Đức Phật và các đệ tử

Những ngày cuối của Đức Phật: tuổi 80, bữa ăn của Cunda và lời dạy sau cùng

Mỗi mùa lễ Vesak, nhiều người gõ lên mạng những câu hỏi rất đời: Đức Phật mất năm bao nhiêu tuổi? Có thật Ngài biết món ăn có vấn đề mà vẫn dùng? Vì sao tượng Phật nằm luôn nghiêng bên phải? Kinh Đại Bát-niết-bàn (Dīgha Nikāya 16) kể lại những ngày ấy khá tỉ mỉ. Bài này đi theo đúng lời kinh, tách riêng phần nào là kinh, phần nào là chú giải.

Bản video của bài này, giọng đọc Việt Bách.
Tóm lại: Đức Phật tự nói “Ta nay đã tám mươi tuổi” (DN 16, 2.25). Bữa ăn cuối là món sūkaramaddava do ông thợ rèn Cunda dâng; Ngài dặn Cunda đem chôn phần còn lại vì “không thấy ai ngoài Như Lai có thể tiêu hóa được” (4.19). Sau bữa ấy Ngài bệnh nặng nhưng chịu đựng với chánh niệm (4.20), rồi dặn Tôn giả Ānanda xua tan nỗi ân hận của Cunda: bữa ăn ấy có phước lớn ngang bữa ăn trước đêm thành đạo (4.42). Ngài nằm nghiêng bên phải theo thế nằm sư tử giữa đôi cây sāla ở Kusinārā (5.1), và lời cuối là: “Các hành có tính hoại diệt. Hãy tinh cần, chớ phóng dật” (6.7).

Tám mươi tuổi: Ngài tự nói về tuổi già

Trong mùa an cư cuối cùng ở làng Beluva, Đức Phật lâm bệnh nặng. Khi khỏi bệnh, Ngài nói với Tôn giả Ānanda những lời rất thật về thân mình: “Ta nay đã già, đã lớn tuổi, đã đi đến cuối đời. Ta nay đã tám mươi tuổi” (Āsītiko me vayo vattati, DN 16, 2.25). Ngài ví thân mình như cỗ xe cũ phải buộc dây mới chạy được, và dạy các đệ tử hãy lấy chính mình và lấy Pháp làm hòn đảo, làm chỗ nương tựa. Bài “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi” có giải thích kỹ câu này.

Bữa ăn của ông thợ rèn Cunda

Đến thành Pāvā, Đức Phật nghỉ trong vườn xoài của Cunda, con nhà thợ rèn. Cunda nghe pháp, hoan hỷ, thỉnh Ngài và chư Tăng hôm sau đến nhà thọ trai. Sáng hôm ấy Cunda dọn nhiều món ngon, trong đó có món gọi là sūkaramaddava (4.17).

Kinh kể Đức Phật dặn Cunda chỉ dâng món ấy cho Ngài, còn chư Tăng dùng các món khác (4.18). Xong bữa, Ngài dặn: “Này Cunda, phần sūkaramaddava còn lại, hãy đem chôn xuống hố. Ta không thấy ai trong thế gian này, với chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, có thể dùng mà tiêu hóa được, ngoại trừ Như Lai” (4.19).

Sūkaramaddava là món gì? Chữ này ghép từ sūkara (heo) và maddava (mềm). Ngay từ thời chú giải đã có nhiều cách hiểu: Chú giải Trường Bộ hiểu là thịt heo mềm, và ghi thêm những ý kiến khác như một món cơm mềm hay một món thuốc bổ; Chú giải Phật Tự Thuyết còn ghi ý kiến cho là măng hay nấm mọc ở chỗ heo giẫm. Kinh không nói rõ, nên người học không cần khẳng định cách nào là chắc chắn.

Có phải Ngài biết món ăn có độc mà vẫn dùng?

Kinh không dùng chữ “độc”. Kinh chỉ ghi: sau khi dùng bữa của Cunda, Đức Phật mắc bệnh nặng, lỵ ra máu, đau đớn như sắp chết, “nhưng Ngài chịu đựng với chánh niệm, tỉnh giác, không bị khuất phục” (4.20). Rồi Ngài vẫn cùng Ānanda lên đường đi Kusinārā.

Điều đáng chú ý nhất lại là việc Ngài lo cho Cunda. Biết rằng sẽ có người trách Cunda: “Thật bất hạnh cho ông, vì Như Lai dùng bữa cuối của ông rồi nhập diệt”, Đức Phật dặn Ānanda đến nói với Cunda rằng: có hai bữa ăn có quả báo ngang nhau và lớn hơn mọi bữa ăn khác, đó là bữa ăn trước khi Như Lai thành Chánh giác và bữa ăn trước khi Như Lai nhập Niết-bàn không còn dư y; Cunda đã tạo nghiệp lành đưa đến tuổi thọ, dung sắc, an vui, danh tiếng, cõi trời (4.42).

Ngay trong cơn bệnh cuối đời, Đức Phật vẫn nghĩ đến nỗi day dứt của một người cư sĩ đã thành tâm dâng cơm. Đó là bài học về lòng từ: không để người có thiện ý phải mang mặc cảm.

Vì sao Đức Phật nằm nghiêng bên phải?

Đến rừng sāla của dòng Malla gần Kusinārā, Ngài bảo Ānanda: “Hãy trải chỗ nằm giữa đôi cây sāla, đầu hướng về phía bắc. Ta mệt, ta muốn nằm nghỉ.” Rồi Ngài “nằm nghiêng bên phải theo thế nằm sư tử, chân này đặt lên chân kia, chánh niệm, tỉnh giác” (5.1). Tượng Phật nằm mà người Việt thấy ở nhiều chùa là hình ảnh của giây phút ấy.

Thế nằm này không phải chỉ có lúc cuối đời. Kinh Tăng Chi Bộ 4.246 kể bốn cách nằm: người chết thường nằm ngửa, người ham dục thường nằm nghiêng bên trái, sư tử nằm nghiêng bên phải, chân đặt lên chân; và cách nằm của Như Lai là an trú trong các tầng thiền. Trong kinh Hữu Học (MN 53), Đức Phật cũng nằm theo thế sư tử, “chánh niệm, tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy”, và đó là cách các vị tỷ-kheo được dạy nằm nghỉ vào canh giữa của đêm.

Lời dạy sau cùng

Trước khi nhập diệt, Đức Phật hỏi chư Tăng đến ba lần: có ai còn nghi ngờ gì về Phật, Pháp, Tăng, về con đường không, hãy hỏi đi, để khỏi hối tiếc về sau. Không ai hỏi. Rồi Ngài nói lời cuối cùng: “Này các tỷ-kheo, nay Ta nhắc các con: các hành có tính hoại diệt. Hãy tinh cần, chớ phóng dật” (vayadhammā saṅkhārā, appamādena sampādethā, DN 16, 6.7).

Câu ấy gói lại cả đời giảng dạy: mọi pháp hữu vi đều vô thường, và vì thế mà phải không phóng dật ngay bây giờ.

Một gợi ý nhỏ

Lần tới khi đứng trước một pho tượng Phật nằm, bạn thử nhớ ba chi tiết: một ông già tám mươi tuổi vẫn đi bộ đến nơi cuối cùng; một lời nhắn gửi để người dâng cơm khỏi ân hận; và một câu dặn ngắn gọn: hãy tinh cần.

Hỏi nhanh

Đức Phật nhập diệt năm bao nhiêu tuổi?

Theo Kinh Đại Bát-niết-bàn (DN 16, 2.25), chính Đức Phật nói: “Ta nay đã tám mươi tuổi.” Ngài nhập Niết-bàn trong năm ấy, tại rừng sāla của dòng Malla gần Kusinārā.

Bữa ăn cuối cùng của Đức Phật là gì?

Là bữa thọ trai tại nhà ông thợ rèn Cunda ở Pāvā, có món sūkaramaddava (DN 16, 4.17–4.19). Nghĩa chính xác của chữ này đã được hiểu theo nhiều cách ngay từ thời chú giải: thịt heo mềm, một món cơm mềm, một món thuốc bổ, hay măng, nấm mọc ở chỗ heo giẫm. Kinh không nói món ăn có độc; kinh chỉ ghi bệnh nặng khởi lên sau bữa ăn.

Vì sao Đức Phật dặn Cunda chôn phần ăn còn lại?

Ngài nói không thấy ai ngoài Như Lai có thể dùng mà tiêu hóa được (DN 16, 4.19). Sau đó Ngài còn dặn Tôn giả Ānanda xua tan nỗi ân hận của Cunda, vì bữa ăn ấy có phước lớn ngang bữa ăn trước đêm thành đạo (4.42).

Vì sao tượng Phật nằm nghiêng bên phải?

Vì kinh ghi lúc cuối đời Đức Phật nằm nghiêng bên phải theo thế nằm sư tử, chân này đặt lên chân kia, chánh niệm, tỉnh giác (DN 16, 5.1). Kinh AN 4.246 giải thích đó là thế nằm của sư tử, khác với người chết nằm ngửa và người ham dục nằm nghiêng bên trái.

Lời cuối cùng của Đức Phật là gì?

“Các hành có tính hoại diệt. Hãy tinh cần, chớ phóng dật” (vayadhammā saṅkhārā, appamādena sampādethā, DN 16, 6.7).

Biên soạn: Hoan Hỉ

Nguồn trích dẫn

  1. Trường Bộ 16, Kinh Đại Bát-niết-bàn (Mahāparinibbāna Sutta), DN 16 trên SuttaCentral.
  2. Tăng Chi Bộ 4.246, Kinh Cách Nằm (Seyyā Sutta), AN 4.246 trên SuttaCentral.
  3. Trung Bộ 53, Kinh Hữu Học (Sekha Sutta), MN 53 trên SuttaCentral.
  4. Chú giải Trường Bộ (Sumaṅgalavilāsinī) và Chú giải Phật Tự Thuyết (Udāna-aṭṭhakathā), các cách hiểu chữ sūkaramaddava.
  5. Các đoạn trích do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện cùng chủ đề

Các tích truyện dưới đây cùng chủ đề với bài, kể theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh