Tích Nàng Sư Phụ
Patipūjikakumārivatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 48 Kinh Pháp Cú, phẩm Hoa, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 48)
“Pupphāni h’eva pacinantaṃ,
Byāsattamanasaṃ naraṃ;
Atittaṃ yeva kāmesu,
Antako kurute vasaṃ.”
“ Kẻ đang mãi hái hoa,
Tâm còn vọng tưởng xa.
Tìm hưởng thú dục lạc,
Tử thần nhốt chẳng tha.”
Kệ Pháp Cú nầy Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài an ngự gần thành Sāvatthī đề cập đến nàng Patipūjikā (Sự Phụ).
Chuyện nầy khởi đầu từ trên cung trời Đao Lợi.
Tương truyền rằng: Thuở ấy trên Tam thập tam thiên có vị Thiên tử (Devaputta) có hiệu là Mālābhārī (Hoa Quang), dắt theo hàng ngàn ngọc nữ ngự du trong vườn thượng uyển. Năm trăm thiên nữ trèo lên cây hái hoa ném xuống, năm trăm ở dưới nhặt hoa đi trang điểm cho Thiên tử. Trong số Thiên nữ leo cây, có một nàng đang ngồi trên nhánh cây vừa hết tuổi thọ, ngọc thể của nàng biến mất cũng như ngọn đèn vụt tắt. Tâm thức nàng thọ sanh vào một gia đình khá giả trong thành Sāvatthī.
Khi ra đời, nàng nhớ được tiền kiếp của mình, biết: “Mình trước là ái thiếp của Thiên tử Mālābhārī trên cung trời Đao Lợi.”. Nên vừa lớn khôn nàng đã bắt đầu dâng cúng hương hoa, lễ vật nguyện cầu được siêu sanh trở về đoàn tụ với lang quân.
Lúc mười sáu tuổi, nàng xuất giá, từ đó nàng sống năng làm phước cúng dường thực phẩm đến Tăng bằng những cách thông thường như để bát chư Tỳ khưu mà nàng rút thẻ bắt thăm được, Trai Tăng mỗi ngày Uposatha (ngày rằm và ngày ba mươi), hoặc hộ Tăng trong ba tháng hạ… và phát nguyện rằng: “Xin cho sự phước thí nầy hãy là món duyên lành, giúp cho con được tái sanh hội hiệp với chồng con.”.
Chư Tỳ khưu nghe nàng ước nguyện như thế, sáng chiều hướng tâm đến chồng, nên đã đặt cho nàng biệt hiệu là nàng Patipūjikā (Sự Phụ). Nàng luôn chăm nom ngôi tọa đường (Āsana sālā) cho người, lo việc dâng nước và sắp đặt chỗ ngồi, những thiếu nữ khác khi muốn cúng dường, Trai Tăng cũng thường nhờ cậy nàng cho mượn chỗ và phụ tiếp công nữa, hoặc đưa vật thực đến mượn nàng thay mặt để lo hộ độ chư Tăng nơi ngôi tọa đường, cứ mỗi bước đến ngôi tọa đường, hoặc đi về nhà, là nàng Patipūjikā có được năm mươi sáu thiện pháp đều đều như vậy.
Nàng thọ thai, được mười tháng thì sanh được đứa con trai, khi đứa con đầu lòng biết đi, nàng sanh thêm được một đứa kế, và cứ thế, nàng hạ sanh được bốn đứa con trai.
Thế rồi, một hôm sau khi bố thí, cúng dường, thính pháp, thọ giới, đến cuối ngày không đau bịnh chi hết, nàng tự nhiên lìa bỏ cõi đời, siêu sanh về tái hội với chồng. Khi ấy, các Thiên nữ khác vẫn còn đang trang điểm cho Thiên tử Mālābhārī. Thiên tử thấy nàng thì hỏi:
- Từ sáng đến giờ không ai thấy nàng, vậy nàng đi đâu?
- Thưa chàng, thiếp đã mệnh chung.
- Nàng nói thật chứ?
- Vâng, quả đúng như thế, thưa chàng.
- Nàng sanh về đâu?
- Trong một gia đình khá giả nơi thành Sāvatthī.
- Nàng ở đó bao lâu?
- Ở trong bụng mẹ mười tháng thì ra đời, đến năm mười sáu tuổi thì xuất giá, sanh được bốn con trai rồi làm phước cúng dường và ước nguyện được trở về với chàng. Nên giờ đây mới được thọ sanh về đây đó chàng.
- Tuổi thọ nhân loại là bao nhiêu?
- Lối một trăm năm.
- Chỉ có bấy nhiêu ư?
- Vâng, thưa chàng.
- Sanh làm con người chỉ có bao nhiêu tuổi thọ thế, họ lại ăn ngủ buông lung, để mặc thời gian trôi qua hay là họ cúng dường làm phước vậy?
- Thưa chàng, chàng nói chi chuyện làm phước, người đời họ luôn luôn dể duôi, buông tuồng, y như là họ sống đến hết A tăng kỳ kiếp, không già không chết vậy.
Nghe đến đây, một mối kinh càm phát sanh lên trong lòng Thiên tử Mālābhārī. Nghe nói: “Sanh làm người chỉ sống có một trăm tuổi thọ, thế mà họ vẫn sống buông lung ăn ngủ mãi, thì họ biết bao giờ mới thoát khổ.”.
Ở Thiên giới chúng ta, một trăm năm cõi nhân loại chỉ bằng một ngày đêm cõi Đao Lợi nầy. Cứ ba mươi ngày đêm là một tháng, mười hai tháng là một năm, tuổi thọ nơi Đao Lợi thiên cung là một ngàn tuổi, tính theo tuổi nhân loại là ba mươi sáu triệu năm.
Bởi thế, nàng Thiên nữ khi thác xuống cõi người rồi trở về thiên giới chưa đến một ngày. Coi như mới đi trong chốc lát vậy. Con người có tuổi thọ ít oi như thế mà cứ buông lung giãi đãi thì thật là không phải cách.
Ngày hôm sau, chư Tỳ khưu vào ngồi trong tọa đường thấy không có người trông nom, chỗ ngồi không ai sắp đặt, nước không ai dâng cúng, bèn hỏi: “Nàng Sự Phụ đâu rồi?”.
- Bạch các Ngài ! Nàng ấy còn đâu nữa chỉ vừa mới ngày hôm qua, khi các Ngài thọ thực xong ra đi, thì chiều hôm ấy nàng đã qui thiên.
Nghe tin buồn, các Tỳ khưu tưởng nhớ đến công đức của nàng tín nữ quá cố mà không cầm được giọt lệ, các Thinh Văn Lậu Tận cũng phát sanh kinh cảm. Sau bữa cơm, chư Tăng về chùa đảnh lễ Đức Bổn Sư và bạch hỏi rằng:
- Bạch Ngài, nàng cận sự Patipūjikā sáng chiều hằng lo làm phước cúng dường lễ vật, phát nguyện xin được gần chồng, bây giờ nàng đã thác, không biết được thọ sanh về đâu?
- Nầy các Tỳ khưu ! Nàng thọ sanh về gần gũi với chồng nàng.
- Bạch Ngài ! Nàng chết rồi, đâu còn gần gũi với chồng nàng.
- Nầy chư Tỳ khưu ! Nàng không phát nguyện gần gũi với chồng ấy đâu. Chồng nàng là thiên tử Mālābhārī trên cõi Đao Lợi, khi nàng đang trèo lên cây hái hoa để trang điểm cho chồng thì hết tuổi thọ, hạ sanh về nhân loại, bây giờ thì đã trở về với chồng cũ rồi.
- Bạch Ngài, có thật như thế ư?
- Nầy các Tỳ khưu ! Có thật như thế.
- Ôi! Kiếp sống của chúng sanh thật là nhỏ nhen ngắn ngủi bạch Ngài, mới hồi sáng nàng còn hộ độ chúng con, kế buổi chiều nàng phát bịnh chết liền.
Đức Bổn Sư đáp: “Phải đó, các Tỳ khưu, đời sống chúng sanh ngắn ngủi là thường lệ, những chúng sanh nầy còn đang mải miết hái hoa ngũ trần dục lạc, thì bị tử thần bắt giữ, dầu cho có than van khóc lóc, tử thần cũng bắt đi luôn.”.
Rồi Đức Bổn Sư thuyết kệ rằng:
“Pupphāni h’eva pacinantaṃ,
Byāsattamanasaṃ naraṃ;
Atittaṃ yeva kāmesu,
Antako kurute vasaṃ.”
“Kẻ mãi hái hoa vô tình,
Tâm còn vọng tưởng chẳng gìn giữ thân.
Trong giờ thọ hưởng ngũ trần,
Lòng còn nô lệ, tử thần chẳng xa.”
CHÚ GIẢI:
Pupphāni h’eva pacinantaṃ: Như người thợ làm tràng hoa vào vườn hoa mải mê hái hoa. Người ham mê ngũ trần mải mê góp nhặt những vật dính liền vào xác thân. Xác thân và các đồ vật dụng khác, gọi là hoa dục lạc.
Byāsattamanasaṃ naraṃ: Tâm lưu luyến đủ mọi cách, chỗ nào chưa đến thì khát khao mong mỏi, chỗ nào đã đến rồi thì nịch ái đắm say.
Atittaṃ yeva kāmesu: Không bao giờ thỏa mãn trong sự tìm kiếm, thọ hưởng tích trữ mọi thứ ngũ trần dục lạc.
Antako kurute vasaṃ: Bị lọt vào tay của Tử thần là sự chết, dầu cho thở than khóc lóc gì cũng vô ích, thế nào cũng bị nó bắt đem đi.
Bài kệ chấm dứt, nhiều vị Tỳ khưu chứng đắc Thánh quả, nhứt là Thánh quả Tu Đà Hườn, đại chúng thính pháp đều được hưởng nhiều lợi ích.
Một phút thiên đình lỡ sẩy chân,
Sự Phụ sa đọa xuống hồng trần.
Hái hoa còn nhớ khi đoàn tụ,
Làm phước chưa quên buổi hợp quần.
Sống chỉ nguyện siêu về cảnh cũ,
Thác không lo đoạn mất tình thân.
Giữa thời xuân sắc xinh như mộng,
Giã biệt chồng con dứt nợ trần.
DỨT TÍCH NÀNG SỰ PHỤ
Patipūjikakumārivatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Pupphāni hevāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā sāvatthiyaṃ viharanto patipūjikaṃ nāma kumārikaṃ ārabbha kathesi. Vatthu tāvatiṃsadevaloke samuṭṭhitaṃ.
Tattha kira mālabhārī nāma devaputto accharāsahassaparivuto uyyānaṃ pāvisi. Pañcasatā devadhītaro rukkhaṃ āruyha pupphāni pātenti, pañcasatā patitāni pupphāni gahetvā devaputtaṃ alaṅkaronti. Tāsu ekā devadhītā rukkhasākhāyameva cutā, sarīraṃ dīpasikhā viya nibbāyi. Sā sāvatthiyaṃ ekasmiṃ kulagehe paṭisandhiṃ gahetvā jātakāle jātissarā hutvā “mālabhārīdevaputtassa bhariyāmhī”ti anussarantī vuḍḍhimanvāya gandhamālādīhi pūjaṃ katvā sāmikassa santike abhinibbattiṃ patthesi. Sā soḷasavassakāle parakulaṃ gatāpi salākabhattapakkhikabhattavassāvāsikādīni datvā, “ayaṃ me sāmikassa santike nibbattanatthāya paccayo hotū”ti vadati. Athassā bhikkhū “ayaṃ kumārikā uṭṭhāya samuṭṭhāya patimeva patthetīti patipūjikā”ti nāmaṃ kariṃsu. Sāpi nibaddhaṃ āsanasālaṃ paṭijaggati, pānīyaṃ upaṭṭhapeti, āsanāni paññapeti. Aññepi manussā salākabhattādīni dātukāmā, “amma, imānipi bhikkhusaṅghassa paṭipādeyyāsī”ti vatvā āharitvā denti. Sāpi etena niyāmena āgacchantī gacchantī ekapadavāre chapaññāsa kusaladhamme (dha. sa. 1; dha. sa. aṭṭha. 1 yevāpanakavaṇṇanā) paṭilabhati. Tassā kucchiyaṃ gabbho patiṭṭhahi. Sā dasamāsaccayena puttaṃ vijāyi. Tassa padasā gamanakāle aññampi aññampīti cattāro putte paṭilabhi.
Sā ekadivasaṃ dānaṃ datvā pūjaṃ katvā dhammaṃ sutvā sikkhāpadāni rakkhitvā divasapariyosāne taṃ khaṇaṃ nibbattena kenaci rogena kālaṃ katvā attano sāmikasseva santike nibbatti. Itarāpi ettakaṃ kālaṃ devaputtaṃ alaṅkaronti eva. Devaputto taṃ disvā “tvaṃ pātova paṭṭhāya na dissasi, kuhiṃ gatāsī”ti āha. “Cutāmhi sāmī”ti. “Kiṃ vadesī”ti? “Evametaṃ, sāmī”ti. “Kuhiṃ nibbattāsī”ti? “Sāvatthiyaṃ kulagehe”ti. “Kittakaṃ kālaṃ tattha ṭhitāsī”ti? “Dasamāsaccayena mātu kucchito nikkhamitvā soḷasavassakāle parakulaṃ gantvā cattāro putte vijāyitvā dānādīni puññāni katvā tumhe patthetvā āgantvā tumhākameva santike nibbattāmhi, sāmī”ti. “Manussānaṃ kittakaṃ āyū”ti? “Vassasatamatta”nti. “Ettakamevā”ti? “Āma, sāmī”ti. “Ettakaṃ āyuṃ gahetvā nibbattamanussā kiṃ nu kho suttapamattā kālaṃ atikkāmenti, udāhu dānādīni puññāni karontī”ti. “Kiṃ vadetha, sāmi”? “Asaṅkhyeyyaṃ āyuṃ gahetvā nibbattā viya ajarāmarā viya ca niccaṃ pamattā, manussā”ti. Mālabhārīdevaputtassa mahāsaṃvego udapādi “vassasatamattamāyuṃ gahetvā nibbattamanussā kira pamattā nipajjitvā niddāyanti, kadā nu kho dukkhā muccissantī”ti? Manussānaṃ pana vassasataṃ tāvatiṃsānaṃ devānaṃ eko rattindivo, tāya rattiyā tiṃsarattiyo māso, tena māsena dvādasamāsiko saṃvaccharo, tena saṃvaccharena dibbavassasahassaṃ āyuppamāṇaṃ, taṃ manussagaṇanāya tisso vassakoṭiyo, saṭṭhi ca vassasatasahassāni honti. Tasmā tassa devaputtassa ekadivasopi nātikkanto muhuttasadisova kālo ahosi. Evaṃ appāyukamanussānaṃ pamādo nāma ativiya ayuttoti.
Punadivase bhikkhū gāmaṃ paviṭṭhā āsanasālaṃ apaṭijaggitaṃ, āsanāni apaññattāni, pānīyaṃ anuṭṭhapitaṃ disvā, “kahaṃ patipūjikā”ti āhaṃsu. “Bhante, kahaṃ tumhe taṃ dakkhissatha, hiyyo ayyesu bhuñjitvā gatesu sāyanhasamaye matā”ti. Taṃ sutvā puthujjanā bhikkhū tassā upakāraṃ sarantā assūni sandhāretuṃ nāsakkhiṃsu. Khīṇāsavānaṃ dhammasaṃvego udapādi. Te bhattakiccaṃ katvā vihāraṃ gantvā satthāraṃ vanditvā pucchiṃsu – “bhante, patipūjikā nāma upāsikā uṭṭhāya samuṭṭhāya nānappakārāni puññāni katvā sāmikameva patthesi, sā idāni matā, kahaṃ nu kho nibbattā”ti? “Attano sāmikasseva santike, bhikkhave”ti. “Natthi, bhante, sāmikassa santike”ti. “Na sā, bhikkhave, etaṃ sāmikaṃ pattheti, tāvatiṃsabhavane tassā mālabhārīdevaputto nāma sāmiko, sā tassa pupphapilandhanaṭṭhānato cavitvā puna gantvā tasseva santike nibbattā”ti. “Evaṃ kira, bhante”ti. “Āma, bhikkhave”ti. “Aho parittaṃ, bhante, sattānaṃ jīvitaṃ, pātova amhe parivisitvā sāyaṃ uppannabyādhinā matā”ti. Satthā “āma, bhikkhave, parittaṃ sattānaṃ jīvitaṃ nāma, teneva ime satte vatthukāmehi ceva kilesakāmehi ca atitte eva antako attano vase vattetvā kandante paridevante gahetvā gacchatī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Pupphāni heva pacinantaṃ, byāsattamanasaṃ naraṃ;
Atittaṃyeva kāmesu, antako kurute vasa”nti.
Tattha pupphāni heva pacinantanti pupphārāme mālākāro nānāpupphāni viya attabhāvapaṭibaddhāni ceva upakaraṇapaṭibaddhāni ca kāmaguṇapupphāni ocinantameva. Byāsattamanasaṃ naranti asampattesu patthanāvasena, sampattesu gedhavasena vividhenākārena āsattacittaṃ. Atittaṃyeva kāmesūti vatthukāmakilesakāmesu pariyesanenapi paṭilābhenapi paribhogenapi nidhānenapi atittaṃ eva samānaṃ. Antako kurute vasanti maraṇasaṅkhāto antako kandantaṃ paridevantaṃ gahetvā gacchanto attano vasaṃ pāpetīti attho.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pattā, desanā mahājanassa sātthikā jātāti.
Patipūjikakumārivatthu catutthaṃ.
IV. 4. Husband-Honorer
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
48. Even while a man is gathering flowers, while his heart is absorbed in pleasure,
Even before he has satisfied his desires, death overpowers him.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Sāvatthi with reference to a woman named Husband-honorer, Patipūjikā. The story begins in the World of the Thirty-three.
The story goes that a god named Garland-wearer, Mālabhārī, entered the pleasure-garden in the World of the Thirty-three, accompanied by a thousand celestial nymphs. Five hundred of these nymphs climbed trees and threw down flowers; five hundred others gathered up the flowers that fell and decked the god therewith. One of these nymphs, even as she sat on the branch of a tree, passed from that state of existence, her body vanishing like the flame of a lamp, and received a new conception in Sāvatthi in a certain family of station. Born with a recollection of her former states of existence, and remembering that she had been the wife of the god Garland-wearer, she made offerings of perfumes and garlands when she grew up, making the Earnest Wish to be reborn with her former husband.
When she was sixteen years of age, she married into another family. And even then, whenever she gave the monks Ticket-food or Fortnightly-food or food for the season of the rains, she would say, “May this offering assist me to obtain rebirth with my former husband.” Said the monks, “This woman, ever busy and active, yearns only for her husband.” Therefore they called her Husband-honorer, Patipūjikā. She cared regularly for the Hall of Assembly, supplied water for drinking, and provided seats for the monks. Whenever others desired to give Ticket-food or Fortnightly-food, they would bring it and give it to her, saying, “Dear lady, pray present these to the Congregation of Monks.” Going to and fro in this manner, she obtained at one and the same time the Fifty-six Qualities of Goodness. She became pregnant and at the end of ten lunar months gave birth to a son; when her son was old enough to walk, she gave birth to another son, and then to another, until she had four sons.
One day she gave alms, rendered honor to the monks, listened to the Law, and kept the precepts, and at the end of that day died of some sudden sickness and was reborn with her former husband. During all that time the other celestial nymphs were decking the god with flowers. When the god Garland-wearer saw her, he said, “We have not seen you since morning. Where have you been?” “I passed from this existence, husband.” “What say you?” “Precisely so, husband.” “Where were you reborn?” “In a family of station at Sāvatthi.” “How long a time did you remain there?”
“At the end of the tenth lunar month I issued from the womb of my mother. When I was sixteen years old, I married into another family. I bore four sons, gave alms, and rendered honor to the monks, making an Earnest Wish to return and be reborn with you, husband.” “How long is the life of men?” “Only a hundred years.” “So short as that?” “Yes, husband.” “If men are reborn with so short a time as that to live, do they spend their time asleep and heedless, or do they give alms and render honor?” “What say you, husband? Men are ever heedless, as if reborn with an incalculable number of years to live, as if in no wise subject to old age and death.”
The god Garland-wearer was greatly agitated. Said he, “If, as you say, men are reborn with only a hundred years to live, and if they lie heedless and asleep, when will they ever obtain Release from Suffering?” (Now a hundred of our years are equivalent to a night and a day in the World of the Thirty-three Gods, thirty such nights and days make up a month, twelve such months make up a year, and the length of their lives is a thousand such celestial years; or, in human reckoning, thirty-six million years. Thus it was that for that god not a single day had passed; nay, not more than a moment of time. Therefore thought he to himself, “If the life of men is so short, it is highly improper for them to give themselves up to a life of heedlessness.”)
On the following day the monks, on entering the village, found the Hall of Assembly uncared for, no seats provided, no water supplied for drinking. “Where is Husband-honorer?” said they. “Reverend Sirs, how could you expect to see her? Yesterday at eventide, after your reverences had eaten and departed, she died.” Thereupon monks who had not yet attained the Fruit of Conversion, remembering her kindly services to them, were unable to restrain their tears; while monks who had attained Arahatship were overcome with religious emotion.
After eating their breakfast, they went to the monastery and asked the Teacher, “Reverend Sir, Husband-honorer, busy and active, performed all manner of works of merit and yearned only for her husband. Now she is dead. Where was she reborn?” “Monks, she was reborn with her own husband.” “But, Reverend Sir, she is not with her husband.” “Monks, she yearned not for that husband. Her husband was the god Garland-wearer in the World of the Thirty-three. She passed from that state of existence while decking him with flowers. Now she has returned to where she was before and has been reborn with him.” “Reverend Sir, is what you say true?” “Yes, monks, what I say is true.” “Oh, how short, Reverend Sir, is the life of creatures in this world! Early in the morning she served us with food, and in the evening she sickened and died.” The Teacher replied, “Yes, monks, the life of creatures in this world is indeed short. Therefore, while creatures in this world yet yearn for the things of earth and have not yet satisfied their desires for sensual pleasures, death overpowers them and carries them off wailing and weeping.” So saying, he pronounced the following Stanza,
48. Even while a man is gathering flowers, while his heart is absorbed in pleasure,
Even before he has satisfied his desires, death overpowers him.
- Text: N i. 362-366.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.