Tam quy và năm giới bằng tiếng Pāli: bản đọc theo, phiên âm và nghĩa
Trong các buổi lễ ở chùa Nam tông, Phật tử thường xin thọ Tam quy và năm giới bằng tiếng Pāli, đọc theo vị sư từng câu. Bài này chép lại bản đọc theo, kèm cách đọc gần đúng và nghĩa tiếng Việt, để bạn hiểu mình đang phát nguyện điều gì.
Cách đọc dưới đây là gần đúng cho người Việt: chữ có gạch trên (ā, ī, ū) đọc dài, ṁ đọc như “ng”, c đọc như “ch”, s đọc như “x”, bh, dh đọc bật hơi. Trong phần đọc dưới đây, nguyên âm dài viết hai lần (aa, ii, uu) và chữ ʰ nhỏ là dấu bật hơi (bʰ, đʰ, gʰ, kʰ, chʰ), cùng lối ghi với bài Tiếng Pāli là gì. Mỗi chùa có giọng đọc hơi khác; khi tụng chung, bạn theo chùa mình.
Lời thỉnh Tam quy và năm giới (truyền thống)
- Mayaṁ, bhante, visuṁ visuṁ rakkhaṇatthāya tisaraṇena saha pañca sīlāni yācāma.
Đọc: Ma-dăng, bʰan-tê, vi-xung vi-xung rác-kʰa-nát-thaa-da, ti-xa-ra-nê-na xa-ha pan-cha xii-laa-ni daa-chaa-ma.
Nghĩa: Bạch Ngài, chúng con xin thọ năm giới cùng với Tam quy, để mỗi người tự giữ gìn.
Câu này đọc ba lần, lần hai thêm Dutiyampi (lần thứ hai), lần ba thêm Tatiyampi (lần thứ ba) ở đầu câu. Nếu chỉ một người xin giới, đổi Mayaṁ thành Ahaṁ và yācāma thành yācāmi. Lời thỉnh này là nghi thức truyền thống, không có trong kinh.
Kính lễ
- Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa. (ba lần)
Đọc: Na-mô tát-xa Bʰa-ga-va-tô A-ra-ha-tô Xăm-maa-xăm-bút-đʰát-xa.
Nghĩa: Con xin đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác (Khp 1, đoạn 1.1). Bài Namo tassa nghĩa là gì giải nghĩa từng chữ.
Tam quy (Tiểu Tụng 1)
- Buddhaṁ saraṇaṁ gacchāmi. Đọc: Bút-đʰăng xa-ra-năng gác-chʰaa-mi. Nghĩa: Con xin quy y Phật.
- Dhammaṁ saraṇaṁ gacchāmi. Đọc: Đʰăm-măng xa-ra-năng gác-chʰaa-mi. Nghĩa: Con xin quy y Pháp.
- Saṅghaṁ saraṇaṁ gacchāmi. Đọc: Xăng-gʰăng xa-ra-năng gác-chʰaa-mi. Nghĩa: Con xin quy y Tăng.
Lượt thứ hai, mỗi câu thêm Dutiyampi (Đu-ti-dăm-pi, “lần thứ hai”); lượt thứ ba thêm Tatiyampi (Ta-ti-dăm-pi, “lần thứ ba”). Cả ba lượt có nguyên văn trong Tiểu Tụng 1, đoạn 2.1–4.3. Chữ saraṇa là nơi nương tựa; gacchāmi là “con đi đến”. Quy y là đi đến nương tựa, không phải xin một đấng nào che chở. Bài Tam Bảo và quy y nói rõ hơn.
Năm giới
- Pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṁ samādiyāmi.
Đọc: Paa-naa-ti-paa-taa vê-ra-ma-nii xích-kʰaa-pa-đăng xa-maa-đi-daa-mi.
Nghĩa: Con xin thọ trì điều học tránh xa sát sinh. - Adinnādānā veramaṇī sikkhāpadaṁ samādiyāmi.
Đọc: A-đin-naa-đaa-naa vê-ra-ma-nii…
Nghĩa: Con xin thọ trì điều học tránh xa lấy của không cho. - Kāmesumicchācārā veramaṇī sikkhāpadaṁ samādiyāmi.
Đọc: Caa-mê-xu-mích-chʰaa-chaa-raa vê-ra-ma-nii…
Nghĩa: Con xin thọ trì điều học tránh xa tà hạnh trong các dục. - Musāvādā veramaṇī sikkhāpadaṁ samādiyāmi.
Đọc: Mu-xaa-vaa-đaa vê-ra-ma-nii…
Nghĩa: Con xin thọ trì điều học tránh xa nói dối. - Surāmerayamajjapamādaṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṁ samādiyāmi.
Đọc: Xu-raa-mê-ra-da-mát-cha-pa-maa-đát-thaa-naa vê-ra-ma-nii…
Nghĩa: Con xin thọ trì điều học tránh xa rượu men, rượu nấu và các chất say là nền tảng của sự phóng dật.
Ba chữ lặp lại trong mỗi câu: veramaṇī là sự tránh xa; sikkhāpada là điều học; samādiyāmi là “con xin thọ trì”. Câu chữ này là công thức truyền thống; mẫu “… veramaṇī sikkhāpadaṁ samādiyāmi” giống mười giới Sa-di trong Tiểu Tụng 2 (bản Pāli Mahāsaṅgīti viết liền thành veramaṇisikkhāpadaṁ; khi tụng, các chùa thường đọc tách và kéo dài chữ ī). Nội dung từng giới thì có trong kinh: Tăng Chi Bộ 8.39 kể đủ năm điều tránh xa (đoạn 3.5, 4.1, 5.1, 6.1, 7.1) và nói về mỗi điều:
Này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh, đem cho không sợ hãi cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hận thù cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hại cho vô lượng chúng sanh; sau khi cho vô lượng chúng sanh, không sợ hãi, không hận thù, không hại, vị ấy sẽ được san sẻ vô lượng không sợ hãi, không hận thù, không hại.
Tăng Chi Bộ 8.39, đoạn 3.6
Câu kết (truyền thống)
Sau khi thọ giới, nhiều chùa đọc bài kệ: Sīlena sugatiṁ yanti, sīlena bhogasampadā, sīlena nibbutiṁ yanti, tasmā sīlaṁ visodhaye. Nghĩa: nhờ giới mà đi đến cõi lành, nhờ giới mà có đủ tài sản, nhờ giới mà đạt đến tịch tịnh; vì thế hãy giữ giới cho trong sạch. Đây là kệ truyền thống, không phải trích từ một bài kinh cụ thể.
Một gợi ý nhỏ
Thử hình dung mỗi sáng, trước khi rời nhà, bạn đọc Tam quy và năm giới một lần, mất chừng hai phút. Không ai bắt buộc, nhưng hai phút ấy nhắc bạn rằng hôm nay mình đã hứa sẽ không làm ai sợ hãi. Bạn có thể bắt đầu bằng Tam quy trong tuần đầu, rồi thêm năm giới khi đã thuộc. Bài Ngũ giới là gì giải thích ý nghĩa từng giới.
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Tiểu Tụng 1, Tam Quy (Saraṇattaya), Khp 1 trên SuttaCentral.
- Tiểu Tụng 2, Mười Học Giới (Dasasikkhāpada), Khp 2 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 8.39, Kinh Nguồn Phước, AN 8.39 trên SuttaCentral.
- Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.