Kinh Phật viết bằng tiếng gì? Vì sao không nên chấp vào chữ nghĩa
Kinh Phật mà bạn đọc hôm nay thuộc kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Tiếng Pāli là ngôn ngữ mà truyền thống Nam truyền dùng để gìn giữ lời kinh theo lịch sử, còn bản thân kinh không nói kinh viết bằng tiếng Pāli và không nêu tên Pāli.
Tiếng Pāli là ngôn ngữ gìn giữ kinh theo lịch sử
Tiếng Pāli, tức ngôn ngữ mà truyền thống Nam truyền dùng để gìn giữ lời kinh, là thứ tiếng mà các bản kinh Nam truyền được kết tập và ghi chép theo lịch sử. Điều này thuộc về lịch sử và chú giải, không phải lời kinh, vì bản thân kinh không nêu tên Pāli và không nói kinh viết bằng tiếng nào. Phân biệt hai tầng này giúp bạn khỏi nhầm một điều thuộc lịch sử thành lời Phật dạy. Bạn có thể đọc thêm bài viết về Tam tạng gồm những gì để biết kinh Nikāya nằm ở đâu trong toàn bộ tạng kinh.
Kinh Phân Biệt Vô Tránh (MN 139) dặn đừng chấp vào địa phương ngữ
Kinh nêu lời dặn về ngôn ngữ “Khi được nói đến: “Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng,” do duyên gì được nói đến như vậy?” (MN 139:12.1–12.2; Pāli: Janapadaniruttiṁ nābhiniveseyya, samaññaṁ nātidhāveyyāti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?). Kinh giải thích thế nào là chấp vào chữ “có người lại làm như vậy, kiên trì chấp thủ, chấp trước và nói: “Chỉ như vậy là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chấp trước địa phương ngữ, là đi quá xa ngôn ngữ thường dùng.” (MN 139:12.5–12.7; Pāli: Iti yathā yathā naṁ tesu tesu janapadesu sañjānanti tathā tathā thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati: idameva saccaṁ, moghamaññanti. Evaṁ kho, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca abhiniveso hoti samaññāya ca atisāro): người chấp chữ khăng khăng giữ một cách gọi và cho rằng ngoài cách ấy đều sai. Đọc lời dặn này như lời dặn về ngôn ngữ là theo cách đọc của người viết, vì kinh nói về địa phương ngữ và lối nói thường dùng, không nói riêng về tên một ngôn ngữ.
Kinh cũng nêu thái độ đúng với chữ nghĩa “Như vậy, như họ biết trong các quốc độ ấy, những chữ là như vậy, như vậy, một người không chấp thủ mà giải thích: “Các vị ấy y cứ như thế này, giải thích như vậy”. Như vậy, này các Tỷ-kheo là không chấp trước địa phương ngữ, không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng.” (MN 139:12.10–12.11; Pāli: Iti yathā yathā naṁ tesu tesu janapadesu sañjānanti idaṁ kira me āyasmanto sandhāya voharantīti tathā tathā voharati aparāmasaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca anabhiniveso hoti, samaññāya ca anatisāro): nói theo cách người ở xứ ấy hiểu, không chấp thủ vào một cách gọi. Theo cách đọc của người viết, thái độ ấy giúp người học kinh khỏi tranh cãi về chữ mà quên ý, vì ý mới là điều cần hiểu và làm theo.
Học kinh thì trọng ý hơn trọng chữ
Khi bạn đọc bản dịch tiếng Việt của kinh, bạn đang đọc ý kinh qua một ngôn ngữ khác, và điều quan trọng là hiểu đúng ý rồi làm theo. Việc học thêm tiếng Pāli có thể giúp bạn đến gần bản kinh được gìn giữ hơn, nhưng theo cách đọc của người viết, kinh không đặt việc biết tiếng Pāli thành điều kiện để hiểu pháp, và không nên dùng tên ngôn ngữ để phân biệt ai học đúng ai học sai.
Hỏi nhanh
Kinh Phật viết bằng tiếng gì?
Kinh Nam truyền được gìn giữ bằng tiếng Pāli theo lịch sử, còn bản thân kinh không nêu tên ngôn ngữ nào. Hai tầng này cần phân biệt, để khỏi nhầm lịch sử với lời kinh.
Pāli là gì?
Tiếng Pāli là ngôn ngữ mà truyền thống Nam truyền dùng để gìn giữ lời kinh theo lịch sử, không phải tên một bộ kinh riêng.
Đức Phật nói tiếng gì?
Kinh không nêu tên ngôn ngữ Đức Phật dùng, nên bài viết không khẳng định điều kinh không nói. Điều kinh dặn rõ là đừng chấp vào chữ nghĩa của một địa phương (MN 139, đoạn 12.1–12.2).
Học Pāli có bắt buộc không?
Không. Kinh không đặt việc biết Pāli thành điều kiện để hiểu pháp, và thái độ đúng với chữ nghĩa là hiểu ý người nói, không chấp thủ một cách gọi (MN 139, đoạn 12.10–12.11).
Câu chốt: Pāli là ngôn ngữ gìn giữ kinh theo lịch sử, còn điều kinh dạy là hiểu đúng ý và đừng chấp vào chữ.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Trung Bộ 139, Kinh Phân Biệt Vô Tránh (Araṇavibhaṅga Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, MN 139 trên SuttaCentral; bản Pāli MN 139 Pāli.
- Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn.