Nam tông và Bắc tông: giống nhau ở đâu, khác nhau ở đâu
Ở Việt Nam, nhiều gia đình có người đi chùa Bắc tông, có người đi chùa Nam tông. Hai truyền thống khác nhau ở màu y, giờ ăn, tiếng tụng, nhưng cùng một Đức Phật, cùng Bốn Thánh đế. Bài này trình bày những điểm khác biệt một cách khách quan, không để so hơn kém.
Cùng một gốc
Trước khi nhập diệt, Đức Thế Tôn dặn Ngài A-nan (Ānanda): “Pháp và Luật mà Ta đã giảng dạy, đã chế định cho các con, sau khi Ta đi rồi, chính đó là Bậc Thầy của các con” (Trường Bộ 16, đoạn 6.1.5). Luật tạng Pāli ghi rằng sau đó Ngài Ma-ha Ca-diếp (Mahākassapa) đề nghị Tăng chúng chọn năm trăm vị Tỷ-kheo an cư mùa mưa tại Vương Xá (Rājagaha) để cùng tụng đọc Pháp và Luật (Tiểu Phẩm, chương Năm Trăm Vị, đoạn 1.4.3–1.4.4). Luật tạng của các bộ phái khác, nay còn trong Hán tạng, cũng kể về lần kết tập này.
Những lần chia nhánh
Luật tạng Pāli kể tiếp: khi Đức Phật nhập diệt được một trăm năm, các Tỷ-kheo Vajji ở Tỳ-xá-ly (Vesālī) chủ trương mười điều về giới luật, trong đó có việc nhận vàng bạc; chư Tăng họp tại đây và quyết định mười điều ấy là phi pháp, phi luật; lần kết tập Luật này có bảy trăm vị tham dự (Tiểu Phẩm, chương Bảy Trăm Vị, đoạn 1.1.1–1.1.2, 2.8.125–2.8.126 và 2.9.1). Các nguồn xưa của nhiều bộ phái đều ghi rằng trong khoảng thời gian sau đó, Tăng đoàn dần chia thành nhiều bộ phái, dù mỗi nguồn kể nguyên nhân khác nhau. Theo truyền thống Nam truyền, có thêm một lần kết tập dưới thời vua A-dục (Asoka), và Trưởng lão Mahinda đã đưa Phật pháp đến Sri Lanka. Ngày nay truyền thống Theravāda có mặt chủ yếu ở Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia. Bài Kinh tạng được gìn giữ thế nào kể chi tiết hơn.
Ở phương Bắc, từ khoảng những thế kỷ quanh Công nguyên, các kinh Đại thừa như Bát-nhã, Pháp Hoa, A-di-đà được truyền rộng. Truyền thống Bắc tông tôn kính các kinh ấy là lời Phật dạy; giới nghiên cứu thì xếp thời điểm các bản văn này được lưu hành vào giai đoạn sau các bộ Nikāya và A-hàm. Phật giáo theo con đường qua Trung Á đến Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, và trở thành dòng chính của Phật giáo Việt Nam.
Kinh điển: Tam tạng Pāli và Hán tạng
Nam tông dựa vào Tam tạng tiếng Pāli. Bắc tông dựa vào Hán tạng, một kho rất lớn gồm bốn bộ A-hàm, các bộ Luật, các bộ luận của nhiều bộ phái và rất nhiều kinh Đại thừa. Bốn bộ A-hàm tương ứng khá sát với bốn bộ Nikāya đầu: Kinh Niệm Xứ (Trung Bộ 10) có bản song song trong Trung A-hàm, Kinh Chuyển Pháp Luân có bản song song trong Tạp A-hàm. Bài Tam tạng gồm những gì vẽ tấm bản đồ này rõ hơn.
Lý tưởng tu tập được nhấn mạnh
Nam tông nhấn mạnh con đường đi đến giải thoát ngay trong kiếp sống, qua bốn tầng Thánh từ Nhập lưu đến A-la-hán. Bắc tông nhấn mạnh hạnh Bồ-tát: phát tâm tu tập trải qua nhiều đời để thành Phật và cứu độ chúng sinh. Hai lý tưởng không loại trừ nhau. Nam tông cũng kể con đường Bồ-tát của chính Đức Phật Gotama trong Phật Sử (Buddhavaṁsa), và tôn kính Mười Ba-la-mật; Bắc tông cũng học và hành trì giới, định, tuệ của con đường giải thoát.
Luật và nếp sinh hoạt
- Bộ Luật: chư Tăng Nam tông thọ trì Luật Pāli với 227 điều học; chư Tăng Bắc tông Việt Nam thọ trì Tứ Phần Luật với 250 giới. Hai bộ luật có rất nhiều điều tương đồng.
- Thọ thực: chư Tăng Nam tông khất thực theo truyền thống và không ăn sau giờ ngọ (xem bài Vì sao sư Nam tông không ăn chiều). Theo truyền thống, chư Tăng Bắc tông Việt Nam ăn chay; chư Tăng Nam tông dùng vật thực được dâng, theo quy định của Luật (xem bài Sư Nam tông có ăn thịt không).
- Y phục: theo truyền thống, chư Tăng Nam tông đắp y ca-sa, màu sắc đậm nhạt tùy nơi; chư Tăng Bắc tông Việt Nam thường mặc áo tràng màu nâu hoặc màu lam, và đắp y khi hành lễ (xem bài Y ca-sa màu vàng).
- Tiếng tụng: chùa Nam tông tụng tiếng Pāli và tiếng Việt; chùa Bắc tông tụng âm Hán Việt và tiếng Việt.
- Thực hành: nhiều chùa Nam tông chú trọng thiền chỉ, thiền minh sát; nhiều chùa Bắc tông Việt Nam phổ biến niệm Phật, tụng kinh, và có các dòng thiền riêng.
Ở Việt Nam, đồng bào Khmer Nam Bộ theo Phật giáo Nam truyền từ lâu đời; từ thế kỷ 20 có thêm các chùa Nam tông của người Việt. Bài Phật giáo Nam truyền là gì giải thích vì sao Hoan Hỉ dùng tên Nam truyền.
Điều chung quan trọng hơn điều khác
Bài pháp đầu tiên về Trung đạo và Bốn Thánh đế (Tương Ưng Bộ 56.11, đoạn 2.1–2.4) được cả hai truyền thống tụng đọc. Lời quy y “Con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng” (Tiểu Tụng 1) là lời chung. Năm giới, tâm từ, bố thí, chánh niệm là chung. Thử hình dung hai chị em trong một nhà, chị đi chùa Bắc tông, em đi chùa Nam tông. Mỗi người có một cách lạy, một bài tụng quen thuộc, nhưng cả hai cùng giữ giới, cùng thương cha mẹ, cùng biết buông bớt sân hận. Đó mới là điều Đức Phật quan tâm.
Một gợi ý nhỏ
Nếu bạn quen một truyền thống, hãy thử một lần đến chùa của truyền thống kia, ngồi nghe tụng kinh, quan sát và hỏi han với tâm cởi mở. Bạn sẽ thấy cùng một lời dạy được gìn giữ theo hai cách, và lòng mình rộng thêm một chút.
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Trường Bộ 16, Kinh Đại Bát-niết-bàn (Mahāparinibbāna Sutta), DN 16 trên SuttaCentral.
- Luật tạng, Tiểu Phẩm (Cūḷavagga), chương Năm Trăm Vị (Pañcasatikakkhandhaka), Kd 21 trên SuttaCentral.
- Luật tạng, Tiểu Phẩm (Cūḷavagga), chương Bảy Trăm Vị (Sattasatikakkhandhaka), Kd 22 trên SuttaCentral.
- Tương Ưng Bộ 56.11, Kinh Chuyển Pháp Luân, SN 56.11 trên SuttaCentral; bản tương ứng trong Hán tạng: Tạp A-hàm 379 (SĀ 379).
- Trung Bộ 10, Kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta), MN 10 trên SuttaCentral; bản tương ứng trong Hán tạng: Trung A-hàm 98 (MĀ 98).
- Tiểu Tụng 1, Tam Quy (Saraṇattaya), Khp 1 trên SuttaCentral.
- Phật Sử (Buddhavaṁsa), Tiểu Bộ.
- Các đoạn trích Luật tạng do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Brahmali.
- Các đoạn trích do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.