Nhân vật, nơi chốn

Ngài Ưu-ba-li: người thợ cạo trở thành bậc trì Luật

Trong Tăng đoàn, ai thọ giới trước thì được đảnh lễ trước, bất kể xuất thân. Câu chuyện của Ngài Ưu-ba-li, một người thợ cạo, cho thấy điều ấy rõ hơn mọi lời giải thích.

Tóm lại: Ngài Ưu-ba-li (Upāli) là người thợ cạo của các vương tử Sakya, được xuất gia trước họ để họ học hạ lòng kiêu mạn (Luật tạng, Kd 17). Ngài là bậc nhất về trì Luật (AN 1.228), từng xin vào rừng nhưng được Đức Phật khuyên ở lại với Tăng chúng (AN 10.99), và trong lần kết tập đầu tiên, chính Ngài trả lời các câu hỏi về Luật (Kd 21).

Bọc trang sức treo trên cành cây

Luật tạng, Tiểu Phẩm, chương Phá Tăng, kể: vua Bhaddiya của dòng Sakya và năm vương tử Anuruddha, Ānanda, Bhagu, Kimila, Devadatta, cùng người thợ cạo Upāli là người thứ bảy, kéo quân ra đi như những lần đi dạo vườn, rồi vượt sang lãnh thổ khác. Họ tháo hết đồ trang sức, gói trong một tấm áo, trao cho Upāli và bảo ông quay về, số này đủ cho ông sống (Kd 17, đoạn 1.4.1–1.4.4).

Trên đường về, Upāli nghĩ: dòng Sakya nóng tính, họ có thể cho rằng mình đã dẫn các vương tử đi và giết mình. Mà các vương tử còn xuất gia được, sao mình lại không? Ông mở bọc, treo đồ trang sức lên một cành cây, nói: “Ai thấy thì cứ lấy, xem như được cho,” rồi quay lại với các vương tử (đoạn 1.4.5–1.4.10). Đến trước Đức Phật, các vương tử thưa:

- “Bạch ngài, chúng tôi thuộc dòng Sakya có sự ngã mạn. Bạch ngài, thợ cạo Upāli này là người hầu cận của chúng tôi lâu nay. Xin đức Thế Tôn cho người này xuất gia trước tiên. Chúng tôi sẽ thực hiện việc đảnh lễ, việc đứng dậy, việc chắp tay, hành động thích hợp đối với ông ta. Như thế, sự ngã mạn của dòng Sakya trong những người Sakya chúng tôi sẽ không còn nữa.”

Luật tạng, Tiểu Phẩm, Kd 17, đoạn 1.4.25–1.4.29

Đức Phật cho Upāli xuất gia trước, rồi mới đến các vương tử (đoạn 1.4.30). Một người từng cầm dao cạo cho các vị vương tử, nay được chính các vị ấy đảnh lễ. Trung Bộ 84 cũng ghi cuộc đối thoại giữa Ngài Ma-ha Ca-chiên-diên và một vị vua: trả lời các câu hỏi của Ngài, chính nhà vua thừa nhận rằng người thuộc giai cấp nào, khi đã xuất gia, cũng chỉ được gọi là Sa-môn, và bốn giai cấp ngang nhau ở điểm ấy (MN 84, đoạn 9.1–9.17); bài Ngài Ma-ha Ca-chiên-diên kể rõ hơn.

Bậc trì Luật bậc nhất

Tăng Chi Bộ ghi: trong hàng đệ tử Tỷ-kheo, người đứng đầu về trì Luật là Upāli (AN 1.228, đoạn 1.1). “Trì Luật” (vinayadhara) là người thuộc lòng, hiểu rõ và biết áp dụng giới luật. Trong Trưởng Lão Tăng Kệ, Ngài khuyên người mới xuất gia vì niềm tin: hãy gần bạn lành, sống trong Tăng chúng, học Luật cho thông, biết điều gì nên và không nên (Thag 3.11, kệ 1–3).

Theo chú giải Tăng Chi Bộ, chính Đức Phật dạy cho Ngài toàn bộ Luật tạng, và Ngài được xếp vào hàng trì Luật bậc nhất sau khi phân xử đúng ba vụ việc khó.

Muốn vào rừng, được khuyên ở lại

Tăng Chi Bộ 10.99 kể Ngài thưa với Đức Phật rằng mình muốn sống ở những trú xứ xa vắng trong rừng sâu. Đức Phật dạy: rừng sâu khó ở, khó giữ viễn ly, khó tìm niềm vui trong độc cư; rừng như cướp mất tâm của vị Tỷ-kheo chưa có định (AN 10.99, đoạn 1.2–2.3). Ngài ví: một con voi lớn xuống hồ sâu thì tắm thỏa thích vì thân nó chạm được đáy; còn con thỏ hay con mèo bắt chước nhảy xuống thì chìm hoặc trôi đi (đoạn 3.1–4.10). Cuối bài kinh, Đức Phật nói: “Này Upāli, hãy ở lại với Tăng chúng. Ở với Tăng chúng, con sẽ được an ổn” (đoạn 38.2–38.3).

Lời khuyên này rất thực tế. Không phải ai cũng hợp với cùng một con đường; biết sức mình và chọn nơi mình lớn lên được là một phần của trí tuệ.

Vì sao có giới luật

Ngài Upāli hay hỏi về lý do. Một lần, Ngài hỏi vì sao Như Lai chế học giới. Đức Phật đáp vì mười lợi ích: vì sự tốt đẹp của Tăng chúng, vì sự an ổn của Tăng chúng, để chế ngự người khó dạy, để người hiền thiện được an vui, để ngăn các lậu hoặc trong đời này, để phòng các lậu hoặc đời sau, để người chưa tin sinh lòng tin, để người đã tin thêm tin, để Chánh pháp tồn tại lâu dài, và để hỗ trợ giới luật (AN 10.31, đoạn 2.3). Ngài cũng hỏi Đức Phật thế nào là Tăng bị chia rẽ, thế nào là Tăng hòa hợp (Kd 17, đoạn 5.1.1–5.3.22), câu hỏi rất hệ trọng sau chuyện Đề-bà-đạt-đa.

Ở nơi làm việc, bạn hẳn từng gặp một quy định có vẻ vô lý cho đến khi biết nó ra đời từ sự cố nào. Giới luật cũng vậy: mỗi điều đều có nhân duyên.

Người tụng Luật ở Vương Xá

Sau khi Đức Phật nhập diệt, trong lần kết tập do Ngài Ma-ha Ca-diếp chủ trì, Ngài Upāli được hỏi về Luật trước Tăng chúng:

- “Này sư đệ Upāli, điều pārājika thứ nhất đã được quy định ở đâu?” - “Thưa ngài, ở Vesāli.” - “Liên quan đến ai?” - “Liên quan đến Sudinna con trai của Kalanda.” - “Về sự việc gì?” - “Về việc (thực hiện việc) đôi lứa.”

Luật tạng, Tiểu Phẩm, Kd 21, đoạn 1.7.7–1.7.13

Cứ thế, Ngài được hỏi về từng điều: sự việc, nhân duyên, người liên quan, điều luật, các điều bổ sung, trường hợp phạm và không phạm, cho đến hết phần phân tích giới bổn của cả Tăng và Ni; và Ngài trả lời đầy đủ (đoạn 1.7.14–1.7.37). Đây cũng chính là cấu trúc của Tạng Luật còn đến hôm nay. Bài Tam tạng gồm những gì và Kinh tạng được gìn giữ thế nào giúp bạn thấy toàn cảnh.

Một gợi ý nhỏ

Tuần này, bạn thử chọn một giới trong năm giới và tự hỏi như Ngài Upāli: vì sao có giới này, nó bảo vệ ai, bảo vệ điều gì? Bài Ngũ giới là gì có thể giúp bạn. Và nếu bạn đang ở vị trí trên người khác, hãy thử một việc nhỏ để hạ lòng kiêu mạn, như các vương tử Sakya đã làm.

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Luật tạng, Tiểu Phẩm, chương Phá Tăng (Saṅghabhedakkhandhaka), Kd 17 trên SuttaCentral.
  2. Tăng Chi Bộ 1.228, phẩm Bậc Nhất, AN 1.219–234 trên SuttaCentral.
  3. Tăng Chi Bộ 10.31, Kinh Upāli, AN 10.31 trên SuttaCentral.
  4. Tăng Chi Bộ 10.99, Kinh Upāli, AN 10.99 trên SuttaCentral.
  5. Trưởng Lão Tăng Kệ 3.11, kệ của Trưởng lão Upāli, Thag 3.11 trên SuttaCentral.
  6. Trung Bộ 84, Kinh Madhurā, MN 84 trên SuttaCentral.
  7. Luật tạng, Tiểu Phẩm, chương Kết tập năm trăm vị, Kd 21 trên SuttaCentral.
  8. Việc Đức Phật dạy Luật cho Ngài Upāli và ba vụ phân xử: theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī).
  9. Các đoạn trích do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.
  10. Các đoạn Luật tạng trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của Tỳ khưu Indacanda (Tam Tạng Pāli - Việt, tamtangpaliviet.net), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc nguyên văn bài kinh