Cúng dường tiền vào chùa có đúng lời Phật? Kinh nói chư Tăng không nhận vàng bạc
Theo kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, tức ngôn ngữ cổ mà kinh gốc được ghi lại, chư Tăng không nhận vàng bạc. Còn việc tiền cúng dường được giữ và lo việc chung ra sao là cách tổ chức ở nhiều chùa: thường do người hộ tự giữ và lo việc chung, không phải lời kinh. Bài viết này trả lời thẳng câu hỏi của bạn theo lời kinh, và phân biệt rõ điều kinh nói với cách tổ chức ở chùa.
Kinh Thôn Trưởng Maṇicūḷaka nói gì về vàng bạc
Kinh Thôn Trưởng Maṇicūḷaka thuộc Tương Ưng Bộ ghi lại câu trả lời của Đức Phật cho một vị thôn trưởng hỏi về việc chư Tăng và vàng bạc. Câu hỏi này rất gần với thắc mắc của bạn hôm nay, vì nhiều người cúng dường tiền mà không rõ tiền ấy có hợp với đời sống của người xuất gia hay không. Kinh ghi rõ: “Này Thôn trưởng, các Sa-môn Thích tử không được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được nhận lấy vàng bạc.” (SN 42.10:3.2; Pāli: Na hi, gāmaṇi, kappati samaṇānaṁ sakyaputtiyānaṁ jātarūparajataṁ, na sādiyanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṁ, nappaṭiggaṇhanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṁ, nikkhittamaṇisuvaṇṇā samaṇā sakyaputtiyā apetajātarūparajatā)
Câu trích trên nói đủ ba việc, đó là không dùng, không giữ và không nhận lấy vàng bạc. Theo cách đọc của người viết, ba việc ấy khép kín mọi cách một vị sư có thể dính líu đến tiền bạc, từ việc cầm trong tay cho đến việc giữ lại cho riêng vị ấy. Bạn có thể đọc thêm về cách cúng dường chư Tăng tại Cúng dường chư Tăng: bốn vật dụng, đúng lúc, đúng cách. Khi hiểu rõ câu kinh này, bạn sẽ đỡ lúng túng hơn khi thấy ở chùa có người khác nhận và giữ tiền thay cho chư Tăng.
Vì sao nhận vàng bạc không hợp đời sống xuất gia
Đức Phật không chỉ nói chư Tăng không nhận vàng bạc, mà còn nêu lý do cho lời dạy ấy. Kinh ghi rõ: “Đối với ai được dùng vàng bạc, người ấy cũng được phép dùng năm dục trưởng dưỡng. Đối với ai được phép dùng năm dục trưởng dưỡng, người ấy hoàn toàn thọ trì phi Sa-môn pháp, phi Thích tử pháp.” (SN 42.10:3.3–3.4; Pāli: Yassa kho, gāmaṇi, jātarūparajataṁ kappati, pañcapi tassa kāmaguṇā kappanti. Yassa pañca kāmaguṇā kappanti (…), ekaṁsenetaṁ, gāmaṇi, dhāreyyāsi assamaṇadhammo asakyaputtiyadhammoti)
Chú thích của người viết: "năm dục trưởng dưỡng" trong câu kinh trên là cách gọi chung các đối tượng đem lại sự hưởng thụ qua các giác quan.
Theo cách đọc của người viết, câu kinh này nối việc dùng vàng bạc với việc hưởng thụ các dục lạc, và từ đó cho thấy nhận vàng bạc đi ngược với con đường xuất gia. Người viết không suy ra thêm điều gì ngoài mối nối mà kinh đã nêu, và cũng không dùng câu kinh này để phán xét bất kỳ chùa nào. Bạn chỉ cần giữ một điểm rõ ràng, đó là lời Phật dạy chư Tăng không nhận vàng bạc, còn việc chùa nào làm ra sao là chuyện riêng của nơi ấy, không thuộc phạm vi bài viết này.
Tiền cúng dường đi đâu ở chùa Nam truyền
Kinh Nikāya không nói chùa phải quản tiền thế nào, và cũng không nói người hộ tự phải làm những việc gì cụ thể. Bạn cần giữ ranh giới này cho rõ, vì nếu gán cách quản tiền ở chùa cho lời Phật thì sẽ vượt ra ngoài điều kinh nói. Ở nhiều chùa Nam truyền, cách tổ chức thường thấy là có người hộ tự nhận và giữ tiền cúng dường, rồi lo các việc chung như điện nước, sửa chữa và các nhu cầu sinh hoạt của chùa. Cách tổ chức này là việc của đời thường ở chùa, không phải một điều kinh quy định.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Một gia đình gửi tiền cho người thân đang ở chùa tu học, nhưng nhờ một người quen giữ hộ để chi tiêu chung, vì người thân ấy không muốn tự tay cầm tiền. Cách làm này giúp người nhận giữ được nếp sống giản dị, còn việc chi tiêu vẫn có người lo một cách minh bạch. Hình ảnh ấy gần với cách nhiều chùa Nam truyền đang tổ chức, dù mỗi chùa có thể sắp xếp khác nhau và kinh không quy định chi tiết.
Người Phật tử cúng dường tiền thế nào cho đúng
Khi bạn muốn cúng dường tiền vào chùa, bạn có thể gửi tiền cho người hộ tự hoặc vào quỹ chung của chùa, thay vì đưa trực tiếp cho vị sư. Cách làm này tránh việc đưa tiền trực tiếp cho vị sư, đúng với điều kinh nói; còn việc gửi cho người hộ tự hay quỹ chung là cách tổ chức ở chùa, không phải lời kinh. Cách làm này vẫn giúp chùa có điều kiện lo việc chung. Bạn cũng nên hỏi rõ tiền cúng dường được dùng vào việc gì, nếu bạn muốn biết.
Bạn có thể đọc thêm về ý nghĩa của việc cúng dường tại Cúng dường là gì? Cúng cho ai, cúng bao nhiêu là đúng. Theo cách đọc của người viết, cúng dường đúng pháp không nằm ở số tiền nhiều hay ít, mà nằm ở chỗ việc cúng dường ấy không làm trái lời dạy về đời sống xuất gia và không khiến tâm bạn thêm vướng bận. Khi bạn hiểu rõ điều kinh nói và điều thuộc về cách tổ chức ở chùa, việc cúng dường của bạn sẽ trở nên rõ ràng và an ổn hơn.
Hỏi nhanh
Cúng dường tiền vào chùa thì tiền đi đâu?
Ở nhiều chùa Nam truyền, tiền do người hộ tự giữ và lo việc chung của chùa. Kinh không nói chùa phải quản tiền thế nào, nên phần này là cách tổ chức ở chùa, không phải lời kinh.
Sư có được cầm tiền không?
Không, theo Kinh Thôn Trưởng Maṇicūḷaka, chư Tăng không được dùng, giữ hay nhận vàng bạc (SN 42.10, đoạn 3.2).
Vì sao Đức Phật dạy chư Tăng không nhận vàng bạc?
Vì ai được dùng vàng bạc thì cũng được phép dùng các dục lạc, và điều ấy đi ngược với đời sống xuất gia (SN 42.10, đoạn 3.3–3.4).
Phật tử muốn cúng dường tiền thì nên làm thế nào?
Bạn có thể gửi tiền cho người hộ tự hoặc vào quỹ chung của chùa, thay vì đưa trực tiếp cho vị sư. Cách làm này tránh đưa tiền trực tiếp cho vị sư, đúng với điều kinh nói, và vẫn giúp chùa lo việc chung.
Câu chốt: Kinh nói chư Tăng không nhận vàng bạc. Ở nhiều chùa Nam truyền, tiền bạn cúng dường thường do người hộ tự giữ để lo việc chung, theo cách tổ chức của chùa, không phải lời kinh.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 42.10, Kinh Thôn Trưởng Maṇicūḷaka (Maṇicūḷaka Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, SN 42.10 trên SuttaCentral; bản Pāli SN 42.10 Pāli.
- Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn.