Đức Phật và các đệ tử

Đức Phật dùng bữa cơm của Cunda rồi lâm bệnh: vì sao Ngài biết mà vẫn dùng?

Kinh không nói món ăn là nấm độc và không giải thích vì sao Đức Phật biết rồi vẫn dùng. Kinh chỉ kể Ngài dặn chôn phần còn lại, chịu cơn bệnh trong chánh niệm, rồi dặn đừng để Cunda hối hận.

Tóm lại: Kinh Đại Bát Niết-bàn kể Đức Phật dùng bữa cơm do Cunda dâng, rồi lâm bệnh nặng và chịu đựng trong chánh niệm (DN 16, đoạn 4.20.1–4.20.2). Kinh không gọi món ăn là nấm độc và không giải thích vì sao Ngài biết mà vẫn dùng, nên người viết không suy diễn thêm về điều này.

Kinh kể gì về bữa cơm của Cunda

Kinh Đại Bát Niết-bàn, tức kinh thuộc Trường Bộ trong kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, kể rằng Cunda dâng Đức Phật một bữa cơm có món mà bản dịch của HT. Thích Minh Châu gọi là mộc nhĩ (tiếng Pāli: Sūkaramaddava). Đức Phật dặn Cunda chôn phần món còn lại (DN 16:4.19.2), vì Ngài nói không ai khác có thể tiêu hóa món ấy, trừ Như Lai, tức Đức Phật. “Này Cunda, Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm thiên giới, không một người nào trong chúng Sa-môn và chúng Bà-la-môn, giữa những Thiên, Nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai.” (DN 16:4.19.3; Pāli: Nāhaṁ taṁ, cunda, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yassa taṁ paribhuttaṁ sammā pariṇāmaṁ gaccheyya aññatra tathāgatassāti)

Kinh chỉ ghi lời dặn chôn phần còn lại và lý do Đức Phật nêu (DN 16:4.19.2–4.19.3); kinh không nói thêm gì về việc Ngài đã biết trước hay chưa. Kinh không nói Cunda có lỗi, cũng không nói món ăn bị bỏ độc hay có người hại Ngài. Người viết chỉ nêu điều kinh kể, không thêm chi tiết về món ăn.

Cơn bệnh sau bữa cơm và cách Đức Phật chịu đựng

Sau bữa cơm, Đức Phật bị bệnh nặng, đau đớn gần như đến chết. “Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh.” (DN 16:4.20.1–4.20.2; Pāli: Atha kho bhagavato cundassa kammāraputtassa bhattaṁ bhuttāvissa kharo ābādho uppajji, lohitapakkhandikā pabāḷhā vedanā vattanti māraṇantikā. Tā sudaṁ bhagavā sato sampajāno adhivāsesi avihaññamāno) Câu trích không mô tả thêm về nguyên nhân của cơn bệnh, mà chỉ nêu cách Ngài đối diện với cơn đau trong sự tỉnh giác.

Theo cách đọc của người viết, điểm kinh nhấn mạnh ở đây là thái độ chịu đựng, không phải việc truy tìm nguyên nhân của món ăn.

Lời dặn đừng để Cunda hối hận

Về sau, Đức Phật bảo Ānanda, vị đệ tử thị giả của Ngài, nói với Cunda những lời này để Cunda khỏi hối hận (DN 16:4.42.4): “Này Hiền giả, thật là công đức cho bạn, vì được Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ bạn cúng dường, và nhập diệt.” (DN 16:4.42.5–4.42.6; Pāli: tassa te, āvuso cunda, lābhā tassa te suladdhaṁ, yassa te tathāgato pacchimaṁ piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā parinibbuto)

Kinh còn nêu hai bữa ăn có quả báo lớn hơn các sự cúng dường ăn uống khác. “Hai bữa ăn này đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác.” (DN 16:4.42.11; Pāli: Ime dve piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā, ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā ca) Một bữa là bữa trước khi Đức Phật giác ngộ, bữa còn lại là bữa của Cunda (DN 16:4.42.10). Kinh không so sánh hai bữa ấy với nhau, chỉ nêu cả hai đều có quả báo lớn.

Một ví dụ đời thường

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chị Lan nấu một bữa cơm mời người thân trong nhà. Sau bữa ăn, một người bị đau bụng. Chị Lan tự trách, dù chị đã nấu bằng lòng tốt. Ví dụ này chỉ giúp bạn hình dung nỗi day dứt của người dâng cúng, không phải lời kinh.

Hỏi nhanh

Kinh có nói món ăn của Cunda là nấm độc không?

Kinh không nói như vậy. Kinh chỉ nêu tên món ăn theo bản dịch là mộc nhĩ và kể cơn bệnh khởi lên sau bữa cơm (DN 16, đoạn 4.20.1–4.20.2).

Vì sao Đức Phật biết mà vẫn dùng bữa cơm ấy?

Kinh không giải thích điều này. Người viết không suy diễn thêm, chỉ nêu điều kinh kể.

Cunda có lỗi trong việc này không?

Kinh không nói Cunda có lỗi. Đức Phật còn dặn đừng để Cunda hối hận (DN 16, đoạn 4.42.5–4.42.6).

Kinh nói gì về quả báo của bữa cơm ấy?

Kinh nêu bữa cơm của Cunda là một trong hai bữa có quả báo lớn hơn các sự cúng dường ăn uống khác. “Hai bữa ăn này đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác.” (DN 16:4.42.11; Pāli: Ime dve piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā, ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā ca)

Câu chốt: Kinh không gọi món ăn là nấm độc, và Đức Phật không để Cunda mang hối hận.

Biên soạn: Hoan Hỉ

Nguồn trích dẫn

  1. Trường Bộ 16, Kinh Đại Bát Niết-bàn (Mahāparinibbāna Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, DN 16 trên SuttaCentral; bản Pāli DN 16 Pāli.
  2. Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn. Ví dụ trong bài dùng nhân vật chị Lan, là ví dụ của người viết, không có trong kinh.

Bài kinh liên quan trên Hoan Hỉ

Đọc thêm