Năm triền cái: năm thứ làm vẩn đục bát nước tâm, và cách lắng trong
Ai từng ngồi thiền đều gặp chúng: lúc thì nghĩ đến món ngon, lúc thì bực một người, lúc buồn ngủ, lúc bồn chồn, lúc nghi ngờ chẳng biết mình có đang làm đúng. Đức Phật gọi chung là năm triền cái, và Ngài chỉ cách nhận ra từng thứ.
Năm thứ che lấp tâm
Chữ nīvaraṇa nghĩa là cái che, cái chắn. Năm triền cái gồm: dục tham (kāmacchanda), sân hận (byāpāda), hôn trầm thụy miên (thinamiddha), trạo cử hối hận (uddhaccakukkucca), hoài nghi (vicikicchā). Chúng không phải là tội, mà là những trạng thái làm tâm mờ đi, khiến ta không thấy đúng điều đang xảy ra.
Năm bát nước
Bà-la-môn Saṅgārava hỏi Đức Phật: vì sao có lúc những bài tụng đã thuộc lâu cũng không nhớ ra? (Người tụng kinh hằng ngày hẳn sẽ thấy câu hỏi này quen thuộc; xem bài Tụng kinh mỗi ngày.) Đức Phật trả lời bằng năm hình ảnh. Với dục tham:
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trộn lẫn với thuốc nhuộm gôm lắc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh, hay màu vàng, và ở đây một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, không có thể như thật biết được, thấy được.
Tương Ưng Bộ 46.55, đoạn 4.1–4.2
Sân hận như bát nước bị đun sôi sùng sục; hôn trầm như bát nước bị rêu và rong phủ kín; trạo cử hối hận như bát nước bị gió khuấy gợn sóng; hoài nghi như bát nước đục ngầu, để trong bóng tối (SN 46.55, đoạn 6.1, 8.1, 10.1, 12.1). Hậu quả được nói rõ: lúc ấy người ta “không biết, không thấy như thật điều lợi ích cho mình, cho người, cho cả hai” (đoạn 3.1). Khi tâm không bị che, như bát nước trong, đặt ra chỗ sáng, ta thấy rõ (đoạn 22.1–22.3).
Kinh Niệm Xứ: biết rõ từng triền cái
Trong phần quán pháp, Kinh Niệm Xứ dạy:
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nội tâm có ái dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi có ái dục”; hay nội tâm không có ái dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có ái dục”. Và với ái dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Trung Bộ 10, đoạn 36.4
Bốn triền cái còn lại được quán đúng như vậy (MN 10, đoạn 36.5–36.8). Điều đáng chú ý là kinh không bảo đè nén. Bước đầu tiên chỉ là biết rõ: có hay không có. Chỉ cần gọi đúng tên “đây là bực bội”, tâm đã đứng ra ngoài cơn bực một chút.
Nuôi và bỏ đói
Tương Ưng Bộ 46.51 dùng hình ảnh thức ăn. Mỗi triền cái có “thức ăn” nuôi nó, và có cách bỏ đói nó. Thức ăn của dục tham là để tâm lặp đi lặp lại một cách không khéo vào tướng đẹp; của sân là tướng đối nghịch; của hôn trầm là sự chán nản, uể oải, ngáp dài, đờ đẫn sau bữa ăn; của trạo cử là tâm không lắng dịu; của hoài nghi là những điều gây nghi ngờ (SN 46.51, đoạn 1.4–5.4). Còn cách bỏ đói:
- Dục tham: chú tâm khéo léo vào tướng bất tịnh (đoạn 13.2).
- Sân hận: tâm từ giải thoát (đoạn 14.2). Kinh Từ Bi là bài tập rất hợp.
- Hôn trầm: các yếu tố khởi sự, nỗ lực, tinh cần (đoạn 15.2).
- Trạo cử hối hận: sự lắng dịu của tâm (đoạn 16.2); theo dõi hơi thở như trong Kinh Nhập Tức Xuất Tức giúp tâm lắng.
- Hoài nghi: chú tâm khéo léo để phân biệt các pháp thiện và bất thiện, đáng chê và không đáng chê (đoạn 17.2).
Trong Kinh Sa-môn Quả, Đức Phật ví người còn năm triền cái như người mắc nợ, người bệnh, người bị tù, người nô lệ, người đi qua sa mạc; khi bỏ được chúng thì như hết nợ, khỏi bệnh, ra tù, được tự do, đến nơi an ổn (DN 2, đoạn 74.1–74.3). Từ đó hân hoan, hỷ, an tịnh và định sinh khởi (đoạn 74.4).
Một ví dụ trong buổi ngồi thiền
Thử hình dung bạn ngồi thiền tối nay sau một cuộc họp căng thẳng. Năm phút đầu, câu nói của đồng nghiệp cứ lặp lại trong đầu. Bạn nhận ra: “Có sân.” Bạn không cãi lại trong đầu nữa, mà thử khởi một ý nghĩ thiện: người ấy cũng đang chịu áp lực. Mười phút sau, mắt bắt đầu díp lại. “Có hôn trầm.” Bạn ngồi thẳng lưng, mở mắt nhìn xuống, thở sâu vài hơi. Rồi một ý nghĩ chen vào: “Ngồi thế này có ích gì?” “Có hoài nghi.” Bạn nhớ lại những lúc tâm đã nhẹ hơn nhờ ngồi yên. Mỗi lần gọi đúng tên là một lần nước trong lại một chút.
Một gợi ý nhỏ
Trong tuần này, mỗi lần ngồi thiền hay chỉ ngồi yên năm phút, bạn thử ghi lại triền cái nào ghé thăm nhiều nhất. Đừng chấm điểm mình. Chỉ cần biết rõ, như Kinh Niệm Xứ dạy. Rồi chọn một cách bỏ đói phù hợp từ danh sách trên và thử nó. Bài Bảy giác chi nói về mặt tích cực: những gì cần nuôi lớn khi triền cái lắng xuống.
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 46.55, Kinh Saṅgārava, SN 46.55 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 10, Kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta), MN 10 trên SuttaCentral.
- Tương Ưng Bộ 46.51, Kinh Thức Ăn (Āhāra Sutta), SN 46.51 trên SuttaCentral.
- Trường Bộ 2, Kinh Sa-môn Quả (Sāmaññaphala Sutta), DN 2 trên SuttaCentral.
- Kinh Tập 1.8, Kinh Từ Bi, Snp 1.8 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 118, Kinh Nhập Tức Xuất Tức, MN 118 trên SuttaCentral.
- Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.