Cúng dường chư Tăng: bốn vật dụng, đúng lúc, đúng cách
Nhiều người muốn cúng dường nhưng lúng túng: nên dâng gì, có nên dâng tiền không. Kinh và Luật tạng trả lời khá rõ, và câu trả lời giúp cả người cho lẫn người nhận được nhẹ nhàng.
Bốn vật dụng của người xuất gia
Đời sống của một vị Tỷ-kheo được giữ trong bốn thứ: y để che thân, thực phẩm khất thực để nuôi thân, chỗ ở để tu tập, thuốc men khi bệnh. Trong Kinh Tất Cả Lậu Hoặc, Đức Phật dạy vị Tỷ-kheo phải quán xét trước khi dùng mỗi thứ: dùng y chỉ để ngăn lạnh, nóng, muỗi mòng, dùng thực phẩm không phải để vui chơi hay làm đẹp (MN 2, đoạn 13.2–14.2). Tăng Chi Bộ 4.51 nói thêm về phía người dâng:
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi hưởng thọ y của ai, đạt đến và an trú vô lượng tâm định, như vậy là nguồn sanh phước vô lượng cho người ấy, là nguồn sanh thiện đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
Tăng Chi Bộ 4.51, đoạn 1.4
Kinh lặp lại đúng như vậy cho thực phẩm, chỗ ở và thuốc men (đoạn 2.1–4.1). Nghĩa là phước của bạn gắn với việc vật dâng giúp người nhận tu tập.
Dâng bát, dâng y, dâng thuốc
Bữa ăn là cách cúng dường gần gũi nhất. Đức Phật nói với bà Suppavāsā: người dâng thức ăn là cho người nhận bốn điều, tuổi thọ, dung sắc, an lạc và sức khỏe, và chính mình cũng được hưởng bốn điều ấy (AN 4.57, đoạn 2.1–2.7). Kinh cũng nhắc những lúc cho đặc biệt đúng thời: cho người khách, người sắp đi xa, người bệnh, cho khi có nạn đói, và dâng phần lúa mới, trái mới cho người giữ giới (AN 5.36, đoạn 1.3–1.7).
Trong Kinh Thi-ca-la-việt, Đức Phật dạy người tại gia phụng sự các bậc xuất gia bằng “thân hành từ ái, khẩu hành từ ái, ý hành từ ái, không đóng cửa từ chối, và cúng dường các vật dụng cần thiết” (DN 31, đoạn 33.2). Cúng dường vì vậy bắt đầu từ thái độ, rồi mới đến vật dâng.
Theo truyền thống, Phật tử thường dâng y vào mùa Kathina sau ba tháng an cư, dâng thuốc khi biết chùa có vị bệnh, góp sức sửa chùa, dựng thất. Những việc này đều là bốn vật dụng ấy dưới hình thức cụ thể.
Chuyện tiền bạc, nói cho nhẹ nhàng
Luật tạng ghi lại: Tôn giả Upananda nhận một đồng tiền thay cho phần thịt một gia đình để dành cho mình. Chính người gia chủ ấy chê trách: các Sa-môn cũng nhận tiền như người thế tục. Các Tỷ-kheo ít ham muốn nghe biết, trình lên Đức Phật, và Ngài chế giới (Bu NP 18, đoạn 1.2–1.27):
“Vị tỳ khưu nào nhận lấy hoặc bảo nhận lấy hoặc ưng thuận vàng bạc đã được mang đến thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.”
Luật tạng, Ưng xả đối trị 18, đoạn 1.28.1
Sa-di cũng thọ học giới “tránh xa việc nhận vàng bạc” (Khp 2, đoạn 10.1). Mục đích không phải làm khó ai, mà để người xuất gia sống ít muốn, biết đủ, không tích trữ. Đức Phật khen vị Tỷ-kheo hài lòng với những thứ nhỏ, dễ tìm, không đáng chê như y phấn tảo, miếng cơm khất thực, gốc cây (AN 4.27, đoạn 1.3–1.8).
Vì thế, theo truyền thống Nam truyền, khi muốn hỗ trợ tịnh tài, Phật tử gửi cho người cư sĩ lo việc chùa, gọi là người làm cho hợp lệ (kappiyakāraka), rồi thưa với vị Tỷ-kheo rằng có một khoản để lo y, thuốc hay chỗ ở khi cần. Vị Tỷ-kheo không cầm, không giữ tiền, cũng không chỉ định dùng tiền ấy cho việc riêng; khi cần một vật dụng hợp lệ, vị ấy chỉ cho người cư sĩ biết, và người cư sĩ lo liệu. Cách làm cụ thể là truyền thống của Tăng đoàn dựa trên Luật tạng, mỗi chùa có thể khác nhau đôi chút, bạn chỉ cần hỏi. Ở nhiều chùa Bắc tông, việc thọ nhận tịnh tài được thực hành theo nếp riêng của truyền thống ấy; người Phật tử đến chùa nào thì tôn trọng nếp của chùa đó.
Một ví dụ
Thử hình dung một gia đình biết vị thầy ở chùa gần nhà bị đau dạ dày lâu ngày. Thay vì đặt một phong bì vào tay thầy, họ hỏi người cư sĩ trong chùa thuốc thầy đang dùng, mua đúng loại, mang đến dâng, và gửi thêm một khoản cho người cư sĩ để lo lần khám sau. Thầy được chăm sóc, giới được giữ, và người dâng thấy lòng nhẹ nhõm.
Kinh Châu Báu nói các đệ tử của bậc Thiện Thệ “đáng được cúng dường, những gì cúng dường các vị ấy đem lại quả lớn” (Snp 2.1, kệ 6). Và Kinh Ngoài Bức Tường nhắc rằng món cúng dường “khéo đặt vào Tăng chúng” còn có thể hồi hướng cho người thân đã khuất (Khp 7, kệ 12). Bài Tang lễ theo Phật giáo Nam truyền nói về việc cúng dường hồi hướng trong những ngày tang.
Một gợi ý nhỏ
Lần tới khi đi chùa, bạn thử hỏi người lo việc chùa: tháng này chư Tăng đang thiếu gì. Có khi chỉ là xà phòng, thuốc cảm, hay một bóng đèn. Dâng đúng thứ cần, với tâm vui trước, trong và sau khi cho, là bạn đã cúng dường trọn vẹn.
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 4.51, Kinh Dòng Phước thứ nhất (Puññābhisanda Sutta), AN 4.51 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 2, Kinh Tất Cả Lậu Hoặc (Sabbāsava Sutta), MN 2 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 4.57, Kinh Suppavāsā, AN 4.57 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 5.36, Kinh Bố Thí Đúng Thời (Kāladāna Sutta), AN 5.36 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 4.27, Kinh Biết Đủ (Santuṭṭhi Sutta), AN 4.27 trên SuttaCentral.
- Trường Bộ 31, Kinh Thi-ca-la-việt (Sigālaka Sutta), DN 31 trên SuttaCentral.
- Luật tạng, Phân Tích Giới Tỷ-kheo, Ưng xả đối trị 18 (Rūpiyasikkhāpada), Bu NP 18 trên SuttaCentral.
- Tiểu Tụng 2, Mười Học Giới, Khp 2 trên SuttaCentral.
- Kinh Tập 2.1, Kinh Châu Báu (Ratana Sutta), Snp 2.1 trên SuttaCentral.
- Tiểu Tụng 7, Kinh Ngoài Bức Tường, Khp 7 trên SuttaCentral.
- Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.
- Các đoạn Luật tạng trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của Tỳ khưu Indacanda (Tam Tạng Pāli - Việt, tamtangpaliviet.net), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.