Bốn thiền: chánh định trong kinh và bốn ví dụ của Đức Phật
Bốn thiền là phần được nói đến nhiều mà cũng dễ bị hiểu lầm nhất của thiền định: người thì xem là điều huyền bí, người thì xem là thứ chỉ dành cho bậc ẩn tu. Bài này đọc lại cách kinh mô tả bốn thiền, những ví dụ Đức Phật dùng, và vị trí của bốn thiền trên con đường.
Chánh định là bốn thiền
Kinh Phân Tích viết:
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Tương Ưng Bộ 45.8, đoạn 10.2–10.5
Tầm (vitakka) là sự hướng tâm đến đối tượng, tứ (vicāra) là sự duy trì tâm trên đối tượng. Mỗi thiền cao hơn buông bớt một yếu tố thô: tầm tứ, rồi hỷ, rồi lạc, cho đến khi chỉ còn xả và niệm thanh tịnh. Định căn trong năm căn cũng được định nghĩa bằng bốn thiền (SN 48.10, đoạn 4.2–4.6).
Trước khi vào thiền: buông năm triền cái
Trung Bộ 39 ví người còn năm triền cái như người mắc nợ, mắc bệnh, bị tù, làm nô lệ, đi qua sa mạc; buông được chúng thì như trả xong nợ, khỏi bệnh, ra tù, được tự do, đến nơi an ổn, và niềm vui khởi lên (đoạn 14.1–14.30). Từ đó, vị ấy chứng thiền thứ nhất (đoạn 15.1–15.2). Thiền bắt đầu từ một tâm đã bớt nợ nần với dục và sân.
Bốn ví dụ
Đức Phật mô tả bốn thiền cho vua A-xà-thế (Ajātasattu) trong Kinh Sa-môn Quả (Trường Bộ 2, đoạn 75.1–82.3), và cho các Tỷ-kheo trong Trung Bộ 39 (đoạn 15.3–18.4), bằng cùng bốn ví dụ:
- Thiền thứ nhất: như người hầu tắm khéo tay rưới nước dần dần vào bột tắm trong chậu đồng, nhồi cho đến khi viên bột thấm đều trong ngoài mà không rỉ nước ra. Hỷ lạc do ly dục thấm khắp thân như vậy (MN 39, đoạn 15.3–15.5).
- Thiền thứ hai: như hồ nước sâu không có dòng chảy vào từ bốn phía, trời cũng không mưa, mà mạch nước mát từ dưới trào lên làm đầy cả hồ (đoạn 16.2–16.4).
- Thiền thứ ba: như những bông sen xanh, sen hồng, sen trắng mọc và lớn lên dưới nước, không nhô khỏi mặt nước, được nước mát thấm từ ngọn đến gốc (đoạn 17.2–17.4).
- Thiền thứ tư: như người ngồi trùm tấm vải trắng kín cả đầu, không chỗ nào trên thân không được phủ; tâm thanh tịnh, trong sáng thấm khắp thân như vậy (đoạn 18.2–18.4).
Niềm vui không cần sợ
Trong Kinh Đại Saccaka, Đức Phật kể: sau nhiều năm khổ hạnh không kết quả, Ngài nhớ lại có lần ngồi dưới bóng mát cây hồng táo, trong lúc người cha họ Thích đang làm việc, và đã chứng thiền thứ nhất. Ngài nhận ra: “Chính đó là con đường đến giác ngộ”, rồi tự nhủ: ta không sợ niềm lạc không dính đến các dục, không dính đến các pháp bất thiện (Trung Bộ 36, đoạn 31.2–32.4).
Thiền để làm gì
Kinh Tu Tập Định nói bốn thiền đưa đến sự an trú lạc ngay trong hiện tại (AN 4.41, đoạn 2.1–2.3). Trung Bộ 39 cho thấy tâm đã định như vậy, “thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, mềm dẻo, dễ dùng, vững vàng, bất động”, được hướng đến trí tuệ thấy Bốn Thánh đế và diệt tận lậu hoặc (đoạn 21.1–21.6). Nhưng định chưa phải là tuệ. Kinh Thánh Cầu kể rằng Bồ-tát đã chứng những tầng định rất cao khi học với A-la-la Ca-lam (Āḷāra Kālāma) và Uất-đầu-lam-phất (Uddaka Rāmaputta), nhưng vẫn ra đi vì định ấy không đưa đến Niết-bàn (MN 26, đoạn 15.35, 16.35). Xem thêm Thiền chỉ và thiền quán.
Vi Diệu Pháp và chú giải gọi bốn thiền này là thiền sắc giới, gắn với các cõi tái sinh tương ứng (xem 31 cõi). Các vị thầy hiện đại cũng có những cách hiểu khác nhau về độ sâu của thiền mà kinh mô tả. Vì vậy, đừng đo mình bằng các tầng thiền, và đừng tin ai hứa hẹn đưa bạn vào thiền thứ tư trong vài ngày.
Thử hình dung
Thử hình dung sau một ngày căng thẳng, anh Tuấn ngồi theo dõi hơi thở. Hai mươi phút đầu, ý nghĩ chạy khắp nơi; rồi có lúc tâm lắng, thân nhẹ, một chút dễ chịu dâng lên. Anh không cần gọi tên đó là thiền. Điều đáng nhớ là ý nghĩ của Bồ-tát khi nhớ lại buổi ngồi dưới cây hồng táo: niềm lạc không dính đến dục không có gì đáng sợ, và cũng không phải chỗ để bám.
Một gợi ý nhỏ
Bạn hãy đọc chậm bốn ví dụ trên trước khi ngồi thiền, không để đạt cho được, mà để biết tâm có thể yên đến đâu. Giữ giới, bớt năm triền cái trong đời sống, và đều đặn ngồi mỗi ngày. Nếu muốn tu định sâu, hãy tìm một vị thầy có kinh nghiệm và một môi trường thích hợp như các khóa tu dài ngày.
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 45.8, Kinh Phân Tích (Vibhaṅga Sutta), SN 45.8 trên SuttaCentral.
- Trường Bộ 2, Kinh Sa-môn Quả (Sāmaññaphala Sutta), đoạn 75–82, DN 2 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 39, Đại Kinh Xóm Ngựa (Mahāassapura Sutta), MN 39 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 36, Đại Kinh Saccaka (Mahāsaccaka Sutta), MN 36 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 4.41, Kinh Tu Tập Định (Samādhibhāvanā Sutta), AN 4.41 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 26, Kinh Thánh Cầu (Ariyapariyesanā Sutta), MN 26 trên SuttaCentral.
- Tương Ưng Bộ 48.10, Kinh Phân Tích thứ hai (Dutiyavibhaṅga Sutta), SN 48.10 trên SuttaCentral.
- Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.