Tam tạng gồm những gì, và Nikāya với A-hàm liên hệ ra sao
Người mới tìm hiểu đạo Phật hay nghe chữ “Tam tạng”, “Nikāya”, “A-hàm” mà không rõ chúng là gì và liên hệ với nhau thế nào. Bài này vẽ một tấm bản đồ đơn giản, để bạn biết mình đang đọc phần nào của kho kinh điển.
Vì sao gọi là “ba giỏ”
Chữ piṭaka nghĩa đen là cái giỏ, vật đựng để trao từ tay người này sang tay người khác, như lời Phật được truyền qua nhiều thế hệ.
Trước khi nhập diệt, Đức Thế Tôn dặn Ngài A-nan (Ānanda):
Này Ānanda, Pháp và Luật, Ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi Ta diệt độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là Đạo Sư của các Ngươi.
Trường Bộ 16, đoạn 6.1.5
“Pháp và Luật” là cách kinh gọi toàn bộ lời dạy. Khi được kết tập và sắp xếp về sau, lời dạy ấy được chia thành ba tạng. Bài Kinh tạng được gìn giữ thế nào kể lại các lần kết tập và việc chép kinh thành sách ở Sri Lanka.
Tạng Luật (Vinaya Piṭaka)
Tạng Luật ghi các điều học của Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni và câu chuyện vì sao mỗi điều được chế. Tạng này có ba phần: Phân Tích Giới (Suttavibhaṅga), giải thích từng điều trong giới bổn, với 227 điều học của Tỷ-kheo; Hợp Phần (Khandhaka), gồm Đại Phẩm và Tiểu Phẩm, nói về thọ giới, an cư, lễ Kathina, cách giải quyết tranh chấp trong Tăng chúng; và Tập Yếu (Parivāra), phần tóm lược theo lối hỏi đáp. Điều học quen thuộc nhất với người đi chùa là không ăn sau giờ ngọ.
Tạng Kinh (Sutta Piṭaka): năm bộ Nikāya
- Trường Bộ (Dīgha Nikāya, DN): 34 bài kinh dài, như Kinh Phạm Võng (DN 1), Kinh Đại Bát-niết-bàn (DN 16), Kinh Thi-ca-la-việt (DN 31).
- Trung Bộ (Majjhima Nikāya, MN): 152 bài kinh độ dài vừa phải, như Kinh Niệm Xứ (MN 10).
- Tương Ưng Bộ (Saṁyutta Nikāya, SN): các kinh ngắn xếp thành 56 nhóm theo chủ đề. Kinh Chuyển Pháp Luân là SN 56.11.
- Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Nikāya, AN): các kinh xếp theo số, từ chương Một pháp đến chương Mười một pháp, như Kinh Kālāma (AN 3.65).
- Tiểu Bộ (Khuddaka Nikāya, KN): nhiều tập thuộc nhiều thể loại, như Tiểu Tụng, Pháp Cú, Kinh Tập, Trưởng Lão Tăng Kệ, Chuyện Tiền Thân. Số tập được kể khác nhau tùy truyền thống: cách kể phổ biến là 15 tập; bản Miến Điện của lần kết tập thứ sáu đưa thêm Milindapañha, Nettippakaraṇa và Peṭakopadesa vào, thành 18 tập.
Tạng Luận (Abhidhamma Piṭaka)
Tạng thứ ba gồm bảy bộ, phân tích các pháp thành những yếu tố nhỏ nhất và quan hệ duyên giữa chúng. Bài Tạng Luận là gì giới thiệu từng bộ. Phật giáo Bắc tông cũng có một hệ A-tì-đạt-ma, nhưng là của các bộ phái khác, chủ yếu là Nhất Thiết Hữu bộ (Sarvāstivāda), và nội dung khác với bảy bộ Pāli.
Nikāya và A-hàm: hai dòng cùng một nguồn
Chữ Āgama (A-hàm) có nghĩa là “điều được truyền lại”. Hán tạng có bốn bộ: Trường A-hàm (Dīrghāgama), Trung A-hàm (Madhyamāgama), Tạp A-hàm (Saṃyuktāgama) và Tăng Nhất A-hàm (Ekottarikāgama), được dịch sang Hán văn trong khoảng cuối thế kỷ 4 đến giữa thế kỷ 5. Bốn bộ này không cùng một bộ phái. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu hiện đại, đây là ý kiến học thuật chứ không phải điều kinh văn tự ghi, Trường A-hàm thường được gắn với Pháp Tạng bộ (Dharmaguptaka), Trung A-hàm với Nhất Thiết Hữu bộ, Tạp A-hàm với Nhất Thiết Hữu bộ hoặc Căn Bản Nhất Thiết Hữu bộ, còn Tăng Nhất A-hàm thì các học giả chưa thống nhất.
Đặt cạnh nhau, rất nhiều bài có bản song song. Kinh Chuyển Pháp Luân (SN 56.11) có bản tương ứng trong Tạp A-hàm (SĀ 379); Kinh Niệm Xứ (MN 10) có bản tương ứng trong Trung A-hàm (MĀ 98). Thứ tự, số lượng bài và nhiều chi tiết khác nhau, nhưng những điều cốt lõi như Bốn Thánh đế, Bát chánh đạo, duyên khởi, ba đặc tướng thì trùng hợp. Sự trùng hợp giữa hai dòng truyền thừa tách nhau từ rất sớm là bằng chứng quý về những gì được giữ từ thời gần Đức Phật. Tiểu Bộ thì không có bộ A-hàm tương ứng trọn vẹn, dù một số phần như Pháp Cú có bản Hán dịch riêng.
Về Luật, Tăng Ni Bắc tông ở Việt Nam và Đông Á thọ giới theo Tứ Phần Luật của Pháp Tạng bộ, với 250 giới Tỷ-kheo; Tăng Nam truyền theo Luật Pāli với 227 điều. Phần lớn hai bộ luật giống nhau; chỗ chênh lệch chủ yếu nằm ở nhóm điều học về oai nghi. Ngoài A-hàm, Bắc tông còn tụng đọc các kinh Đại thừa như Bát-nhã, Pháp Hoa, là phần không có trong Tam tạng Pāli. Nói vậy để thấy phạm vi của mỗi kho kinh, không để so hơn kém; người Phật tử Việt may mắn được gần cả hai truyền thống.
Bắt đầu đọc từ đâu
Thử hình dung bạn có mỗi tối hai mươi phút trong một tuần. Bạn có thể đọc phẩm Song Yếu của Pháp Cú trong hai tối, Kinh Thi-ca-la-việt trong hai tối, và dành ba tối cuối cho Kinh Chuyển Pháp Luân. Một tuần như vậy cho bạn ba mặt của Tạng Kinh: lời kệ để nhớ, lời dạy cho gia đình, và giáo lý nền tảng.
Một gợi ý nhỏ
Mỗi khi đọc một bài kinh, bạn thử ghi mã số của nó (như SN 56.11) bên cạnh câu mình thích. Dần dần, bạn sẽ tự nhận ra mình đang đứng ở đâu trong “ba giỏ”, và lời Phật không còn là một khối mênh mông xa lạ.
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Trường Bộ 16, Kinh Đại Bát-niết-bàn (Mahāparinibbāna Sutta), DN 16 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 10, Kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta), MN 10 trên SuttaCentral; bản tương ứng trong Hán tạng: Trung A-hàm 98 (MĀ 98).
- Tương Ưng Bộ 56.11, Kinh Chuyển Pháp Luân, SN 56.11 trên SuttaCentral; bản tương ứng trong Hán tạng: Tạp A-hàm 379 (SĀ 379).
- Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.