Nhân vật, nơi chốn

Ngài A-na-luật: thiên nhãn bậc nhất và tấm lòng hòa hợp

Một vương tử chưa từng làm việc gì, được hỏi có biết cày ruộng không, đã hỏi lại: “Vậy bao giờ thì xong việc?” Câu hỏi ấy đưa Ngài đến đời xuất gia, và đến bên giường Đức Phật trong giờ phút cuối.

Tóm lại: Ngài A-na-luật (Anuruddha) là vương tử Sakya sống trong nhung lụa, xuất gia vì thấy việc đời không bao giờ xong (Luật tạng, Kd 17). Ngài là bậc nhất về thiên nhãn (AN 1.192), được Đức Phật dạy thêm tư duy thứ tám của bậc đại nhân về sự không hý luận (AN 8.30), sống hòa hợp với bạn đồng tu “khác thân mà một tâm” (MN 31), và ở bên Đức Phật trong giờ nhập diệt (DN 16).

Bao giờ thì xong việc?

Luật tạng, Tiểu Phẩm, kể Anuruddha được nuôi trong nhung lụa, có ba tòa lầu cho ba mùa, suốt bốn tháng mùa mưa chỉ ở trên lầu với các nữ nhạc công (Kd 17, đoạn 1.1.4–1.1.7). Theo chú giải, Ngài sung túc đến mức không biết chữ “không có”. Người anh Mahānāma muốn nhà mình có một người xuất gia, nên bảo: em xuất gia, hoặc ở nhà học việc. Rồi anh giảng: phải cày ruộng, gieo hạt, dẫn nước, tháo nước, nhổ cỏ, gặt, gom, bó, đập, sàng, rồi cất vào kho; năm sau lại làm y như vậy (đoạn 1.2.1–1.2.15).

- “Thế các công việc không được ngưng lại hay sao? Sự chấm dứt của các công việc không được biết đến hay sao? Khi nào các công việc sẽ được ngưng lại? Khi nào sự chấm dứt các công việc sẽ được biết đến? Khi nào chúng ta mới được rảnh rỗi mà hưởng thụ năm phần dục lạc đã được ban cho, đã được sở hữu?” - “Này Anuruddha yêu dấu, công việc không được ngưng lại. Sự chấm dứt của các công việc không được biết đến. Khi công việc vẫn chưa ngưng lại, cha mẹ và ông đã qua đời.”

Luật tạng, Tiểu Phẩm, Kd 17, đoạn 1.2.16–1.2.23

Anuruddha nói: “Vậy anh cứ lo việc nhà, em sẽ xuất gia” (đoạn 1.2.24–1.2.25). Mẹ Ngài ra điều kiện: nếu vua Bhaddiya, bạn của con, xuất gia thì con được đi. Vua Bhaddiya xin đợi bảy năm, rồi mặc cả dần xuống bảy ngày để trao lại việc nước (đoạn 1.2.26–1.3.53). Bạn có thấy câu chuyện này quen không? Danh sách việc cần làm của chúng ta cũng không bao giờ trống.

Thiên nhãn bậc nhất

Ngay trong mùa an cư đầu tiên, Bhaddiya chứng ba minh, Anuruddha chứng thiên nhãn, Ānanda chứng quả Nhập lưu (Kd 17, đoạn 1.4.31–1.4.33). Tăng Chi Bộ ghi: trong hàng đệ tử Tỷ-kheo, người đứng đầu về thiên nhãn là Anuruddha (AN 1.192, đoạn 1.1). Thiên nhãn (dibbacakkhu) là khả năng thấy chúng sinh chết đi và tái sinh tùy theo nghiệp. Nhưng thần thông không phải là đích. Trong Trưởng Lão Tăng Kệ, Ngài nói điều đáng kể là: “Tôi đã chứng ba minh, đã làm xong lời dạy của Đức Phật” (Thag 16.9, kệ 12).

Tư duy thứ tám của bậc đại nhân

Tăng Chi Bộ 8.30 kể khi Ngài sống độc cư ở xứ Ceti, Ngài suy nghĩ: Pháp này dành cho người ít muốn, biết đủ, sống viễn ly, tinh tấn, có niệm, có định, có tuệ, không dành cho người ngược lại (AN 8.30, đoạn 1.3–1.10). Đức Phật biết tâm Ngài, hiện đến khen ngợi, và dạy thêm điều thứ tám: “Pháp này dành cho người ưa thích sự không hý luận, không dành cho người ưa thích hý luận” (đoạn 3.1–3.11). Hý luận (papañca) là tâm cứ triển khai, suy diễn mãi không dừng.

Đức Phật còn dạy: khi sống biết đủ, tấm y phấn tảo sẽ hiện ra với con như rương áo đủ màu của người gia chủ, gốc cây như ngôi nhà kín gió (đoạn 8.1–10.2). Ngài A-na-luật nhắc lại trong kệ: “Biết tâm tư của tôi, bậc Đạo Sư vô thượng đến với tôi bằng thân do ý tạo; Ngài dạy tôi vượt hơn điều tôi đã nghĩ; bậc Giác Ngộ ưa không hý luận đã dạy tôi sự không hý luận” (Thag 16.9, kệ 10–11).

Khác thân nhưng một tâm

Trung Bộ 31 kể Ngài sống trong rừng sāla Gosiṅga cùng hai vị Nandiya và Kimila. Đức Phật đến thăm và hỏi: các con có sống hòa hợp, hoan hỉ với nhau, không tranh cãi, hòa như nước với sữa, nhìn nhau bằng mắt thương yêu không? (MN 31, đoạn 6.1). Ngài A-na-luật thưa:

—Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con nghĩ như sau: “Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các vị đồng phạm hạnh như vậy”. Bạch Thế Tôn, do vậy, đối với các vị đồng phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy, chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”.

Trung Bộ 31, đoạn 7.1–7.10

Cách họ sống cũng rất đời thường: ai khất thực về trước thì sắp chỗ ngồi, đặt nước uống; ai về sau thì dùng phần còn lại rồi dọn dẹp, quét nhà ăn; thấy chum nước cạn thì đổ đầy, cần hai người thì vẫy tay gọi nhau mà không phá vỡ sự im lặng; và cứ năm ngày lại ngồi suốt đêm luận bàn Pháp (đoạn 9.3–9.8). Nếu bạn sống chung với gia đình chồng, hay ở chung phòng trọ, bạn biết điều này khó và quý đến mức nào.

Bên giường Đức Phật nhập diệt

Trường Bộ 16 kể ở Câu-thi-na, khi Đức Phật lần lượt nhập các tầng thiền rồi nhập Diệt thọ tưởng định, Tôn giả A-nan hỏi: “Bạch Ngài Anuruddha, Thế Tôn đã nhập diệt chưa?” Ngài đáp: “Chưa, hiền giả Ānanda. Thế Tôn đang nhập Diệt thọ tưởng định” (DN 16, đoạn 6.8.1–6.8.4). Khi Đức Phật nhập diệt, Ngài nói kệ: “Không còn hơi thở vào ra nơi bậc tâm vững trú… Ngài kham nhẫn cảm thọ với tâm không co rút; tâm giải thoát như ngọn đèn tắt” (đoạn 6.10.14–6.10.22). Rồi Ngài an ủi chư Tăng: chẳng phải Thế Tôn đã dạy rằng mọi thứ thân yêu đều phải chia lìa sao (đoạn 6.11.1–6.11.5). Ngài cũng giải thích vì sao giàn hỏa chưa cháy: phải đợi Ngài Ma-ha Ca-diếp đến đảnh lễ (đoạn 6.21.6–6.21.10).

Tên Ngài cũng có trong danh sách các vị trưởng lão nổi tiếng nghe Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm. Trong kệ, Ngài kể năm mươi lăm năm giữ hạnh ngồi không nằm, hai mươi lăm năm đã nhổ sạch cơn buồn ngủ (Thag 16.9, kệ 13). Ai hay ngủ gật khi ngồi thiền có thể đọc Kinh Ngủ Gật (AN 7.61).

Một gợi ý nhỏ

Tuần này, bạn thử một ngày sống theo câu của Ngài A-na-luật: “sao ta không gác ý mình lại mà làm theo ý người kia?”, với một việc nhỏ trong nhà mà mình vẫn hay giành phần đúng. Và khi thấy tâm mình đang suy diễn một câu chuyện dài từ một chuyện nhỏ, hãy nhớ tư duy thứ tám: Pháp này dành cho người ưa sự không hý luận.

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Luật tạng, Tiểu Phẩm, chương Phá Tăng, chuyện các vương tử Sakya xuất gia, Kd 17 trên SuttaCentral.
  2. Tăng Chi Bộ 1.192, phẩm Bậc Nhất, AN 1.188–197 trên SuttaCentral.
  3. Tăng Chi Bộ 8.30, Kinh Anuruddha, AN 8.30 trên SuttaCentral.
  4. Trung Bộ 31, Tiểu Kinh Rừng Sừng Bò, MN 31 trên SuttaCentral.
  5. Trường Bộ 16, Kinh Đại Bát Niết-bàn, DN 16 trên SuttaCentral.
  6. Trưởng Lão Tăng Kệ 16.9, kệ của Trưởng lão Anuruddha, Thag 16.9 trên SuttaCentral.
  7. Chuyện chữ “không có” và gia thế của Ngài Anuruddha: theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī) và chú giải Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā).
  8. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  9. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.
  10. Các đoạn Luật tạng trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của Tỳ khưu Indacanda (Tam Tạng Pāli - Việt, tamtangpaliviet.net), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Tích truyện cùng chủ đề

Các tích truyện dưới đây cùng chủ đề với bài, kể theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh