeva rājā “satthu piyaṃ karomī”ti senāpatiṭṭhānaṃ adāsi.

So kumāraparihārena vaḍḍhanto sattavassikakāle aññesaṃ kumārānaṃ mātāmahakulato hatthirūpakaassarūpakādīni āhariyamānāni disvā mātaraṃ pucchi – “amma, aññesaṃ mātāmahakulato paṇṇākāro āharīyati, mayhaṃ koci kiñci na pesesi, kiṃ tvaṃ nimātā nipitā”ti? Atha naṃ sā, “tāta, tava sakyarājāno mātāmahā dūre pana vasanti, tena te kiñci na pesentī”ti vañcesi. Soḷasavassikakāle, “amma, tava mātāmahakulaṃ passitukāmomhī”ti vatvā, “alaṃ, tāta, kiṃ tattha gantvā karissatī”ti vāriyamānopi punappunaṃ yāci. Athassa mātā “tena hi gacchā”ti sampaṭicchi. So pitu ārocetvā mahantena parivārena nikkhami. Vāsabhakhattiyā puretaraṃ paṇṇaṃ pesesi – “ahaṃ idha sukhaṃ vasāmi, māssa kiñci sāmino antaraṃ dassayiṃsū”ti. Sākiyā viṭaṭūbhassa āgamanaṃ ñatvā, “vandituṃ na sakkomā”ti tassa daharadahare kumāre janapadaṃ pahiṇitvā tasmiṃ kapilapuraṃ sampatte santhāgāre sannipatiṃsu. Kumāro tattha gantvā aṭṭhāsi.

Atha naṃ “ayaṃ te, tāta, mātāmaho, ayaṃ mātulo”ti vatvā vandāpesuṃ. So sabbe vandamāno vicaritvā ekampi attānaṃ vandantaṃ adisvā “kiṃ nu kho maṃ vandantā natthī”ti pucchi. Sākiyā, “tāta, te kaniṭṭhakumārā janapadaṃ gatā”ti vatvā tassa mahantaṃ sakkāraṃ kariṃsu. So katipāhaṃ vasitvā mahantena parivārena nikkhami. Athekā dāsī santhāgāre tena nisinnaphalakaṃ “idaṃ vāsabhakhattiyāya dāsiyā puttassa nisinnaphalaka”nti akkositvā paribhāsitvā khīrodakena dhovi. Eko puriso attano āvudhaṃ pamussitvā nivatto taṃ gaṇhanto viṭaṭūbhakumārassa akkosanasaddaṃ sutvā taṃ kāraṇaṃ pucchitvā, “vāsabhakhattiyā dāsiyā kucchimhi mahānāmasakkaṃ paṭicca jātā”ti ñatvā balakāyassa kathesi. “Vāsabhakhattiyā kira dāsidhītā”ti mahākolāhalaṃ ahosi. Taṃ sutvā viṭaṭūbho “ete tāva mama nisinnaphalakaṃ khīrodakena dhovantu, ahaṃ pana rajje patiṭṭhitakāle etesaṃ galalohitaṃ gahetvā mama nisinnaphalakaṃ dhovissāmī”ti cittaṃ paṭṭhapesi. Tasmiṃ sāvatthiṃ gate amaccā taṃ pavattiṃ rañño ārocayiṃsu. Rājā “mayhaṃ dāsidhītaraṃ adaṃsū”ti sākiyānaṃ kujjhitvā vāsabhakhattiyāya ca puttassa ca dinnaparihāraṃ acchinditvā dāsadāsīhi laddhabbamattameva dāpesi.

Tato katipāhaccayena satthā rājanivesanaṃ gantvā paññattāsane nisīdi. Rājā āgantvā vanditvā, “bhante, tumhākaṃ kira ñātakehi dāsidhītā mayhaṃ dinnā, tenassā ahaṃ saputtāya parihāraṃ acchinditvā dāsadāsīhi laddhabbamattameva dāpesi”nti āha. Satthā “ayuttaṃ, mahārāja, sākiyehi kataṃ, dadantehi nāma samānajātikā dātabbā assa, taṃ pana, mahārāja, vadāmi, vāsabhakhattiyā khattiyarājadhītā khattiyarañño gehe abhisekaṃ labhi. Viṭaṭūbhopi khattiyarājānameva paṭicca jāto, mātugottaṃ nāma kiṃ karissati, pitugottameva pamāṇanti. Porāṇakapaṇḍitā dalidditthiyā kaṭṭhahārikāya aggamahesiṭṭhānaṃ adaṃsu, tassā ca kucchimhi jātakumāro dvādasayojanikāya bārāṇasiyā rajjaṃ patvā kaṭṭhavāhanarājā nāma jāto”ti kaṭṭhahārijātakaṃ (jā. 1.1.7) kathesi. Rājā dhammakathaṃ sutvā “pitugottameva kira pamāṇa”nti tussitvā vāsabhakhattiyāya ca puttassa ca pakatiparihārameva dāpesi.

Bandhulasenāpatissapi kho kusinārāyaṃ mallarājadhītā mallikā nāma bhariyā dīgharattaṃ puttaṃ na vijāyi. Atha naṃ bandhulo “attano kulagharameva gacchā”ti uyyojesi. Sā “satthāraṃ disvāva gamissāmī”ti jetavanaṃ pavisitvā tathāgataṃ vanditvā ṭhitā, “kahaṃ gacchasī”ti vuttā “sāmiko maṃ bhante, kulagharaṃ pesetī” āha. “Kiṃ kāraṇā”ti? “Vañjhā kirasmi aputtikā”ti. “Yadi evaṃ, gamanakiccaṃ natthi, nivattassū”ti. Sā tuṭṭhamānasā satthāraṃ vanditvā nivesanaṃ gantvā “kasmā nivattāsī”ti vuttā “dasabalena nivattitāmhī”ti āha bandhulo “diṭṭhaṃ bhavissati dīghadassinā kāraṇa”nti sampaṭicchi. Sā na cirasseva gabbhaṃ paṭilabhitvā uppannadāhaḷā “dohaḷo me uppanno”ti ārocesi. “Kiṃ dohaḷo”ti? “Vesālinagare gaṇarājakulānaṃ abhisekamaṅgalapokkharaṇiyaṃ otaritvā nhatvā pānīyaṃ pātukāmāmhi, sāmī”ti. Bandhulo “sādhū”ti vatvā sahassathāmadhanuṃ gahetvā taṃ rathaṃ āropetvā sāvatthito nikkhamitvā rathaṃ pājento mahālilicchavino dinnadvārena vesāliṃ pāvisi. Mahālilicchavino ca dvārasamīpe eva nivesanaṃ hoti. So rathassa ummāre panighātasaddaṃ sutvāva “bandhulassa rathasaddo eso, ajja licchavīnaṃ bhayaṃ uppajjissatī”ti āha.

Pokkharaṇiyā anto ca bahi ca ārakkhā balavatī, upari lohajālaṃ patthaṭaṃ, sakuṇānampi okāso natthi. Bandhulasenāpati pana rathā otaritvā ārakkhake manusse vettena paharanto palāpetvā lohajālaṃ chinditvā antopokkharaṇīyaṃ bhariyaṃ nhāpetvā sayampi nhatvā puna taṃ rathaṃ āropetvā nagarā nikkhamitvā āgatamaggeneva pāyāsi. Te ārakkhamanussā licchavirājūnaṃ ārocesuṃ. Licchavirājāno kujjhitvā pañca rathasatāni āruyha “bandhulamallaṃ gaṇhissāmā”ti nikkhamiṃsu. Taṃ pavattiṃ mahālissa ārocesuṃ. Mahāli, “mā gamittha, so hi vo sabbe ghotessatī”ti āha. Tepi “mayaṃ gamissāma evā”ti vadiṃsu. “Tena hi tassa rathacakkassa yāva nābhito pathaviṃ paviṭṭhaṭṭhānaṃ disvā nivatteyyātha, tato anivattantā purato asanisaddaṃ viya suṇissatha, tamhā ṭhānā nivatteyyātha. Tato anivattantā tumhākaṃ rathadhuresu chiddaṃ passissatha, tamhā ṭhānā nivatteyyātha, purato mā gamitthā”ti. Te tassa vacanena anivattitvā taṃ anubandhiṃsu eva. Mallikā disvā, “rathā, sāmi, paññāyantī”ti āha. “Tena hi ekasseva rathassa paññāyanakāle maṃ āroceyyāsī”ti. Sā yadā sabbe rathā eko viya hutvā paññāyiṃsu, tadā “ekameva, sāmi, rathasīsaṃ paññāyatī”ti āha. Bandhulo “tena hi imā rasmiyo gaṇhāhī”ti tassā rasmiyo datvā rathe ṭhitova dhanuṃ āropesi, rathacakkaṃ yāva nābhito pathaviṃ pāvisi.

Licchavino taṃ ṭhānaṃ disvāpi na nivattiṃsu. Itaro thokaṃ gantvā jiyaṃ pothesi, asanisaddo viya ahosi. Te tatopi na nivattiṃsu, anubandhantā gacchanteva. Bandhulo rathe ṭhitakova ekasaraṃ khipi, so pañcannaṃ rathasatānaṃ rathasīse chiddaṃ katvā pañca rājasatāni parikarabandhanaṭṭhāne vinivijjhitvā pathaviṃ pāvisi. Te attano paviddhabhāvaṃ ajānitvā, “tiṭṭha, re, tiṭṭha, re”ti vadantā anubandhiṃsu eva. Bandhulo rathaṃ ṭhapetvā “tumhe matakā, matakehi saddhiṃ mayhaṃ yuddhaṃ nāma natthī”ti āha. “Matakā nāma amhādisā na hontī”ti. “Tena hi sabbapacchimassa parikaraṃ mocethā”ti. Te mocayiṃsu. So muttamatte eva maritvā patito. Atha te sabbepi “tumhe evarūpā, attano gharāni gantvā saṃvidhātabbaṃ saṃvidahitvā puttadāraṃ anusāsitvā sannāhaṃ mocethā”ti āha. Te tathā katvā sabbepi jīvitakkhayaṃ pattā. Bandhulopi mallikaṃ sāvatthiṃ ānesi. Sā soḷasakkhattuṃ yamake yamake putte vijāyi. Sabbepi sūrā thāmasampannā ahesuṃ, sabbasippānaṃ nipphattiṃ pāpuṇiṃsu. Ekekassa purisasahassaṃ parivāro ahosi. Pitarā saddhiṃ rājanivesanaṃ gacchantehi teheva rājaṅgaṇaṃ paripūri.

Athekadivasaṃ vinicchaye kūṭaṭṭaparājitā manussā bandhulaṃ āgacchantaṃ disvā mahāviravaṃ viravantā vinicchayaamaccānaṃ kūṭaṭṭakaraṇaṃ tassa ārocesuṃ. So vinicchayaṃ gantvā taṃ aṭṭaṃ vicāretvā sāmikameva sāmikaṃ akāsi. Mahājano mahāsaddena sādhukāraṃ pavatteti. Rājā “kiṃ ida”nti pucchitvā tamatthaṃ sutvā tussitvā sabbepi te amacce hāretvā bandhulasseva vinicchayaṃ niyyādesi. So tato paṭṭhāya sammā vinicchayi. Tato te porāṇakavinicchayikā amaccā kiñci lañjaṃ alabhantā appalābhā hutvā “bandhulo rajjaṃ patthetī”ti rājakule paribhindiṃsu. Rājā tesaṃ kathaṃ saddahitvā cittaṃ niggahetuṃ nāsakkhi. “Imasmiṃ idheva ghātiyamāne garahā me uppajjissatī”ti puna cintetvā payuttapurisehi paccantaṃ pahārāpetvā bandhulaṃ pakkosāpetvā, “paccanto kira kupito, tava puttehi saddhiṃ gantvā, core gaṇhāhī”ti pahiṇitvā, “etthevassa dvattiṃsāya puttehi saddhiṃ sīsaṃ chinditvā āharathā”ti tehi saddhiṃ aññepi samatthe mahāyodhe pesesi. Tasmiṃ paccantaṃ gacchanteyeva “senāpati kira āgacchatī”ti payuttacorā palāyiṃsu. So taṃ padesaṃ āvāsāpetvā saṇṭhāpetvā nivatti.

Athassa nagarato avidūre ṭhāne te yodhā puttehi saddhiṃ sīsaṃ chindiṃsu. Taṃ divasaṃ mallikāya pañcahi bhikkhusatehi saddhiṃ dve aggasāvakā nimantitā honti. Athassā pubbaṇhe eva “sāmikassa te saddhiṃ puttehi sīsaṃ chinna”nti paṇṇaṃ āharitvā adaṃsu. Sā taṃ pavattiṃ ñatvā kassaci kiñci avatvā paṇṇaṃ ucchaṅge ṭhapetvā bhikkhusaṅghameva parivisi. Athassā paricārikāyo bhikkhūnaṃ bhattaṃ datvā sappicāṭiṃ āharantiyo therānaṃ purato sappicāṭiṃ bhindiṃsu. Dhammasenāpati “bhedanadhammaṃ bhinnaṃ, na cintitabba”nti āha. Sā ucchaṅgato paṇṇaṃ nīharitvā “dvattiṃsāya puttehi saddhiṃ pitusīsaṃ chinnanti me imaṃ paṇṇaṃ āhariṃsu, ahaṃ idaṃ sutvāpi na cintemi, sappicāṭiyā bhinnāya kiṃ cintayissāmi, bhante”ti āha. Dhammasenāpati “animittamanaññātaṃ, maccānaṃ idha jīvita”ntiādīni (su. ni. 579) vatvā dhammaṃ desetvā uṭṭhāyāsanā vihāraṃ agamāsi. Sāpi dvattiṃsa suṇisāyo pakkosāpetvā, “tumhākaṃ sāmikā niraparādhā attano purimakammaphalaṃ labhiṃsu, tumhe mā socayittha, mā paridevittha, rañño upari manopadosaṃ mā karitthā”ti ovadi.

Rañño carapurisā taṃ kathaṃ sutvā gantvā tesaṃ niddosabhāvaṃ rañño kathayiṃsu. Rājā saṃvegappatto tassā nivesanaṃ gantvā mallikañca suṇisāyo cassā khamāpetvā mallikāya varaṃ adāsi. Sā “varo gahito me hotū”ti vatvā tasmiṃ gate matakabhattaṃ datvā nhatvā rājānaṃ upasaṅkamitvā vanditvā, “deva, tumhehi mayhaṃ varo dinno, mayhañca aññena attho natthi, dvattiṃsāya me suṇisānaṃ mamañca kulagharagamanaṃ anujānāthā”ti āha. Rājā sampaṭicchi. Sā dvattiṃsa suṇisāyo yathāsakāni kulāni pesesi, sayampi kusinārānagare attano kulagharaṃ agamāsi.

Rājāpi bandhulasenāpatino bhāgineyyassa dīghakārāyanassa nāma senāpatiṭṭhānaṃ adāsi. So pana “mātulo me iminā mārito”ti rañño otāraṃ gavesanto vicarati. Rājāpi niraparādhassa bandhulassa māritakālato paṭṭhāya vippaṭisārī hutvā cittassādaṃ na labhati, rajjasukhaṃ nānubhoti. Tadā satthā sakyānaṃ medāḷupaṃ nāma nigamaṃ upanissāya viharati. Rājā tattha gantvā ārāmato avidūre khandhāvāraṃ nivāsetvā, “mandena parivārena satthāraṃ vandissāmī”ti vihāraṃ gantvā pañcarājākakudhabhaṇḍāni dīghakārāyanassa datvā ekakova gandhakuṭiṃ pāvisi. Sabbaṃ dhammacetiyasuttaniyāmena (ma. ni. 2.364 ādayo) dīpetabbaṃ. Tasmiṃ gandhakuṭiṃ paviṭṭhe dīghakārāyano tāni pañca rājakakudhabhaṇḍāni gahetvā viṭaṭūbhaṃ rājānaṃ katvā rañño ekaṃ assaṃ ekañca upaṭṭhānakārikaṃ mātugāmaṃ ṭhapetvā nivattetvā sāvatthiṃ agamāsi.

Rājā satthārā saddhiṃ piyakathaṃ kathetvā satthāraṃ vanditvā nikkhanto senaṃ adisvā taṃ mātugāmaṃ pucchitvā taṃ pavattiṃ sutvā, “ahaṃ bhāgineyyaṃ ādāya gantvā, viṭaṭūbhaṃ gahessāmī”ti rājagahanagaraṃ gacchanto vikāle dvāresu pidahitesu nagaraṃ patvā ekissā sālāya nipajjitvā vātātapehi kilanto rattibhāge tattheva kālamakāsi. Vibhātāya rattiyā, “deva, kosalanarinda anātho jātosī”ti vippalapantiyā tassā itthiyā saddaṃ sutvā rañño ārocesuṃ. So mātulassa mahantena sakkārena sarīrakiccaṃ kāresi.

Viṭaṭūbhopi rajjaṃ labhitvā taṃ veraṃ saritvā “sabbepi sākiye māressāmī”ti mahatiyā senāya nikkhami. Taṃ divasaṃ satthā paccūsakāle lokaṃ volokento ñātisaṅghassa vināsaṃ disvā, “ñātisaṅgahaṃ kātuṃ vaṭṭatī”ti cintetvā pubbaṇhasamaye piṇḍāya caritvā, piṇḍapātapaṭikkanto gandhakuṭiyaṃ sīhaseyyaṃ kappetvā, sāyanhasamaye ākāsena gantvā, kapilavatthusāmante ekasmiṃ kabaracchāye rukkhamūle nisīdi. Tato viṭaṭūbhassa rajjasīmāya mahanto sandacchāyo nigrodho atthi. Viṭaṭūbho satthāraṃ disvā upasaṅkamitvā vanditvā, “bhante, kiṃ kāraṇā evarūpāya uṇhavelāya imasmiṃ kabaracchāye rukkhamūle nisīdatha, etasmiṃ sandacchāye nigrodhamūle nisīdatha, bhante”ti vatvā, “hotu, mahārāja, ñātakānaṃ chāyā nāma sītalā”ti vutte, “ñātakānurakkhanatthāya satthā āgato bhavissatī”ti cintetvā satthāraṃ vanditvā nivattitvā sāvatthiṃyeva paccāgami. Satthāpi uppatitvā jetavanameva gato.

Rājā sākiyānaṃ dosaṃ saritvā dutiyampi nikkhamitvā tatheva satthāraṃ passitvā puna nivatti. Tatiyavārepi nikkhamitvā tatheva satthāraṃ passitvā puna nivatti. Catutthavāre pana tasmiṃ nikkhante satthā sākiyānaṃ pubbakammaṃ oloketvā tesaṃ ekadivasaṃ nadiyaṃ visapakkhipanapāpakammassa appaṭibāhiyabhāvaṃ ñatvā catutthavāre nāgamāsi. Viṭaṭūbho “sākiye ghātessāmī”ti mahantena balakāyena nikkhami. Sammāsambuddhassa pana ñātakā asattaghātakā nāma, attanā marantāpi paresaṃ jīvitaṃ na voropenti. Te cintayiṃsu – “mayaṃ susikkhitā katahatthā katūpāsanā mahissāsā, na kho pana sakkā amhehi paraṃ jīvitā voropetuṃ, attano kammaṃ dassetvā palāpessāmā”ti te katasannāhā nikkhamitvā yuddhaṃ ārabhiṃsu. Tehi khittā sarā viṭaṭūbhassa purisānaṃ antarantarena gacchanti, phalakantarakaṇṇachiddantarādīhi nikkhamanti. Viṭaṭūbho disvā nanu bhaṇe “sākiyā asattaghātakāmhā”ti vadanti, atha ca pana me purise nāsentīti.

Atha naṃ eko puriso āha – “kiṃ sāmi, nivattitvā olokesī”ti? “Sākiyā me purise nāsentī”ti. “Tumhākaṃ koci puriso mato nāma natthi. Iṅgha te gaṇāpethā”ti. Gaṇāpento ekassapi khayaṃ na passi. So tato nivattitvā “ye ye pana bhaṇe ‘sākiyamhā’ti bhaṇanti, sabbe māretha, mātāmahassa pana mahānāmasakkassa santike ṭhitānaṃ jīvitaṃ dethā”ti āha. Sākiyā gahetabbagahaṇaṃ apassantā ekacce tiṇaṃ ḍaṃsitvā, ekacce naḷaṃ gahetvā aṭṭhaṃsu. “Tumhe sākiyā, no”ti pucchitā yasmā te marantāpi musāvādaṃ na bhaṇanti, tasmā tiṇaṃ ḍaṃsitvā ṭhitā “no sāko, tiṇa”nti vadanti. Naḷaṃ gahetvā ṭhitā “no sāko, naḷo”ti vadanti. Ye ca mahānāmassa santike ṭhitā, te ca jīvitaṃ labhiṃsu. Tesu tiṇaṃ ḍaṃsitvā ṭhitā tiṇasākiyā nāma, naḷaṃ gahetvā ṭhitā naḷasākiyā nāma jātāti, viṭaṭūbho avasese khīrapakepi dārake avissajjetvā ghātāpento lohitanadiṃ pavattetvā tesaṃ galalohitena phalakaṃ dhovāpesi. Evaṃ sākiyavaṃso viṭaṭūbhena upacchinno.

So mahānāmasakkaṃ gāhāpetvā nivatto “pātarāsavelāya pātarāsaṃ karissāmī”ti ekasmiṃ ṭhāne otaritvā bhojane upanīte “ekatova bhuñjissāmā”ti ayyakaṃ pakkosāpesi. Khattiyā pana jīvitaṃ cajantāpi dāsiputtehi saddhiṃ na bhuñjanti. Tasmā mahānāmo ekaṃ saraṃ oloketvā “kiliṭṭhagattomhi, nhāyissāmi, tātā”ti āha. “Sādhu, ayyaka, nhāyathā”ti. So “ayaṃ maṃ ekato abhuñjantaṃ ghātessati, sayameva me mataṃ seyyo”ti kese muñcitvā agge gaṇṭhiṃ katvā kesesu pādaṅguṭṭhake pavesetvā udake nimujji. Tassa guṇatejena nāgabhavanaṃ uṇhākāraṃ dassesi. Nāgarājā “kiṃ nu kho”ti upadhārento taṃ ñatvā tassa santikaṃ āgantvā taṃ attano phaṇe nisīdāpetvā nāgabhavanaṃ pavesesi. So dvādassa vassāni tattheva vasi. Viṭaṭūbhopi “mayhaṃ ayyako idāni āgamissati, idāni āgamissatī”ti āgamayamānova nisīdi. Tasmiṃ aticirāyante saraṃ vicināpetvā dīpālokena purisabbhantarānipi oloketvā adisvā “gato bhavissatī”ti pakkāmi. So rattibhāge aciravatiṃ patvā khandhāvāraṃ nivāsesi. Ekacce antonadiyaṃ vālukāpuline nipajjiṃsu, ekacce bahithale, antonipannesupi pubbe akatapāpakammā atthi, bahinipannesupi pubbe katapāpakammā atthi, tesaṃ nipannaṭṭhānesu kipillikā uṭṭhahiṃsu. Te “mayhaṃ nipannaṭṭhāne kipillikā, mayhaṃ nipannaṭṭhāne kipillikā”ti uṭṭhahitvā akatapāpakammā uttaritvā thale nipajjiṃsu, katapāpakammā otaritvā vālukāpuline nipajjiṃsu. Tasmiṃ khaṇe mahāmegho uṭṭhahitvā ghanavassaṃ vassi. Nadiyā ogho āgantvā viṭaṭūbhaṃ saddhiṃ parisāya samuddameva pāpesi. Sabbe tattha macchakacchapabhakkhā ahesuṃ.

Mahājano kathaṃ samuṭṭhāpesi “sākiyānaṃ maraṇaṃ ayuttaṃ, ‘evaṃ nāma koṭṭetvā koṭṭetvā sākiyā māretabbā’ti ananucchavikameta”nti. Satthā taṃ kathaṃ sutvā, “bhikkhave, imasmiṃ attabhāve kiñcāpi sākiyānaṃ evaṃ maraṇaṃ ayuttaṃ, pubbe katapāpakammavasena pana yuttamevetehi laddha”nti āha. “Kiṃ pana, bhante, ete pubbe akaṃsū”ti? Sabbe ekato hutvā nadiyaṃ visaṃ pakkhipiṃsūti. Punekadivasaṃ dhammasabhāyaṃ bhikkhū kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ – “viṭaṭūbho ettake sākiye māretvā āgacchanto attano manorathe matthakaṃ appatteyeva ettakaṃ janaṃ ādāya mahāsamudde macchakacchapabhakkho jāto”ti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte, “imesaṃ sattānaṃ manorathe matthakaṃ appatteyeva maccurājā suttaṃ gāmaṃ ajjhottharanto mahogho viya jīvitindriyaṃ chinditvā catūsu apāyasamuddesu nimujjāpetī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Pupphāni heva pacinantaṃ, byāsattamanasaṃ naraṃ;
Suttaṃ gāmaṃ mahoghova, maccu ādāya gacchatī”ti.

Tattha byāsattamanasaṃ naranti sampatte vā asampatte vā laggamānasaṃ. Idaṃ vuttaṃ hoti – yathā mālākāro pupphārāmaṃ pavisitvā “pupphāni pacinissāmī”ti tato pupphāni gahetvā aññamaññaṃ vā gacchaṃ patthento sakale pupphārāme manaṃ peseti, “ito cito ca pupphāni pacinissāmī”ti tato pupphāni aggahetvā aññattha manaṃ pesesi, tameva gacchaṃ pacinanto pamādamāpajjati, evameva ekacco pupphārāmasadisaṃ pañcakāmaguṇamajjhaṃ otaritvā manoramaṃ rūpaṃ labhitvā manoramānaṃ saddagandharasaphoṭṭhabbānaṃ aññataraṃ pattheti. Añño tesu vā aññataraṃ labhitvā aññataraṃ pattheti, rūpameva vā labhitvā aññaṃ apatthento tameva assādeti, saddādīsu vā aññataraṃ. Eseva nayo gomahiṃsadāsidāsakhettavatthugāmanigamajanapadādīsu, pabbajitānampi pariveṇavihārapattacīvarādīsūti evaṃ pañcakāmaguṇasaṅkhātāni pupphāni eva pacinantaṃ sampatte vā asampatte vā kāmaguṇe byāsattamanasaṃ naraṃ. Suttaṃ gāmanti gāmassa gehabhittiādīnaṃ pana supanavasena supanaṃ nāma natthi, sattānaṃ pana suttapamattataṃ upādāya sutto nāma hoti. Evaṃ suttaṃ gāmaṃ dve tīṇi yojanāni āyatagambhīro mahoghova maccu ādāya gacchati. Yathā so mahogho itthipurisagomahiṃsakukkuṭādīsu kiñci anavasesetvā sabbaṃ taṃ gāmaṃ samuddaṃ pāpetvā macchakacchapabhakkhaṃ karoti, evameva byāsattamanasaṃ naraṃ maccu ādāya jīvitindriyamassa chinditvā catūsu apāyasamuddesu nimujjāpetīti.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pattā. Mahājanassa sātthikā desanā jātāti.

Viṭaṭūbhavatthu tatiyaṃ.

IV. 3. Viḍūḍabha Wreaks Vengeance on the Sākiyas

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

47. Even while a man is gathering flowers and is absorbed in pleasure,
Death comes and carries him off, even as a mighty flood overwhelms a sleeping village.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Sāvatthi with reference to Viḍūḍabha and his retinue, who were overwhelmed by a mighty flood and swept away to death. From beginning to end the story is as follows:

At Sāvatthi lived Prince Pasenadi, son of the king of the Kosalans; at Vesali, Prince Mahāli of the Licchavi line; at Kusinārā, Prince Bandhula, son of the king of the Mallas. These three princes resorted to a world-renowned teacher at Takkasilā for instruction. Happening to meet in a rest-house outside of the city, they asked each other’s reasons for coming, families, and names, and became friends. All of them studied under the same teacher at the same time, and in no long time acquiring proficiency in the various arts, took leave of their teacher, departed together, and went to their respective homes.

Prince Pasenadi so delighted his father with the exhibition he gave of proficiency in the various arts that his father sprinkled him king.

Prince Mahāli devoted himself to the task of educating the Licchavi princes, but over-exerting himself, lost the sight of his eyes. Said the Licchavi princes, “Alas! our teacher has lost the sight of his eyes. However, we will not cast him out, but will support him loyally.” Accordingly they gave him a gate worth a hundred thousand pieces of money. Near this gate he lived, instructing the five hundred Licchavi princes in the various arts.

As for Prince Bandhula, the princely families of the Mallas bound sticks of bamboo together in bundles of sixty each, inserting a strip of iron in each bundle, suspended sixty bundles in the air, and challenged the prince to cut them down. The prince leaped eighty cubits into the air and smote them with his sword. Hearing the click of iron in the last bundle, he asked, “What is that?” When he learned that a strip of iron had been placed in each of the bundles, he threw away his sword and burst into tears, saying, “Of all these kinsmen and friends of mine, not a single one thought enough of me to tell me this fact. For had I only known it, I should have cut the bundles without causing the iron to give forth a sound.” And he said to his mother and father, “I will kill everyone of these princes and rule in their stead.” They replied, “Son, the kingdom is handed down from father to son, and it will therefore be impossible for you to do this.” By various devices they dissuaded him from carrying out his plan, whereupon he said, “Well then, I will go and live with a friend of mine,” and forthwith went to Sāvatthi.

King Pasenadi, hearing that he was coming, went forth to meet him, escorted him into the city with distinguished honors, and appointed him commander-in-chief of his army. Bandhula sent for his mother and father and established his residence right there in the city of Sāvatthi.

Now one day, as the king was standing on the terrace looking down into the street, he saw several thousand monks pass through the street on their way to breakfast in the houses of Anāthapiṇḍika, Culla Anāthapiṇḍika, Visākhā, and Suppāvāsa. “Where are these reverend monks going?” He inquired. “Your majesty, every day two thousand monks go to the house of Anāthapiṇḍika for food, medicine, and so forth; five hundred to the house of Culla Anāthapiṇḍika; and a like number to the houses of Visākhā and Suppāvāsa.” The king also conceived a desire to minister to the Congregation of Monks, and going to the monastery, invited the Teacher and his thousand monks to take their meals in his house. For seven days he presented alms to the Teacher, and on the seventh day paid obeisance to him and said, “Henceforth take your meals in my house regularly with five hundred monks.” “Great king, the Buddhas never take their meals regularly in any one place; many desire the Buddhas to visit them.” “Well then, send one monk regularly.” The Teacher imposed the duty on the Elder Ānanda.

When the Congregation of Monks arrived, the king took their bowls and for seven days waited upon them in person, allowing no one else to perform that office. On the eighth day he suffered from distraction of mind and neglected to perform his duty. The monks said to themselves, “In the house of a king no one may provide seats for the monks and wait upon them unless he is expressly ordered to do so. It will therefore be impossible for us to remain here any longer.” Accordingly many departed. On the second day also the king neglected his duty, and accordingly on the second day many departed. Likewise on the third day the king neglected his duty, with the result that on that day all the remaining monks departed with the single exception of the Elder Ānanda.

They that are truly righteous rise above circumstances and guard the faith of families. The Tathāgata had two principal male disciples, the Elder Sāriputta and the Elder Mahā Moggallāna, and two principal female disciples, Khemā and Uppalavaṇṇā. Among the lay disciples there were two principal male lay disciples, the householder Citta and Hatthaka Āḷavaka, and two principal female lay disciples, Velukaṇṭhakī, mother of Nanda, and Khujjutarā. To put it briefly, all the disciples, beginning with these eight persons, had made their Earnest Wish, had fulfilled the Ten Perfections, and had thus acquired great merit. Likewise the Elder Ānanda had made his Earnest Wish, had fulfilled the Ten Perfections during a hundred thousand cycles of time, and had thus acquired great merit. Therefore did the Elder Ānanda rise superior to circumstances, and therefore did he remain, guarding the faith of the king’s house. And they provided a seat for the Elder Ānanda alone and ministered to him.

When it was time for the monks to depart, the king came, and observing that the food, both hard and soft, had not been touched, he inquired, “Did not the noble monks come?” “The Elder Ānanda was the only one who came, your majesty.” “Just see the loss they have caused me,” said the king. Angry at the monks, he went to the Teacher and said, “Reverend Sir, I prepared food for five hundred monks, and Ānanda, it appears, was the only one who came. The food which was prepared remains there still untouched, and the monks have not put in the sign of an appearance in my house. Pray what is the reason for this?” The Teacher, imputing no fault to the monks, replied, “Great king, my disciples lack confidence in you; it must be for that reason that they failed to come.” And addressing the monks and setting forth first the conditions under which monks are not bound to visit families, and then the conditions under which it is proper for them so to do, he recited the following Sutta,

“Monks, there are nine traits the possession of which by a family disqualifies that family from receiving visits from the monks. Therefore if monks have not visited that family, they are under no obligations to visit it; and if they do visit it, they are under no obligations to sit down. What are the nine? They do not rise to meet them in a pleasing manner; they do not greet them in a pleasing manner; they do not seat them in a pleasing manner; they conceal what they possess; possessing much, they give little; possessing food of superior quality, they give food of inferior quality; instead of presenting their offerings respectfully, they present them disrespectfully; they do not sit down to hear the Law; they do not speak in a pleasing tone of voice. These, monks, are the nine traits the possession of which by a family disqualifies that family from receiving visits from the monks. Therefore if monks have not visited that family, they are under no obligations to visit it; and if they do visit it, they are under no obligations to sit down.

“Conversely, monks, there are nine traits the possession of which by a family entitles that family to receive visits from the monks. Therefore if monks have not visited that family, it is proper for them to visit it; and if they do visit it, it is proper for them to sit down. What are the nine? They rise to meet them in a pleasing manner; they greet them in a pleasing manner; they seat them in a pleasing manner; they do not conceal what they possess; possessing much, they give much; possessing food of superior quality, they give food of superior quality; instead of presenting their offerings disrespectfully, they present them respectfully; they sit down to hear the Law; they speak in a pleasing tone of voice. These, monks, are the nine traits the possession of which by a family entitles that family to receive visits from the monks. Therefore if monks have not visited that family, it is proper for them to visit it; and if they do visit it, it is proper for them to sit down.

“For this reason, great king, my disciples lacked confidence in you; it must be for this reason that they failed to come. Even so did wise men of old reside in a place unworthy of their confidence, and though served with respect, suffer the agonies of death, and therefore go to a place worthy of their confidence.” “When was that?” asked the king. So the Teacher related the following

3 a. Story of the Past: Kesava, Kappa, Nārada, and the King of Benāres

In times past, when Brahmadatta reigned in Benāres, a king named Kesava renounced his throne, retired from the world, and adopted the life of an ascetic; and five hundred of his retainers followed his example and retired from the world. Thereafter the king was known as the ascetic Kesava. Kappa, the keeper of his jewels, likewise retired from the world and became his pupil. The ascetic Kesava with his retinue resided for eight months in the Himālaya country and when the rainy season began, came to Benāres seeking salt and vinegar and entered the city for alms. The king was glad to see him, obtained his promise to live with him during the four months of the rains, gave him lodging in his garden, and went to wait upon him every evening and every morning.

The rest of the ascetics, after living there for a few days, were so annoyed by the sounds of the elephants and other animals that they became discontented and went to Kesava and said, “Teacher, we are unhappy and are going away.” “Where are you going, brethren?” “To the Himālaya country, Teacher.” “The very day we arrived the king obtained our promise to reside here during the four months of the rains. How then can we go, brethren?” “You did not so much as tell us when you gave him your promise; we cannot reside here any longer. We shall take up our residence not far from here, where we shall have news of you.” So they paid obeisance to him and departed, and the Teacher was left alone with his pupil Kappa.

When the king came to wait upon him, he asked, “Where have the noble monks gone?” “They said they were discontented and unhappy and have gone to the Himālaya country, great king.” It was not long before Kappa also became discontented. Although the Teacher tried repeatedly to dissuade him from leaving, he insisted that he could endure it no longer. So he departed, going and joining the others and taking up his residence not far off, where he could receive news of the Teacher.

The Teacher thought continually of his pupils and after a time began to suffer from an internal complaint. The king had him treated by physicians, but there was no improvement in his condition. Finally the ascetic said to him, “Great king, do you wish to have me get well?” “Reverend Sir, if only I could, I would make you well again this moment.” “Great king, if you desire to have me get well, send me to my pupils.” “Very well, Reverend Sir,” said the king. So the king had the ascetic laid on a bed and ordered four ministers led by Nārada to carry him to his pupils, saying to the ministers, “Find out how my noble Elder is getting on and send me word.”

The pupil Kappa, hearing that the Teacher was coming, went to meet him. “Where are the others?” asked Kesava. “They live in such and such a place,” replied Kappa. When the others heard that the Teacher had arrived, they assembled together, provided the Teacher with hot water, and presented him with various kinds of fruits. At that very moment he recovered from his sickness, and in a few days his body again took on a golden hue. Nārada asked him, “After leaving a king able to fulfill all desires, how, pray, does the Exalted Kesi like the hermitage of Kappa?” “Pleasant and agreeable are the trees, delighting the heart; the well-spoken words of Kappa delight me, Nārada.” “After eating the purest of hill-paddy, boiled with meat-gravy, how do you like millet and wild rice without salt?” “Whether the food be displeasing or pleasing, scanty or abundant, if only one can eat with confidence, confidence is the best flavor.”

When the Teacher had ended his lesson, he identified the characters in the Jātaka as follows, “At that time the king was Moggallāna, Nārada was Sāriputta, the pupil Kappa was Ānanda, and the ascetic Kesava was I myself. Thus, great king, in former times also wise men endured the agonies of death and went to a place worthy of their confidence. My own disciples lack confidence in you, I doubt not.” Story of the Past concluded.

The king thought to himself, “I must win the confidence of the Congregation of Monks. How best can I do it? The best way is for me to introduce into my house the daughter of some kinsman of the Supremely Enlightened One. In such case the probationers and novices will come to my house with confidence regularly, thinking, ‘The king is a kinsman of the Supremely Enlightened One.’ ” Accordingly he sent a message to the Sākiyas, saying, “Give me one of your daughters.” And he ordered the messengers to learn the name of the Sākiya whose daughter it was and to return to him. The messengers went and asked the Sākiyas for a maiden.

The Sākiyas assembled and said to each other, “The king is an enemy of ours. Therefore if we refuse to give him what he demands, he will destroy us. Moreover, he is not of equal birth with ourselves. What is to be done?” Mahānāma said, “I have a daughter named Vāsabhakhattiyā, born of a slave-woman of mine, and she is a maiden of surpassing beauty; we will give her to him.” So he said to the messengers, “Very well, we will give the king one of our maidens.” “Whose daughter is it?” “She is the daughter of Mahānāma the Sākiya, and Mahānāma is the son of the uncle of the Supremely Enlightened One. The maiden’s name is Vāsabhakhattiyā.” The messengers went and told the king.

Said the king, “If this be so, well and good. Bring her to me immediately. But those princes of the Warrior caste are full of deceit; they may even send me the daughter of a slave-woman. Therefore do not bring her unless she eats out of the same dish as her father.” So saying, he sent the messengers back. They went to Mahānāma and said, “Your majesty, the king desires that she eat with you.” “Very well, friends,” said Mahānāma. So he had his daughter adorn herself and come to him at meal-time. And he went through the form of eating with her, and then delivered her over to the messengers. The messengers escorted her to Sāvatthi and told the king what had happened. The king’s heart rejoiced, and he straightway placed her at the head of five hundred women and sprinkled her as his chief consort.

In no long time she gave birth to a son, the hue of whose body was as the hue of gold. The king rejoiced thereat and sent word to his own grandmother, “Vāsabhakhattiyā, daughter of the king of the Sākiyas, has given birth to a son. Give him a name.” Now the minister who took the message and conveyed it to the king’s grandmother was a little deaf. The result was that when the grandmother, upon receiving the message, exclaimed, “Even before she gave birth to a child, Vāsabhakhattiyā won the hearts of all the people; but now she must be dear to the king beyond measure,” the deaf minister mistook the word vallabhā, “dear,” for Viḍūḍabha, and went and said to the king, “Give the prince the name Viḍūḍabha.” The king thought to himself, “That must be one of our old family names,” and gave the child the name Viḍūḍabha. When he was but a mere boy, the king appointed him commander-in-chief of the army, thinking that it would please the Teacher.

Viḍūḍabha was brought up in princely state. When he was seven years old, observing that the other princes received presents of toy elephants, horses, and the like from their maternal grandfathers, he asked his mother, “Mother, the other princes receive presents from their maternal grandfathers, but no one ever sends me any. Have you no mother and father?” She replied, “Dear son, your grandparents are Sākiya kings, and they live a long way off; that is why they never send you anything.” Thus did she deceive him. Again when he was sixteen years old, he said to her, “Dear mother, I should like to go and see your family, that of my maternal grandfather.” But she put him off, saying, “Nay, my dear son, what would you do there?” However, in spite of her refusals, he repeated his request several times.

Finally his mother gave her consent, saying, “Very well, you may go.” He informed his father and set out with a large retinue. Vāsabhakhattiyā sent a letter ahead of him, saying, “I am living here happily. Let not my lords make any difference in their treatment of him.” When the Sākiyas learned that Viḍūḍabha was coming, they said to themselves, “It is impossible for us to pay obeisance to him.” Accordingly they sent the younger princes to the country, and when he arrived at the city of Kapila, they assembled in the royal rest-house. Viḍūḍabha arrived at the rest-house and stopped there. They said to him, “Friend, this is your maternal grandfather and this is your uncle.” As he went about, paying obeisance to all, he noticed that not a single one paid obeisance to him. So he asked, “How is it there are none that pay obeisance to me?” The Sākiyas replied, “Friend, the younger princes have gone to the country.” However, they showed him every hospitality. After remaining there a few days, he departed with his large retinue.

Now a certain slave-woman washed with milk and water the seat in the royal rest-house on which Viḍūḍabha had sat; and as she did so, she remarked contemptuously, “This is the seat on which sat the son of the slave-woman Vāsabhakhattiyā!” A certain man who had forgotten his sword went back for it, and as he took it, overheard the slave-woman’s contemptuous remark about the prince Viḍūḍabha. Inquiring into the matter, he learned that Vāsabhakhattiyā was the daughter of a slave-woman of Mahānāma the Sākiya. And he went and informed the army, “Vāsabhakhattiyā, I am told, is the daughter of a slave-woman.” Immediately there was a great uproar. When Viḍūḍabha learned of the incident, he made the following vow, “These Sākiyas now wash the seat whereon I sat with milk and water; when I am established in my kingdom, I will wash my seat with the blood of their throats.”

When the prince returned to Sāvatthi, the ministers told the king everything that had happened. The king was angry at the Sākiyas for giving him the daughter of a slave-woman, cut off the royal honors which had been bestowed on Vāsabhakhattiyā and her son, and degraded them to the condition of slaves.

A few days afterwards the Teacher went to the royal residence and sat down. The king came, paid obeisance to him, and said, “Reverend Sir, I am informed that it was the daughter of a slave-woman that your kinsmen gave me. I have therefore cut off the royal honors which have hitherto been bestowed on her and her son and have degraded them to the condition of slaves.” The Teacher replied, “It was not right, great king, for the Sākiyas so to do. When they gave you one of their daughters, they should have given you a maiden of equal birth with yourself. But, great king, I have this also to say to you: Vāsabhakhattiyā is the daughter of a king and received the ceremonial sprinkling in the house of a king of the Warrior caste. Viḍūḍabha also is the son of a king. What matters the family of the mother? It is the family of the father that affords the only true measure of social position. Wise men of old bestowed the honor of chief consort on a poor woman who picked up sticks; and the prince she bore became king of Benāres, a city twelve leagues in extent, and bore the name Katthavāhana.” So saying, he related the Kaṭṭhahārika Jātaka. The king listened to his discourse on the Law, and pleased at the thought, “It is the family of the father that affords the only true measure of social position,” restored to mother and son their former honors.

At Kusinārā, Mallikā, daughter of Mallikā and wife of Bandhula, commander-in-chief of the army, remained for a long time childless. Accordingly Bandhula put her away, saying, “Go back again to the house of your own family.” She thought to herself, “I will see the Teacher before I go.” Therefore she entered Jetavana, paid obeisance to the Tathāgata, and waited. “Where are you going?” asked the Teacher. “My husband has sent me back to the house of my family, Reverend Sir.” “Why?” “On the ground that I am barren, having borne him no children.” “If this be true, it is no reason why you should go back to your family. Return to your husband.” Joyful at heart, she paid obeisance to the Teacher and returned to her husband’s house. “Why have you returned?” he asked. “I was directed to return by Him that is Possessed of the Ten Forces,” she replied. “The Far-seeing One must have seen some reason,” thought Bandhula and acquiesced.

After a short time Mallikā conceived a child in her womb, and the longing of pregnancy arose within her. She said to her husband, “The longing of pregnancy has arisen within me.” “What is the nature of your longing?” he asked. She replied, “Husband, in the city of Vesali is a lotus-tank used by troops of princes at coronation festivals. I long to descend therein, to swim therein, and to drink the water thereof.” “Very well,” said Bandhula. And taking his bow, which required the strength of a thousand men to string, he assisted his wife to mount the chariot and drove in his chariot from Sāvatthi to Vesali, entering Vesali by the gate which had been given to the Licchavi prince Mahāli. Now the Licchavi prince Mahāli dwelt in a house hard by the gate; and when he heard the rumble of the chariot on the threshold, he said to himself, “That is the sound of Bandhula’s chariot. There is trouble in store for the Licchavi princes to-day.”

Both within and without the lotus-tank were posted strong guards, and the tank was covered overhead by an iron grating with meshes so small that not even birds could get through. But Bandhula, commander-in-chief of the army, descended from his chariot, smote the guards with his staff, and drove them away. Then he tore down the grating, entered the lotus-tank, and permitted his wife to bathe therein. And having himself bathed therein, he departed from the city and returned by the same road by which he came.

The men of the guard reported the matter to the Licchavi princes. Thereupon the Licchavi princes were filled with rage, and mounting five hundred chariots, they departed from the city, saying, “We will capture Bandhula and Mallikā.” Mahāli said to them, “Do not go, for he will kill every man of you.” But they replied, “We will go all the same.” “Well then, turn back when you see his chariot sink into the ground up to the nave. If you do not turn back then, you will hear before you, as it were, the crash of a thunderbolt. Then you must not fail to turn back. If you do not turn back then, you will see a hole in the yokes of your chariots. Turn back then; go no farther.” But in spite of Mahāli’s warnings, they did not turn back, but pursued him.

Mallikā saw them and said, “There are chariots in sight, husband.” “Very well! When they appear as a single chariot, tell me.” So when all of them appeared as a single chariot, she said, “It looks like the front of a single chariot.” “Well then,” said Bandhula, “take these reins.” And giving her the reins, he stood up in the chariot and raised his bow. Thereupon the wheels of his chariot sank into the ground up to the nave. Although the Licchavi princes saw his chariot sink into the ground, they did not turn back. After going a little way, Bandhula twanged his bow-string, the sound whereof was as the crash of a thunderbolt. Not even then did his enemies turn back, but continued their pursuit just the same. Then Bandhula, standing in his chariot, let fly a single arrow. The arrow made a hole in the front of each of five hundred chariots, passed through the body of each of five hundred princes at the spot where he wore his girdle, and then entered the earth.

But the Licchavi princes, unaware that they were pierced through and through, cried out, “Halt where you are! Halt where you are!” So saying, they continued their pursuit. Bandhula stopped his chariot and said, “You are all dead men! I will not fight with the dead.” “Do we look like dead men?” they asked. “Well then,” replied Bandhula, “loosen the girdle of the foremost of your band.” They loosened his girdle. The instant it was loosened he fell down dead. Then said Bandhula, “You are all in the same plight as your leader. Go to your own homes, settle such of your concerns as need to be settled, give final instructions to your sons and your wives, and then take off your armor.” They did so, whereupon all of them fell down dead. Then Bandhula conducted Mallikā to Sāvatthi.

Sixteen times Mallikā bore twin sons to Bandhula, and all of them were valiant men, endowed with great strength. All of them attained perfection in the several arts. Each of them had a retinue of a thousand men; and when they accompanied their father to the royal residence, the palace court was filled with their numerous company. One day some men who had been defeated in a false suit in court saw Bandhula approaching, and with loud cries of protest told him of the unjust actions of the judges. Bandhula thereupon went to the court and decided the case in such wise as to make the rightful owner the actual owner. The populace applauded him with loud shouts of approval. The king asked, “What is this commotion about?” When he heard the explanation, he was pleased, and removing all those judges, he turned over the administration of justice to Bandhula alone, who thereafter rendered just judgments.

The former judges, who suffered severe loss from the cutting off of their bribes, created dissensions among the members of the royal family, saying, “Bandhula aspires to the throne.” The king believed their talk and was unable to control his feelings. “But,” thought he, “if this man is killed right here, I shall be severely blamed.” On second thought he suborned men to make an attack on his own frontier. Then he summoned Bandhula and sent him forth, saying, “I am informed that the frontier is in a state of insurrection. Take your sons with you and go and capture the brigands.” And he sent with him a sufficient number of powerful warriors besides, saying to them, “Cut off the heads of Bandhula and his two and thirty sons and bring them to me.” When Bandhula reached the frontier and the hired brigands heard that the commander-in-chief had come, they fled. Bandhula rendered the country habitable once more, restored peace, and then set out on his return. When he reached a place not far from the city, those warriors attacked him and cut off his head and the heads of his sons.

That day Mallikā had invited the two Chief Disciples to her house, together with five hundred monks. And that very morning they brought and gave her a letter reading as follows, “Your husband’s head has been cut off and likewise the heads of your sons.” When she learned the news, she said not a word to anyone, but put the letter in a fold of her dress and ministered to the Congregation of Monks as if nothing had happened. Now it happened that while her servants were serving food to the monks, they brought in a jar of ghee and let the jar fall and break before the very eyes of the Elders. The Captain of the Faith said, “No notice should ever be taken of the breaking of anything that is capable of being broken.” Thereupon Mallikā, drawing the letter from the fold of her dress, said, “They have just brought me this letter: ‘The head of your husband has been cut off and the heads of your two and thirty sons likewise.’ Yet even when I heard this, I took no thought. Much less, therefore, am I likely to take thought of the breaking of a mere jar, Reverend Sir.”

The Captain of the Faith recited the Stanzas beginning, “Unmarked, unknown, is the life of mortals here,” and having taught the Law, rose from his seat and went to the monastery. Mallikā summoned her two and thirty daughters-in-law and admonished them as follows, “Your husbands were free from guilt and have merely reaped the fruit of misdeeds in previous states of existence. Grieve not, nor lament. Cherish no resentment against the king.” The king’s spies listened to her words and went and told the king that they cherished no hatred of him. The king was overcome with emotion, went to Mallikā’s residence, asked Mallikā and her daughters-in-law to forgive him, and granted Mallikā a boon. “I accept,” said she.

So when the king had departed and she had given the feast in honor of the dead, she bathed, and approaching the king, said, “Your majesty, you granted me a boon. I desire nothing other than this, that you permit me and my two and thirty daughters-in-law to return to the homes of our families.” The king consented, and she thereupon sent her two and thirty daughters-in-law to their respective homes and herself went to the city of Kusinārā to the house of her own family. The king appointed to the post of commander-in-chief of the army Dīghakārāyaṇa, a nephew of the former commander-in-chief Bandhula. And Dīghakārāyaṇa went about reviling the king and saying, “It was the king that killed my uncle.”

From the day the king killed the guiltless Bandhula he suffered from remorse, had no peace of mind, and experienced no pleasure in ruling. Now at that time the Teacher was in residence near a small village of the Sākiyas named Uḷumpa. The king went thither, pitched camp not far from the Grove where the Teacher resided, and thinking, “I will pay my respects to the Teacher,” went to the monastery, accompanied by a small retinue. Giving the five symbols of royalty to Dīghakārāyaṇa, he entered the Perfumed Chamber alone. (Everything is to be understood as narrated in the Dhammacetiya Suttanta.)

When Pasenadi entered the Perfumed Chamber, Kārāyaṇa took the five symbols of royalty and made Viḍūḍabha king. Then, leaving behind a single horse and a single female servant for Pasenadi, he went to Sāvatthi. The king held sweet converse with the Teacher, and then came out. Not seeing the army, he questioned the woman, and from her learned what had happened. “I will take my nephew with me and capture Viḍūḍabha,” said the king, and went to the city of Rājagaha. It was late in the day when he reached the city, and the gates were closed. Exhausted by exposure to the wind and the sun, Pasendi lay down in a certain rest-house and died there in the night. As the night grew bright, they heard the voice of that woman lamenting, “King of Kosala, you have lost your protector!” And they went and told the new king. Thereupon Viḍūḍabha performed the funeral rites over the body of his uncle Pasenadi with great pomp.

When Viḍūḍabha became king, he remembered his grudge. And saying to himself, “I will slay all the Sākiyas,” he set out with a large army. On that day, as the Teacher surveyed the world at dawn, he saw the impending destruction of his kinsfolk. And thinking, “I must protect my kinsfolk,” he went on his round for alms in the morning; and returning from his alms-pilgrimage, lay down lion-like on his right side in the Perfumed Chamber; and in the evening went through the air and sat down at the foot of a tree with scanty shade in the vicinity of Kapilavatthu. Not far from there, on the boundary of Viḍūḍabha’s kingdom, stood a great banyan-tree giving dense shade.

Viḍūḍabha, seeing the Teacher, approached him, paid obeisance to him, and said, “Reverend Sir, why do you sit at the foot of this tree with scanty shade when it is so hot? Sit at the foot of this banyan-tree which gives dense shade, Reverend Sir.” “Be not concerned, great king. The shade of my kinsmen keeps me cool.” “The Teacher must have come for the purpose of protecting his kinsfolk,” thought Viḍūḍabha, and having paid obeisance to the Teacher, he turned and went back to Sāvatthi. The Teacher rose into the air and returned to Jetavana.

The king remembered his hatred of the Sākiyas and went forth the second time, but seeing the Teacher in the same place, turned back. Again the third time he went forth, but seeing the Teacher in the same place, turned back. But when he went forth the fourth time, the Teacher, surveying the former deeds of the Sākiyas and realizing the impossibility of averting the consequences of the evil deed they committed by throwing poison into the river, refrained from going the fourth time.

Viḍūḍabha therefore went forth with a large force, saying, “I will slay the Sākiyas.” Now the kinsmen of the Supremely Enlightened One do not slay their enemies, but are willing to die rather than take the lives of others. Therefore they said to themselves, “We are trained and skillful; we are expert archers and adepts with the long bow. Since it is unlawful for us to take the lives of others, we will put them to flight by a display of our skill.” So they put on their armor and went forth and began battle. The arrows they shot sped through the ranks of Viḍūḍabha’s men, passing between their shields and through the holes for the ears, without hitting a man. When Viḍūḍabha saw the arrows fly, he said, “I have understood it to be a boast of the Sākiyas that they do not kill their enemies; but they are now killing my men.” One of his men asked him, “Master, why do you turn and look about you?” “The Sākiyas are killing my men.” “Not one of your men is dead; pray have them counted.” He had them counted and perceived that he had not lost one.

As Viḍūḍabha turned back, he said to his men, “I direct you to kill all those who say, ‘We are Sākiyas,’ but to spare the lives of those who follow Mahānāma the Sākiya.” The Sākiyas stood their ground, and having no other resources, some took blades of grass in their teeth, while others held reeds. Now the Sākiyas would rather die than utter an untruth. So when they were asked, “Are you Sākiyas or not?” those who held blades of grass in their teeth said, “Not sāka, ‘potherb,’ but ‘grass’;” while those who held reeds said, “Not sāka, ‘potherb,’ but ‘reed.’ ” The lives of those who followed Mahānāma were spared. Those of the Sākiyas who held blades of grass in their teeth came to be known as Grass Sākiyas, and those who held reeds as Reed Sākiyas. Viḍūḍabha slew all the rest, sparing not even infants at the breast. And when he had set flowing a river of blood, he washed his seat with the blood of their throats. Thus was the stock of the Sākiyas uprooted by Viḍūḍabha.

Viḍūḍabha captured Mahānāma the Sākiya and set out to return. When it was time for breakfast, he stopped at a certain place and thought to himself, “I will now have breakfast.” When the food was brought to him, he said to himself, “I will eat with my grandfather,” and sent for him. Now members of the Warrior caste would rather give up their lives than eat with the sons of slave-women. Therefore Mahānāma, seeing a certain lake, said, “Dear grandson, my limbs are dirty. I wish to go and bathe.” “Very well, grandfather, go and bathe.” Mahānāma thought to himself, “If I refuse to eat with him, he will kill me. That being the case, it is better for me to die by my own hand.” So taking down his hair, he knotted it at the end, thrust his great toes into his hair, and plunged into the water.

By the power of his merit the abode of the Nāgas manifested signs of heat. The king of the Nāgas, considering within himself, “What does this mean?” went to him, caused him to sit within his hood, and carried him to the abode of the Nāgas. There he dwelt for twelve years. Viḍūḍabha sat down and thought, “Now my grandfather will come; now my grandfather will come.” Finally, after his grandfather had, as he thought, tarried an excessively long time, he caused the lake to be searched by lamplight, even examining the insides of his followers’ clothing. Seeing him nowhere, he made up his mind, “He must have gone,” and departed.

During the night Viḍūḍabha reached the river Aciravatī and pitched camp. Some of his followers lay down in the bed of the river on a bed of sand, others lay down on the banks on solid earth. Now those who lay in the bed of the river had not been guilty of sin in previous states of existence, but those who lay on the banks had been guilty of sin in previous states of existence. It so happened that ants came out of the ground where they lay. So they arose, saying, “There are ants where we are lying! There are ants where we are lying!” And those who had not been guilty of sin went up out of the bed of the river and lay down on solid earth, while those who had been guilty of sin descended and lay down on the bed of sand. At that moment a storm came up and there was an incessant downpour of rain. The flood filled the bed of the river and carried Viḍūḍabha and his retinue out to sea, and all of them became food for fishes and tortoises.

The multitude began to discuss the incident. “The slaying of the Sākiyas was unjust. It was not right to say, ‘The Sākiyas must be killed,’ and to smite them and kill them.” The Teacher heard the discussion and said, “Monks, if you regard only this present existence, it was indeed unjust that the Sākiyas should die in such wise. What they received, however, was entirely just, considering the sin they committed in a previous state of existence.” “What was the sin they committed in a previous state of existence, Reverend Sir?” “In a previous state of existence they conspired together and threw poison into the river.”

Again one day in the Hall of Truth the monks began a discussion: “Viḍūḍabha slew all those Sākiyas, and then, before the desire of his own heart had been fulfilled, he and his numerous company were swept out to sea and became food for fishes and tortoises.” The Teacher came in and asked, “Monks, what is it you are gathered here now talking about?” When they told him, he said, “Monks, or ever the desire of these living beings be fulfilled, even as a mighty flood overwhelms a sleeping village, so the Prince of Death cuts short their lives and plunges them into the four oceans of suffering.” So saying, he pronounced the following Stanza,

47. Even while a man is gathering flowers and is absorbed in pleasure,
Death comes and carries him off, even as a mighty flood overwhelms a sleeping village.

  1. The story of Viḍūḍabha is the same story as that related in the Introduction to Jātaka 465: iv. 144-153. Dh. cm., i. 34608-35723, is almost word for word the same as Jātaka iv. 14611-15229. Cf. Hardy, Manual of Buddhism, pp. 290-294; also Rhys Davids, Buddhist India, p. 11. The embedded Story of the Past (Dh. cm., i. 34218-34504) is a free version of Jātaka 346: iii. 14229-14519. Text: Ni. 337-361.
  2. Ed. note: it is oddly worded, but what it means is, he anointed him.
  3. Ed. note: Again oddly worded, it means they gave him the income from one of the gates where taxes were paid to enter the city.
  4. Aṅguttara, iv. 38713-38806.
  5. Jātaka 7: i. 133-136.
  6. Sutta Nipāta, iii. 8 (Stanzas 574-593). Ed. note: Salla Sutta, on the unsatisfactory nature on existence.
  7. Majjhima, 89: ii. 118-125. Ed. note: the King was passing through the country and had arrived at Nagaraka when he heard that the Buddha was nearby, he therefore went with Kārāyaṇa to meet the Buddha. We learn from the discourse that both the Buddha and the King were 80 years old at the time.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.