Bồ tát là gì? Chữ Bodhisatta trong kinh Nam truyền
Trong kinh Nikāya, chữ Bồ tát (Bodhisatta, người đang hướng đến giác ngộ) chỉ Đức Phật lúc chưa giác ngộ. Kinh không có lý tưởng phát tâm Bồ tát như truyền thống Đại thừa về sau.
Bồ tát là người đang hướng đến giác ngộ
Trong kinh Nikāya, Đức Phật dùng chữ Bồ tát cho thời chưa giác ngộ của Ngài khi kể lại thời ấy. Lời Ngài tự kể được ghi lại như sau: “Này các Tỷ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Đẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già” (MN 26:13.1; Pāli: Ahampi sudaṁ, bhikkhave, pubbeva sambodhā anabhisambuddho bodhisattova samāno attanā jātidhammo samāno jātidhammaṁyeva pariyesāmi, attanā jarādhammo samāno jarādhammaṁyeva pariyesāmi, attanā byādhidhammo samāno byādhidhammaṁyeva pariyesāmi, attanā maraṇadhammo samāno maraṇadhammaṁyeva pariyesāmi, attanā sokadhammo samāno sokadhammaṁyeva pariyesāmi, attanā saṅkilesadhammo samāno saṅkilesadhammaṁyeva pariyesāmi)
Chữ Bồ tát ở đây không chỉ một địa vị tôn quý hay một đấng cứu độ, mà chỉ một con người đang đi tìm: tự thân bị sanh lại đi tìm cầu cái bị sanh, tự thân bị già lại đi tìm cầu cái bị già, và tương tự với bệnh, chết, sầu và phiền não. Nói cách khác, trong đoạn này, Bồ tát là Đức Phật lúc còn tự thấy mình trong sinh, già, bệnh, chết và đang tìm lối ra. Phần giải thích này là theo cách đọc của người viết.
Vị Bồ tát tìm cầu điều gì
Điều vị Bồ tát quyết tâm tìm là cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, tức Niết-bàn. Quyết tâm ấy được ghi lại như sau: “Vậy Ta, tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, hãy tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn” (MN 26:13.4; Pāli: Yannūnāhaṁ attanā jātidhammo samāno jātidhamme ādīnavaṁ viditvā ajātaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyeseyyaṁ, attanā jarādhammo samāno jarādhamme ādīnavaṁ viditvā ajaraṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyeseyyaṁ, attanā byādhidhammo samāno byādhidhamme ādīnavaṁ viditvā abyādhiṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyeseyyaṁ, attanā maraṇadhammo samāno maraṇadhamme ādīnavaṁ viditvā amataṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyeseyyaṁ, attanā sokadhammo samāno sokadhamme ādīnavaṁ viditvā asokaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyeseyyaṁ, attanā saṅkilesadhammo samāno saṅkilesadhamme ādīnavaṁ viditvā asaṅkiliṭṭhaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyeseyyanti)
Cùng một cách dùng chữ Bồ tát cho thời chưa giác ngộ, Đức Phật kể lại lúc quyết định xuất gia như sau: “trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Đẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Đời sống gia đình bị gò bó, con đường đầy những bụi đời. Đời sống xuất gia như sống giữa hư không.” (MN 36:12.2–12.3; Pāli: Idha me, aggivessana, pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi: sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā)
Hai đoạn kinh này cho thấy chữ Bồ tát luôn gắn với thời chưa giác ngộ: khi còn là Bồ tát, Ngài còn đi tìm, còn suy nghĩ và còn quyết định. Trong hai đoạn trên, chữ Bồ tát chỉ thời trước giác ngộ.
Điều kinh Nikāya không dạy về Bồ tát
Kinh Nikāya không có lý tưởng phát tâm Bồ tát cho mọi người, không có Bồ tát Quán Thế Âm hay Địa Tạng, và người viết chỉ nhắc điều này một câu để bạn phân biệt, không phản bác truyền thống nào. Các chuyện về nhiều kiếp Bồ tát và hạnh ba-la-mật (pāramī) thuộc kinh Tiểu Bộ và chú giải về sau, nên người đọc không nên gán chúng cho Kinh Thánh Cầu hay Đại Kinh Saccaka dẫn trong bài này.
Bài này cũng không kể chuyện thần thông hay linh ứng của Bồ tát, vì đó không phải điều hai bài kinh dẫn ở đây nói đến. Đọc kinh đúng vị trí của nó là cách tránh gán cho kinh điều kinh không nói, và cũng là cách tôn trọng cả kinh Nikāya lẫn các truyền thống về sau, mỗi bên ở đúng vị trí của bên ấy.
Vì sao cần phân biệt rõ chữ Bồ tát
Phân biệt rõ giúp bạn không hiểu lầm rằng cứ tu theo Phật là phải phát tâm Bồ tát theo nghĩa của truyền thống về sau, và cũng giúp bạn không hạ thấp chữ Bồ tát thành một danh xưng chung chung cho người làm việc thiện. Trong kinh Nam truyền, chữ này có một chỗ đứng riêng: chỉ Đức Phật trước khi giác ngộ, người đang đi tìm Niết-bàn. Phần nhận xét này là theo cách đọc của người viết.
Hỏi nhanh
Bodhisatta nghĩa là gì?
Bodhisatta là người đang hướng đến giác ngộ, tức Đức Phật lúc chưa giác ngộ và còn đang đi tìm con đường thoát khổ.
Ai được gọi là Bồ tát trong kinh Nikāya?
Đức Phật lúc chưa giác ngộ (MN 26, đoạn 13.1). Trong hai đoạn trên, chữ Bồ tát chỉ thời trước giác ngộ.
Phật tử tại gia có phải phát tâm Bồ tát không?
Kinh Nikāya không đặt ra yêu cầu đó. Lý tưởng phát tâm Bồ tát thuộc truyền thống Đại thừa về sau, và bài này chỉ nhắc một câu để phân biệt.
Câu chốt: Trong kinh Nam truyền, Bồ tát là Đức Phật trước khi giác ngộ, và con đường Ngài đi tìm là Niết-bàn.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Trung Bộ 26, Kinh Thánh Cầu (Pāsarāsi Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, MN 26 trên SuttaCentral; bản Pāli MN 26 Pāli.
- Trung Bộ 36, Đại Kinh Saccaka (Mahāsaccaka Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, MN 36 trên SuttaCentral; bản Pāli MN 36 Pāli.
- Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn.