Nhân vật, nơi chốn

Ngài Ma-ha Ca-diếp là ai: bậc đầu đà và người giữ gìn Chánh pháp

Có một vị Tỷ-kheo đã già mà vẫn ở rừng, vẫn mặc y may từ vải bỏ, dù chính Đức Phật khuyên Ngài nên nghỉ ngơi. Lý do Ngài đưa ra là vì thương những người sẽ đến sau. Đó là Ngài Ma-ha Ca-diếp.

Tóm lại: Ngài Ma-ha Ca-diếp (Mahākassapa) là vị đệ tử được Đức Phật xác nhận đứng đầu về hạnh đầu đà (AN 1.191). Ngài tự xuất gia, gặp Đức Phật bên đường, chứng quả vào ngày thứ tám, nhận tấm y phấn tảo đã sờn của Thầy (SN 16.11), giữ đời sống rừng núi đến tuổi già vì thương thế hệ sau (SN 16.5), và sau khi Đức Phật nhập diệt, chính Ngài đứng ra triệu tập lần kết tập đầu tiên (Luật tạng, Kd 21).

Người tự xuất gia trước khi gặp Thầy

Tương Ưng Bộ dành hẳn một chương mười ba bài kinh cho Ngài (SN 16). Trong bài thứ mười một, Ngài tự kể với Tôn giả A-nan (Ānanda): khi còn tại gia, Ngài đã nghĩ đời sống gia đình chật hẹp, đầy bụi bặm, còn đời xuất gia rộng mở; ở nhà thì khó sống phạm hạnh trọn vẹn, trong sạch như vỏ ốc được mài bóng. Rồi Ngài tự may một tấm y bằng vải vụn, cạo bỏ râu tóc, xuất gia hướng về các bậc A-la-hán ở đời (SN 16.11, đoạn 8.4–8.8).

Trên con đường giữa Vương Xá (Rājagaha) và Nāḷandā, Ngài thấy Đức Phật ngồi tại điện thờ Bahuputta và nghĩ: “Nếu ta được thấy bậc Đạo Sư, đó chính là Đức Thế Tôn này; nếu ta được thấy bậc Thiện Thệ, đó chính là Đức Thế Tôn này; nếu ta được thấy bậc Chánh Đẳng Giác, đó chính là Đức Thế Tôn này” (đoạn 9.1–9.6). Ngài cúi đầu dưới chân Đức Phật và thưa: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là Thầy của con, con là đệ tử” (đoạn 9.8–9.9).

Đức Phật dạy Ngài ba điều: giữ lòng tàm quý sâu sắc đối với các vị trưởng lão, các vị mới tu và các vị ở giữa; lắng nghe trọn vẹn mọi lời Pháp đưa đến điều thiện; và không rời niệm thân đi cùng sự an vui (đoạn 10.1–12.3). Ngài kể: “Bảy ngày tôi ăn cơm của xứ sở như người còn mang nợ; đến ngày thứ tám, trí giải thoát khởi lên” (đoạn 13.2).

Theo chú giải Tăng Chi Bộ, tên thời tại gia của Ngài là Pippali, con một gia đình Bà-la-môn giàu có ở làng Mahātittha, xứ Magadha. Ngài cưới bà Bhaddā Kāpilānī, nhưng hai người không chung chăn gối, rồi cùng xuất gia và chia tay nhau ở một ngã ba đường. Về sau bà thành Tỷ-kheo-ni, được Tăng Chi Bộ ghi là bậc nhất về nhớ các đời trước (AN 1.244). Kinh không kể chuyện hôn nhân ấy; phần này thuộc chú giải.

Tấm y vá đổi lấy tấm y phấn tảo

Sau buổi gặp đầu tiên, Đức Phật rời đường, đến ngồi dưới một gốc cây. Ngài Ca-diếp gấp tư tấm y vá của mình trải làm chỗ ngồi. Đức Phật nói: “Này Kassapa, tấm y vá này của con mềm thật.” Ngài thưa xin Thế Tôn nhận lấy vì lòng thương. Đức Phật hỏi lại: “Vậy con có mặc được tấm y phấn tảo bằng vải gai đã sờn của Ta không?” Ngài thưa được, và Thầy trò đổi y cho nhau (SN 16.11, đoạn 14.1–14.11).

Vì thế Ngài nói: nếu ai muốn gọi đúng một người là con ruột của Thế Tôn, sinh từ Pháp, do Pháp tạo thành, thừa tự Pháp, người đã nhận tấm y phấn tảo của Ngài, thì người ấy chính là tôi (đoạn 15.2). Ngài kể chuyện này để đáp lại lời một vị Ni cho rằng Ngài vốn theo ngoại đạo: từ ngày xuất gia, Ngài chưa từng nhận ai làm thầy ngoài Đức Phật (đoạn 7.2, 8.3).

Đã già vẫn giữ hạnh đầu đà

Chữ Pāli dhutavāda trong Tăng Chi Bộ 1.191 chỉ người giữ và tán thán các hạnh đầu đà (dhutaṅga): ở rừng, chỉ ăn đồ khất thực, mặc y phấn tảo, chỉ giữ ba y. Tương Ưng Bộ 16.5 kể Đức Phật nói với Ngài: “Này Kassapa, nay con đã già, những tấm y phấn tảo bằng vải gai này nặng nề với con. Con hãy mặc y do gia chủ dâng, nhận lời mời thọ thực, và sống gần Ta” (đoạn 1.4–1.5). Ngài thưa rằng đã lâu mình sống ở rừng, khất thực, mặc y phấn tảo, giữ ba y, ít muốn, biết đủ, sống viễn ly, tinh tấn, và tán thán những điều ấy (đoạn 2.1). Đức Phật hỏi vì lợi ích gì. Ngài đáp:

Con thấy tự mình được hiện tại an lạc trú và vì lòng từ mẫn đối với chúng sanh sắp đến, mong rằng các chúng sanh sắp đến sẽ bắt chước (diṭṭhānugatiṁ): “Đối với các đệ tử Phật và tùy Phật (Buddhānubuddhasāvakā), mong họ trong một thời gian dài trở thành những vị sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng… những vị đi khất thực… những vị mang y phấn tảo… những vị mang ba y… những vị thiểu dục… những vị tri túc… những vị viễn ly… những vị không giao thiệp… những vị tinh cần và tán thán hạnh tinh cần… họ sẽ thực hành như vậy, và như vậy trong một thời gian dài họ sống hạnh phúc an lạc”.

Tương Ưng Bộ 16.5, đoạn 5.1–5.2

Đức Phật khen: “Lành thay, lành thay, Kassapa! Con đang sống vì lợi ích và an lạc của số đông, vì lòng thương xót thế gian,” rồi bảo Ngài cứ giữ hạnh ấy (đoạn 7.1–7.3).

Hạnh ấy không phải là sự khắt khe để được khen. Trưởng Lão Tăng Kệ giữ lại một cảnh: Ngài đứng chờ bên một người bệnh phong đang ăn; người ấy đưa cho Ngài một nắm cơm bằng bàn tay đã lở loét, và một ngón tay rơi vào bát. Ngài ngồi bên chân tường ăn nắm cơm ấy: “Trong khi ăn và sau khi ăn, tôi không thấy ghê tởm” (Thag 18.1, kệ 4–6). Cũng nên biết: Đức Phật khen hạnh đầu đà nhưng không bắt buộc ai cũng phải giữ. Khi có người đòi biến các hạnh này thành luật chung, Ngài đã từ chối, như bài Đề-bà-đạt-đa và việc chia rẽ Tăng kể lại.

Đến với các gia đình như mặt trăng

Tương Ưng Bộ 16.3 ghi lời Đức Phật: “Này các Tỷ-kheo, hãy đến với các gia đình như mặt trăng: thu thân lại, thu tâm lại, luôn như người mới đến, không suồng sã” (đoạn 1.2–1.3). Rồi Ngài nói: Kassapa đến với các gia đình như mặt trăng (đoạn 2.1–2.2). Đức Phật vẫy tay giữa hư không: bàn tay này không dính vào hư không thế nào, tâm của vị Tỷ-kheo khi đến các nhà cũng không dính mắc như thế, vui khi người khác được lợi cũng như khi chính mình được lợi (đoạn 3.1–3.5).

Bạn thử nghĩ đến lúc mình làm khách nhà ai đó, hay đến làm việc với một đối tác. Đến như mặt trăng nghĩa là có mặt nhẹ nhàng, không đòi hỏi, không tính toán mình được gì.

Người đứng ra gìn giữ Pháp và Luật

Trường Bộ 16 kể khi Đức Phật nhập diệt, Ngài Ca-diếp đang trên đường từ Pāvā đến Câu-thi-na (Kusinārā) cùng năm trăm Tỷ-kheo. Một du sĩ Ājīvaka báo tin Đức Phật đã nhập diệt bảy ngày. Trong đoàn có Tỷ-kheo Subhadda, xuất gia lúc tuổi già, nói rằng từ nay thoát được bậc Đại Sa-môn, muốn làm gì thì làm (DN 16, đoạn 6.19.1–6.20.5). Ngài Ca-diếp khuyên chư Tăng đừng sầu than, vì cái gì sinh ra, do duyên tạo tác, đều phải hoại diệt (đoạn 6.20.6–6.20.10). Kinh ghi giàn hỏa thiêu không bén lửa cho đến khi Ngài đến đảnh lễ dưới chân Đức Phật (đoạn 6.21.1–6.22.3).

Luật tạng, Tiểu Phẩm, kể chính câu nói của Subhadda khiến Ngài đề nghị: “Chúng ta hãy cùng tụng đọc Pháp và Luật, trước khi điều phi Pháp lan rộng và Pháp bị che lấp” (Kd 21, đoạn 1.1.22–1.1.34). Ngài chọn bốn trăm chín mươi chín vị A-la-hán, và theo lời chư Tăng, mời thêm Tôn giả A-nan (đoạn 1.2.2–1.2.7). Tại Vương Xá, Ngài hỏi Tôn giả Ưu-ba-li về Luật, hỏi Tôn giả A-nan về Pháp (đoạn 1.7.1–1.8.19). Ngài cũng đề nghị Tăng chúng không chế thêm điều học mới, không bỏ điều học đã chế, và Tăng chúng im lặng chấp thuận (đoạn 1.9.29–1.9.43). Bài Kinh tạng được gìn giữ thế nào kể rõ hơn.

Vàng thật và vàng giả

Một lần Ngài hỏi Đức Phật: vì sao trước kia ít học giới mà nhiều vị chứng quả, nay nhiều học giới mà ít vị chứng quả? Đức Phật dạy: Chánh pháp chưa biến mất chừng nào Chánh pháp giả chưa xuất hiện, cũng như vàng thật chưa biến mất chừng nào vàng giả chưa xuất hiện (SN 16.13, đoạn 1.4–2.4). Không phải đất, nước, lửa, gió làm Chánh pháp mất, mà chính những người rỗng tuếch ngay ở đây; và Chánh pháp không chìm một lần như con thuyền (đoạn 3.1–3.4). Chánh pháp tồn tại khi Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ sống tôn kính bậc Đạo Sư, Pháp, Tăng, học giới và định (đoạn 5.1–5.3).

Một gợi ý nhỏ

Tuần này, bạn thử giữ một “hạnh đầu đà” nhỏ của người tại gia: một ngày không mua gì ngoài nhu cầu thật cần, hay một bữa ăn đơn giản trong im lặng. Và lần tới khi đến nhà ai đó, hãy nhớ hình ảnh mặt trăng: đến nhẹ nhàng, vui với niềm vui của người, rồi ra về không mang theo gì.

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 1.191, phẩm Bậc Nhất, AN 1.188–197 trên SuttaCentral.
  2. Tương Ưng Bộ 16.3, Kinh Ví Dụ Mặt Trăng, SN 16.3 trên SuttaCentral.
  3. Tương Ưng Bộ 16.5, Kinh Già, SN 16.5 trên SuttaCentral.
  4. Tương Ưng Bộ 16.11, Kinh Y, SN 16.11 trên SuttaCentral.
  5. Tương Ưng Bộ 16.13, Kinh Chánh Pháp Giả, SN 16.13 trên SuttaCentral.
  6. Trưởng Lão Tăng Kệ 18.1, kệ của Trưởng lão Mahākassapa, Thag 18.1 trên SuttaCentral.
  7. Trường Bộ 16, Kinh Đại Bát Niết-bàn, DN 16 trên SuttaCentral.
  8. Luật tạng, Tiểu Phẩm, chương Kết tập năm trăm vị, Kd 21 trên SuttaCentral.
  9. Tăng Chi Bộ 1.244, AN 1.235–247 trên SuttaCentral.
  10. Thân thế của Ngài Mahākassapa và bà Bhaddā Kāpilānī: theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī).
  11. Chuyện niêm hoa vi tiếu: thuộc truyền thống Thiền tông Bắc truyền, không có trong Kinh tạng Pāli.
  12. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  13. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện cùng chủ đề

Các tích truyện dưới đây cùng chủ đề với bài, kể theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh