Con cái bất hiếu, cha mẹ khó tính: Phật dạy gì trong kinh Thi-ca-la-việt
Trả lời thẳng, kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, không có câu nói riêng nào về cha mẹ khó tính hay về việc con bất hiếu bị quả báo, và bài này sẽ nói thẳng điều ấy. Kinh Thi-ca-la-việt nêu bổn phận của con cái đối với cha mẹ; bài này chỉ trích phần bổn phận của con, chưa trích phần bổn phận của cha mẹ, để bạn nhìn xung đột trong nhà bằng sự công bằng, chứ không quy lỗi cho riêng một phía.
Kinh không nói riêng về cha mẹ khó tính hay con bất hiếu
Khi trong nhà xảy ra xung đột, người ta thường tìm một câu kinh để chứng minh phía kia sai. Bài này nói thẳng ngay từ đầu để bạn không phải tìm những câu ấy trong kinh Nikāya, vì kinh không có câu nói riêng nào về cha mẹ khó tính hay về việc con bất hiếu bị quả báo. Kinh Thi-ca-la-việt không dùng những nhãn ấy để quy lỗi cho ai. Bài này chỉ trích phần bổn phận của con đối với cha mẹ, chưa trích phần bổn phận của cha mẹ.
Theo cách đọc của người viết, cách nhìn này có ý nghĩa thực tế, vì xung đột trong nhà hiếm khi chỉ do một phía gây ra. Cha mẹ có thể khó tính vì lo lắng, vì mệt mỏi hay vì thói quen từ thời trẻ, còn con cái có thể vô tâm vì bận rộn, vì áp lực công việc hay vì chưa hiểu hết nỗi lo của cha mẹ. Khi bạn bỏ qua việc quy lỗi và quay lại với bổn phận của mỗi phía, bạn sẽ thấy rõ hơn điều bạn có thể làm, thay vì chỉ thấy điều phía kia chưa làm.
Cha mẹ là phương Đông trong sáu phương
Kinh Thi-ca-la-việt trình bày đời sống người tại gia bằng hình ảnh sáu phương, trong đó mỗi phương tương ứng với một quan hệ trong đời sống. Kinh ghi như sau. “Phương Đông cần được hiểu là cha mẹ. Phương Nam cần được hiểu là sư trưởng. Phương Tây cần được hiểu là vợ con. Phương Bắc cần được hiểu là bạn bè. Phương Dưới cần được hiểu là tôi tớ, lao công. Phương Trên cần được hiểu là Sa-môn, Bà-la-môn.” (DN 31:27.3; Pāli: Puratthimā disā mātāpitaro veditabbā, dakkhiṇā disā ācariyā veditabbā, pacchimā disā puttadārā veditabbā, uttarā disā mittāmaccā veditabbā, heṭṭhimā disā dāsakammakarā veditabbā, uparimā disā samaṇabrāhmaṇā veditabbā) Theo cách đọc của người viết, việc đặt cha mẹ ở phương Đông, tức phương mặt trời mọc và phương bắt đầu một ngày, cho thấy vị trí quan trọng của cha mẹ trong đời sống người tại gia. Cha mẹ không phải là một quan hệ phụ thêm, mà là quan hệ đầu tiên mà người tại gia cần phụng dưỡng và tôn kính.
Theo cách đọc của người viết, hình ảnh sáu phương cũng nhắc bạn rằng quan hệ với cha mẹ không tách rời khỏi các quan hệ khác, như quan hệ với thầy, với vợ chồng, với bạn bè và với người làm công. Khi bạn làm tròn bổn phận với cha mẹ, bạn cũng đang học cách làm tròn bổn phận trong các quan hệ còn lại, vì cùng một nguyên tắc tôn trọng và chăm sóc được áp dụng cho mọi phương.
Năm bổn phận của con đối với cha mẹ
Sau khi đặt cha mẹ ở phương Đông, kinh nêu cụ thể năm bổn phận của người con đối với cha mẹ như sau. “Này Gia chủ tử, có năm trường hợp, người con phải phụng dưỡng cha mẹ như phương Đông: “Được nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ; tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ; tôi sẽ gìn giữ gia đình và truyền thống; tôi bảo vệ tài sản thừa tự; tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời”.” (DN 31:28.1–28.2; Pāli: Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi puttena puratthimā disā mātāpitaro paccupaṭṭhātabbā— bhato ne bharissāmi, kiccaṁ nesaṁ karissāmi, kulavaṁsaṁ ṭhapessāmi, dāyajjaṁ paṭipajjāmi, atha vā pana petānaṁ kālaṅkatānaṁ dakkhiṇaṁ anuppadassāmīti) Theo cách đọc của người viết, năm bổn phận này rất cụ thể và gần gũi với đời sống, chứ không phải là những lời khuyên chung chung. Người con nuôi dưỡng lại cha mẹ vì đã được cha mẹ nuôi dưỡng, làm bổn phận đối với cha mẹ trong công việc hằng ngày, gìn giữ gia đình và truyền thống, bảo vệ tài sản thừa tự, và làm tang lễ khi cha mẹ qua đời.
Theo cách đọc của người viết, trong thực tế, năm bổn phận này có nghĩa là bạn chăm sóc cha mẹ khi cha mẹ già yếu, giúp cha mẹ trong việc nhà, giữ gìn nếp nhà mà cha mẹ đã xây dựng, không làm hao hụt tài sản gia đình, và lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời. Lời khuyên của người viết, không phải lời kinh: khi cha mẹ khó tính, năm bổn phận này không có nghĩa là bạn phải đồng ý với mọi điều cha mẹ nói, mà có nghĩa là bạn vẫn giữ sự tôn kính và chăm sóc trong lời nói và việc làm, đồng thời nói chuyện với cha mẹ bằng giọng bình tĩnh và rõ ràng về điều bạn có thể làm và điều bạn chưa làm được.
Khi xung đột kéo dài thì nên làm gì
Nếu xung đột trong nhà đã kéo dài và lời nói bình tĩnh vẫn chưa đủ, bạn cần nhìn lại cả hai phía một cách công bằng. Về phía con cái, bạn hãy tự hỏi bạn đã làm tròn năm bổn phận nêu trên hay chưa, từ việc thăm hỏi và chăm sóc cha mẹ thường xuyên đến việc giữ lời nói tôn kính ngay cả khi bất đồng. Theo cách đọc của người viết, về phía cha mẹ, bạn cũng có thể nhẹ nhàng nói với cha mẹ về điều bạn cảm thấy khó khăn, để cha mẹ hiểu rằng bạn vẫn thương cha mẹ nhưng cần sự thông cảm trong một số việc cụ thể.
Bạn cũng cần nhớ rằng bài này không trích câu kinh nào bảo phải chịu đựng mọi điều trong im lặng hay chấp nhận mọi hành vi gây tổn thương. Lời khuyên của người viết, không phải lời kinh: nếu trong nhà có bạo hành, đe dọa hay hành vi gây hại nghiêm trọng, bạn hãy tìm người thân hoặc người có chuyên môn để được giúp đỡ, thay vì chịu đựng trong im lặng hay xem đó là bổn phận phải gánh chịu. Bạn có thể đọc thêm về dạy con theo lời Phật tại Dạy con theo lời Phật.
Hỏi nhanh
Kinh có nói cha mẹ khó tính phải làm sao không?
Không có câu nói riêng nào về cha mẹ khó tính trong kinh; bài này chỉ trích phần bổn phận của con đối với cha mẹ trong kinh.
Cha mẹ ở vị trí nào trong sáu phương?
Cha mẹ là phương Đông, bên cạnh sư trưởng là phương Nam, vợ con là phương Tây, bạn bè là phương Bắc, người giúp việc là phương Dưới và Sa-môn (người xuất gia tu hành), Bà-la-môn (hàng tu sĩ Ấn Độ thời ấy) là phương Trên (DN 31, đoạn 27.3).
Con cái có những bổn phận nào với cha mẹ?
Nuôi dưỡng lại cha mẹ, làm bổn phận đối với cha mẹ, gìn giữ gia đình và truyền thống, bảo vệ tài sản thừa tự, và làm tang lễ khi cha mẹ qua đời (DN 31, đoạn 28.1–28.2).
Khi xung đột kéo dài và có bạo hành thì làm gì?
Theo cách đọc của người viết, bạn không nên chịu đựng trong im lặng, mà hãy tìm người thân hoặc người có chuyên môn để được giúp đỡ, đồng thời giữ sự tôn kính trong lời nói và việc làm.
Câu chốt: Kinh Thi-ca-la-việt không quy lỗi cho riêng ai; bài này chỉ trích phần bổn phận của con đối với cha mẹ.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Trường Bộ 31, Kinh Thi-ca-la-việt (Sigālovāda Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, DN 31 trên SuttaCentral; bản Pāli DN 31 Pāli.
- Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn.