Giáo lý chuyên sâu

Thiền chỉ và thiền quán: hai pháp đi cùng nhau

Nhiều người hỏi nên tu thiền chỉ hay thiền quán, như thể đó là hai con đường phải chọn một. Lời kinh vẽ một bức tranh khác: hai pháp như hai bánh xe, mỗi người có thể bắt đầu từ một bên, nhưng cuối cùng cần cả hai.

Tóm lại: Trong kinh, thiền chỉ (samatha) và thiền quán (vipassanā, thiền minh sát) là hai pháp “góp phần vào minh”: chỉ làm tâm phát triển và đoạn tham, quán làm tuệ phát triển và đoạn vô minh (AN 2.31). Tăng Chi Bộ 4.94 khuyên ai có bên này mà thiếu bên kia hãy học từ người đã có. Tăng Chi Bộ 4.170 kể bốn cách phối hợp dẫn đến quả A-la-hán. Kinh không đặt hai pháp thành hai trường phái đối nghịch.

Hai pháp góp phần vào minh

Có hai pháp này, này các Tỷ-kheo, thuộc thành phần minh. Thế nào là hai? Chỉ và Quán. Chỉ được tu tập, này các Tỷ-kheo, chờ đợi lợi ích gì? Tâm được tu tập. Tâm được tu tập, chờ đợi lợi ích gì? Cái gì thuộc về tham được đoạn tận. Quán được tu tập, này các Tỷ-kheo, chờ đợi lợi ích gì? Tuệ được tu tập. Tuệ được tu tập, chờ đợi lợi ích gì? Cái gì thuộc vô minh được đoạn tận.

Tăng Chi Bộ 2.31, đoạn 1.1–1.11

Kinh kết: tâm còn bị tham làm vẩn đục thì không thoát ra được, tuệ còn bị vô minh làm vẩn đục thì không lớn lên; nhờ tham phai nhạt mà có tâm giải thoát, nhờ vô minh phai nhạt mà có tuệ giải thoát (đoạn 1.12–1.13). Hai pháp nhắm vào hai loại cấu uế khác nhau, nên cả hai đều cần.

Thiếu bên nào, hỏi người có bên ấy

Tăng Chi Bộ 4.94 kể bốn hạng người: có chỉ nội tâm mà chưa có tuệ quán các pháp; có tuệ quán mà chưa có chỉ; chưa có cả hai; và có cả hai (đoạn 1.3–1.6). Người có chỉ mà thiếu quán nên đến hỏi người có quán: “Thưa hiền giả, nên nhìn các hành ra sao, nên quán xét các hành ra sao, nên thấy rõ các hành ra sao?” (đoạn 2.1–2.4). Người có quán mà thiếu chỉ nên đến hỏi: “Nên làm cho tâm dừng lại ra sao, lắng xuống ra sao, chuyên nhất ra sao, nhập định ra sao?” (đoạn 3.1–3.5). Người đã có cả hai thì dựa vào đó mà nỗ lực diệt tận lậu hoặc (đoạn 5.1). Lời khuyên rất khiêm tốn: không ai tự đủ, ai cũng cần học từ người đi trước.

Bốn con đường Tôn giả A-nan kể lại

Trong Tăng Chi Bộ 4.170, Ngài A-nan (Ānanda) nói: bất cứ Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào tuyên bố trước mặt Ngài đã chứng A-la-hán, đều đi bằng một trong bốn con đường (đoạn 2.1):

  • Tu quán có chỉ đi trước (đoạn 3.2).
  • Tu chỉ có quán đi trước (đoạn 4.1).
  • Tu chỉ và quán song song, như đôi bò cùng ách (yuganaddha) (đoạn 5.1).
  • Tâm bị trạo cử về pháp chi phối, rồi đến lúc tâm lắng xuống, an trú bên trong, chuyên nhất, định tĩnh (đoạn 6.1–6.2).

Mỗi con đường đều dẫn đến chỗ “đạo sinh khởi”, kiết sử được đoạn, tùy miên được nhổ (đoạn 3.3–6.5). Về con đường thứ tư, Thanh Tịnh Đạo (chương 20) hiểu “trạo cử về pháp” là sự xao động khi các trải nghiệm như ánh sáng khởi lên trong lúc quán; đây là cách hiểu của chú giải.

Định cũng có phần quán

Ranh giới giữa chỉ và quán trong kinh không cứng nhắc. Kinh Tu Tập Định nói có bốn lối tu tập định: một lối đưa đến an trú lạc ngay trong hiện tại, tức bốn thiền; một lối đưa đến tri kiến; một lối đưa đến chánh niệm tỉnh giác, khi biết rõ thọ, tưởng, ý nghĩ khởi lên, hiện diện, biến mất; và một lối đưa đến diệt tận lậu hoặc, là sống quán sự sinh diệt trong năm thủ uẩn (AN 4.41, đoạn 1.1–5.8). Niệm hơi thở trong Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm cũng vừa làm tâm lắng dịu vừa dẫn đến quán vô thường, ly tham.

Các dòng thiền hiện đại nhấn mạnh khác nhau: có dòng tu định đến các tầng thiền rồi mới quán, có dòng đi thẳng vào quán với mức định vừa đủ. Cách gọi “người thuần quán” (sukkhavipassaka) là thuật ngữ của chú giải. Bài Khóa thiền Vipassana 10 ngày giới thiệu vài dòng phổ biến; ở đây chỉ cần nhớ rằng kinh tôn trọng nhiều cách bắt đầu.

Thử hình dung

Thử hình dung chị Mai tập theo dõi hơi thở mỗi sáng. Những tuần đầu, chị chủ yếu thấy tâm bớt rối, ngủ ngon hơn: đó là chút vị của chỉ. Một hôm, đang thở, chị thấy cơn bực với đồng nghiệp khởi lên, căng một lúc, rồi tự tan. Chị nhận ra cơn bực ấy không đứng yên, cũng không do mình ra lệnh mà có: đó là chút vị của quán. Hai điều ấy không đến từ hai phương pháp khác nhau, mà đến từ cùng một buổi ngồi.

Một gợi ý nhỏ

Thay vì hỏi “mình nên theo chỉ hay theo quán”, bạn thử hỏi câu của AN 4.94: mình đang thiếu sự lắng dịu hay đang thiếu sự thấy rõ? Rồi tìm một vị thầy hoặc một người bạn đạo đã vững ở phần mình còn thiếu, và hỏi họ như các Tỷ-kheo trong kinh đã hỏi.

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 2.31, kinh về hai pháp góp phần vào minh (phẩm Kẻ Ngu), AN 2.31 trên SuttaCentral.
  2. Tăng Chi Bộ 4.94, Kinh Định thứ ba (Tatiyasamādhi Sutta), AN 4.94 trên SuttaCentral.
  3. Tăng Chi Bộ 4.170, Kinh Song Hành (Yuganaddha Sutta), AN 4.170 trên SuttaCentral.
  4. Tăng Chi Bộ 4.41, Kinh Tu Tập Định (Samādhibhāvanā Sutta), AN 4.41 trên SuttaCentral.
  5. Trung Bộ 118, Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm (Ānāpānassati Sutta), MN 118 trên SuttaCentral.
  6. Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), chương 20, về các tùy phiền não của minh sát (tác phẩm hậu kinh điển).
  7. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  8. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện cùng chủ đề

Các tích truyện dưới đây cùng chủ đề với bài, kể theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh